Moubarak "Mbark" Boussoufa (tiếng Ả Rập: مُبارك بوصوفة; sinh ngày 15 tháng 8 năm 1984) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp từng thi đấu ở vị trí tiền vệ tấn công hoặc tiền vệ cánh. Ông giành Chiếc giày vàng Bỉ vào các năm 2006, 2009 và 2010.[3] Sinh ra tại Hà Lan, ông thi đấu cho đội tuyển quốc gia Maroc từ năm 2006 đến năm 2019, có 70 lần ra sân và ghi tám bàn thắng.

Mbark Boussoufa
Tập tin:Iran-Morocco by soccer.ru 31 (cropped).jpg
Boussoufa với Maroc năm 2018
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Mbark Boussoufa[1]
Ngày sinh 15 tháng 8, 1984 (41 tuổi)
Nơi sinh Amsterdam, Hà Lan
Chiều cao 1,67 m[2]
Vị trí Tiền vệ tấn công, tiền vệ cánh
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
1994–1995 Middenmeer
1995–1996 Fortius
1996–2001 Ajax
2001–2004 Chelsea
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2004–2006 Gent 59 (14)
2006–2011 Anderlecht 137 (43)
2011–2013 Anzhi Makhachkala 55 (8)
2013–2016 Lokomotiv Moskva 39 (3)
2016Gent (mượn) 5 (2)
2016–2018 Al Jazira 37 (7)
2019 Al-Shabab 13 (1)
2019–2020 Al-Sailiya 15 (3)
Tổng cộng 360 (81)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
2006–2019 Maroc 70 (8)
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia

Sự nghiệp câu lạc bộ

Tập tin:Loco-Dinamo (3).jpg
Boussoufa trong màu áo Lokomotiv Moskva năm 2014

Boussoufa bắt đầu tại học viện trẻ của Ajax trước khi gia nhập Chelsea F.C. Ông trải qua mùa giải 2005–06 cùng K.A.A. Gent, giành một số giải thưởng vào năm 2006: Chiếc giày vàng Bỉ, Cầu thủ bóng đá Bỉ xuất sắc nhất năm, Cầu thủ trẻ Bỉ xuất sắc nhất nămBelgian Ebony Shoe.

Tháng 6 năm 2006, Boussoufa ký hợp đồng bốn năm với R.S.C. Anderlecht sau thương vụ chuyển nhượng trị giá 3,5 triệu euro.[4] Trong mùa giải đầu tiên, ông thường xuyên góp mặt trong đội hình giành chức vô địch. Ông trở thành cầu thủ chủ chốt của đội bóng lần lượt kết thúc ở vị trí thứ hai trong các mùa giải 2007–082008–09. Boussoufa được vinh danh là Cầu thủ bóng đá Bỉ xuất sắc nhất năm lần thứ hai sau mùa giải 2008–09, mùa giải mà Anderlecht suýt giành chức vô địch nhưng để thua Standard de Liège trong trận play-off tranh chức vô địch. Ở mùa giải tiếp theo, ông ghi 14 bàn thắng và có 24 pha kiến tạo, qua đó trở thành cầu thủ giá trị nhất trong đội hình Anderlecht vô địch. Ông được vinh danh là Cầu thủ bóng đá Bỉ xuất sắc nhất năm lần thứ hai liên tiếp và lần thứ ba trong sự nghiệp. Sau mùa giải, ông gia hạn hợp đồng với mức lương tăng đáng kể, trở thành cầu thủ được trả lương cao nhất tại Bỉ.[5] Ông giành Chiếc giày vàng Bỉ lần thứ hai vào năm 2010.[3]

Tháng 3 năm 2011, câu lạc bộ Nga FC Terek Grozny thông báo chiêu mộ ông,[6] nhưng thương vụ đổ vỡ ba ngày sau đó. Thay vào đó, Boussoufa ký hợp đồng với một đội bóng Nga khác là Anzhi Makhachkala.[7]

Boussoufa ký hợp đồng ba năm với F.K. Lokomotiv Moskva vào tháng 8 năm 2013.[8] Cùng Lokomotiv, ông giành Cúp quốc gia Nga 2015, ghi bàn thắng thứ hai khi đội đánh bại Kuban Krasnodar 3–1 sau hiệp phụ trong trận chung kết.[9] Ông trở lại K.A.A. Gent theo dạng cho mượn vào tháng 2 năm 2016.[10]

Tháng 7 năm 2016, Boussoufa ký hợp đồng hai năm với câu lạc bộ UAE Al Jazira.[11] Ông có 16 lần ra sân và ghi ba bàn khi Al-Jazira giành chức vô địch Giải bóng đá chuyên nghiệp Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất 2016–17.[12][13]

Ngày 3 tháng 1 năm 2019, Boussoufa ký hợp đồng đến hết mùa giải với câu lạc bộ Ả Rập Xê Út Al-Shabab.[14]

Sự nghiệp quốc tế

Đủ điều kiện thi đấu cho cả MarocHà Lan, Boussoufa chọn đại diện cho Maroc và ra mắt đội tuyển quốc gia trong trận gặp Hoa Kỳ vào ngày 23 tháng 5 năm 2006.

