Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ

Bản mẫu:Infobox football tournament Cúp bóng đá thế giới các câu lạc bộ (tiếng Anh: FIFA Club World Cup), trước đây được gọi là FIFA Club World Championship (Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ), là một giải đấu bóng đá nam quốc tế được tổ chức bởi Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA), cơ quan quản lý bóng đá toàn cầu, quy tụ các câu lạc bộ vô địch từ các châu lục (châu Âu, châu Á, châu Phi, Nam Mỹ, Bắc Trung Mỹ, châu Đại Dương) cùng với đội chủ nhà.

Giải đấu lần đầu tiên được tổ chức tại Brasil vào năm 2000, và được thi đấu song song với Cúp Liên lục địa (hay còn được biết đến với tên gọi Cúp châu Âu/Nam Mỹ) – một giải đấu được đồng tổ chức bởi Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA) và Liên đoàn bóng đá Nam Mỹ (CONMEBOL) dành cho đội vô địch UEFA Champions LeagueCopa Libertadores. Trong các năm 2001 tới 2004, giải đấu không được tổ chức vì nhiều nguyên nhân, mà chủ yếu là do sự sụp đổ của đối tác tiếp thị của FIFA là International Sport and Leisure. Năm 2005, Cúp Liên lục địa được hợp nhất vào FIFA Club World Championship; cũng từ đây giải được tổ chức hàng năm, và sau đó lấy tên là FIFA Club World Cup kể từ năm 2006.

Sau giải đấu năm 2023, FIFA Club World Cup được cải tiến để trở thành giải đấu với chu kỳ 4 năm 1 lần, bắt đầu từ năm 2025. Thể thức mới bao gồm 32 câu lạc bộ thi đấu tại một nước chủ nhà, với 12 đội châu Âu, 6 đội Nam Mỹ, 4 đội châu Á, 4 đội châu Phi, 4 đội Bắc, Trung Mỹ và Caribe, 1 đội châu Đại Dương, và 1 đội đại diện quốc gia chủ nhà. Các đội được chia thành tám bảng 4 đội, thi đấu ba trận trong bảng để chọn hai đội đứng đầu vào vòng đấu loại trực tiếp, từ vòng 16 đội cho đến trận chung kết.

Đương kim vô địch của giải đấu là câu lạc bộ Chelsea của Anh, sau khi đã đánh bại câu lạc bộ Paris Saint-Germain của Pháp với tỉ số 3–0 ở chung kết giải đấu năm 2025. Đây là lần thứ hai mà câu lạc bộ Chelsea trở thành nhà vô địch của giải đấu. Đồng thời cũng trở thành đội đầu tiên vô địch theo thể thức mới.

Lịch sử

Giai đoạn mới thành lập giải và bị hoãn (2000 – 2004)

Kế hoạch tổ chức FIFA Club World Cup đã được vạch ra từ nhiều năm trước. Theo cựu chủ tịch FIFA Sepp Blatter, ý tưởng thành lập giải đấu được trình bày với Ủy ban điều hành FIFA vào tháng 12/1993 bởi chủ tịch A.C.Milan Silvio Berlusconi tại Las Vegas .

Khi các giải đấu cấp CLB ở các Liên đoàn được hình thành và phát triển ổn định, FIFA nảy ra ý định tổ chức giải đấu Club World Championship. Vào ngày 3/9/1997, Brasil được chọn làm nước chủ nhà của giải đấu dự kiến được diễn ra vào năm 1999. Ban đầu giải đấu có kế hoạch tổ chức vào năm 1999 khi chọn ra các nhà vô địch của năm 1998 tranh tài nhưng giải bị hoãn một năm. Sau đó giải có sự tham gia của các câu lạc bộ là Sport Club Corinthians Paulistat, Vasco da Gama (Brasil), Manchester United (Anh), Necaxa (Mexico), Raja Casablanca (Maroc), Real Madrid (Tây Ban Nha), Al-Nassr (Ả Rập Xê Út) và South Melbourne (Australia).

Ở phiên bản tiếp theo được dự kiến tổ chức vào mùa hè 2001 tại Tây Ban Nha, có 12 CLB tham dự và được bốc thăm vào tháng 3/2001 tại La Coruna. Tuy nhiên vào ngày 18/5/2001, do có nhiều yếu tố tác động, chủ yếu là do sự sụp đổ của đối tác FIFA là International Sport and Leisure. Các đội tham dự giải đấu năm 2001 được FIFA bồi thường 750.000 USD và LĐBĐ Tây Ban Nha cũng nhận được 1 triệu USD tiền bồi thường. Sau cúp liên lục địa cuối cùng vào năm 2004, FIFA Club World Championship được tái khởi động lại và giải tiếp theo được diễn ra tại Nhật Bản vào năm 2005.

Thể thức loại trực tiếp (2005 – 2023)

Ở giải đấu năm 2005, thời gian thi đấu tại giải được rút ngắn lại so với giải đấu trước và chỉ có 6 đội vô địch từ các Liên đoàn tham dự. Đại diện đến từ UEFACONMEBOL được đặt cách vào bán kết của giải. São Paulo là nhà vô địch của giải khi đánh bại Liverpool 1–0 trong trận chung kết, tiền vệ Mineiro cũng là cầu thủ đầu tiên ghi bàn trong một trận chung kết của FIFA Club World Cup.

Tập tin:FC Barcelona Team 2011.jpg
Pep Guardiola được tung hô sau khi Barcelona giành chức vô địch FIFA