Boussoufa từng đại diện cho Maroc tại các kỳ Cúp bóng đá châu Phi vào các năm 2012, 20172019.

Tháng 5 năm 2018, ông có tên trong đội hình 23 cầu thủ Maroc tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 tại Nga, nơi ông đá chính trong cả ba trận của đội.[15]

Ngày 5 tháng 7 năm 2019, Boussoufa tuyên bố giã từ đội tuyển quốc gia sau khi Maroc thua Bénin ở vòng 16 đội với tỉ số 1–4 trên chấm luân lưu, sau trận hòa 1–1, tại Cúp bóng đá châu Phi.[16]

Thống kê sự nghiệp

Câu lạc bộ

Số lần ra sân và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp Châu lục Khác Tổng cộng
Hạng đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Gent 2004–05 Giải bóng đá vô địch quốc gia Bỉ 29 5 3 0 32 5
2005–06 28 9 4 1 6 1 38 11
2006–07 2 0 0 0 2 0 4 0
Tổng cộng 59 14 7 1 8 1 0 0 74 16
Anderlecht 2006–07 Giải bóng đá vô địch quốc gia Bỉ 33 8 7 2 6 0 46 10
2007–08 22 5 7 3 6 0 35 8
2008–09 33 11 2 0 2 0 2 0 39 11
2009–10 26 9 4 1 13 3 10 5 53 18
2010–11 23 10 3 0 9 1 35 11
Tổng cộng 137 43 23 6 36 4 12 5 208 58
Anzhi 2011–12[17][18] Giải bóng đá Ngoại hạng Nga 25 4 1 0 0 0 13 3 39 7
2012–13[17] 26 4 4 0 14 2 44 6
2013–14[17] 4 0 0 0 0 0 4 0
Tổng cộng 55 8 5 0 14 2 13 3 87 13
Lokomotiv Moskva 2013–14[17] Giải bóng đá Ngoại hạng Nga 21 2 0 0 0 0 21 2
2014–15[17] 17 1 3 3 1 0 21 4
2015–16[17] 1 0 0 0 0 0 1 0
Tổng cộng 39 3 3 3 1 0 0 0 43 6
Gent 2015–16[18] Belgian Pro League 5 2 0 0 6 0 0 0 11 2
Al Jazira 2016–17[17] UAE Pro-League 21 4 3 3 4 1 1[a] 0 29 8
2017–18[17] 16 3 3 0 7 0 5[b] 0 31 3
Tổng cộng 37 7 6 3 11 1 6 0 60 11
Al-Shabab 2018–19[17] Saudi Pro League 13 1 1 0 0 0 0 0 14 1
Al-Sailiya 2019–20[17] Giải bóng đá các ngôi sao Qatar 15 3 1 0 0 0 16 3
Tổng cộng sự nghiệp 360 81 45 13 77 8 31 8 512 110
  1. ^ Lần ra sân ở UAE Super Cup
  2. ^ Một lần ra sân ở UAE Super Cup, bốn lần ra sân ở Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ

Quốc tế

Số lần ra sân và bàn thắng theo đội tuyển quốc gia và năm[19]
Đội tuyển quốc gia Năm Số trận Bàn thắng
Maroc 2006 5 1
2007 2 0
2008 3 0
2009 5 0
2010 3 0
2011 7 3
2012 5 1
2013 0 0
2014 5 1
2015 1 0
2016 6 0
2017 13 1
2018 8 0
2019 7 1
Tổng cộng 70 8
Tỷ số và kết quả liệt kê bàn thắng của Maroc trước, cột tỷ số biểu thị tỷ số sau mỗi bàn thắng của Boussoufa.
Danh sách bàn thắng quốc tế được ghi bởi Mbark Boussoufa
Thứ tự Ngày Địa điểm Đối thủ Tỷ số Kết quả Giải đấu
1 2 tháng 9 năm 2006 Sân vận động Moulay Abdellah, Rabat, Maroc Tập tin:Flag of Malawi.svg Malawi 2–0 2–0 Vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 2008
2 9 tháng 2 năm 2011 Marrakesh, Marrakesh, Maroc   Niger 1–0 3–0 Giao hữu
3 2–0
4 9 tháng 10 năm 2011 Sân vận động Marrakesh, Marrakesh, Maroc   Tanzania 3–1 3–1 Vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 2012
5 29 tháng 2 năm 2012 Sân vận động Marrakesh, Marrakesh, Maroc   Burkina Faso 1–0 2–0 Giao hữu
6 13 tháng 10 năm 2014 Sân vận động Marrakesh, Marrakesh, Maroc   Kenya 2–0 3–0 Giao hữu
7 31 tháng 5 năm 2017 Sân vận động Adrar, Agadir, Maroc   Hà Lan 1–2 1–2 Giao hữu
8 1 tháng 7 năm 2019 Sân vận động Al Salam, Cairo, Ai Cập   Nam Phi 1–0 1–0 2019 Africa Cup of Nations

Danh hiệu

Anderlecht[20]

Anzhi Makhachkala

Lokomotiv Moskva

Al Jazira

Cá nhân

Tham khảo

  1. ^ "FIFA Club World Cup UAE 2017: List of Players: Al Jazira" (PDF). FIFA. ngày 29 tháng 11 năm 2017. tr. 1. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2017.
  2. ^ "2018 FIFA World Cup Russia – List of Players" (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 4 tháng 6 năm 2018. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018.
  3. ^ a b "Mbark Boussoufa wins Golden Shoe 2010" Lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2011 tại Wayback Machine (Dutch), Sporza, 19 tháng 1 năm 2011
  4. ^ "Boussoufa finalises switch to Anderlecht" Bản mẫu:Đội hình webarchive by Fahd Chafik, Maroc Times, 7 tháng 6 năm 2006, retrieved 11 tháng 6 năm 2006
  5. ^ "Boussoufa: Did Herman drink too much champagne?" (Dutch), Sporza, 27 tháng 4 năm 2010
  6. ^ Мбарк Буссуфа перешел в "Терек". (bằng tiếng Nga). FC Terek Grozny. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2011.
  7. ^ "Boussoufa moves to Anzhi, not to Grozny" (bằng tiếng Hà Lan). sporza.be. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2011.
  8. ^ "Mbark Boussoufa in Loko!" (bằng tiếng Nga). fclm.ru. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2013.
  9. ^ uefa.com (ngày 21 tháng 5 năm 2015). "Member associations - Russia - News – UEFA.com". UEFA (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018.
  10. ^ "Welcome back Mbark!" (bằng tiếng Hà Lan). K.A.A. Gent. ngày 2 tháng 2 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2016.
  11. ^ Ten Cate krijgt bij Al-Jazira beschikking over Boussoufa - Voetbal International (bằng tiếng Hà Lan)
  12. ^ Studios, XS. "Stats - Arabian Gulf League - Giải bóng đá chuyên nghiệp Các tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Committee". uae.agleague.ae (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018.[liên kết hỏng]
  13. ^ Studios, XS. "Giải bóng đá chuyên nghiệp Các tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Committee". uae.agleague.ae (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018.
  14. ^ "Moroccan international footballer Mbark Boussoufa joins Saudi club Al Shabab". yabiladi.com. ngày 4 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2019.
  15. ^ Gleeson, Mark (ngày 17 tháng 5 năm 2018). "Boufal left out by Morocco after Southampton fallout". Reuters. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2019.
  16. ^ Bản mẫu:Chú thích báo 2019
  17. ^ a b c d e f g h i j Mbark Boussoufa tại Soccerway
  18. ^ a b "Moubarak Boussoufa » Club matches". worldfootball.net. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2019.
  19. ^ Mbark Boussoufa tại National-Football-Teams.com
  20. ^ "RSC Anderlecht | Palmares".
  21. ^ "Erelijst Trofee Jean-Claude Bouvy". Het Nieuwsblad (bằng tiếng Hà Lan). ngày 20 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2020.
  22. ^ a b "Palmares Profvoetballer van het Jaar".
  23. ^ "Homme de la saison belge".
  24. ^ "Ebbenhouten schoen". Malinwa Statistics (bằng tiếng Hà Lan). ngày 28 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2020.
  25. ^ "Winnaars Gouden Schoen". ngày 11 tháng 1 năm 2012.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Cc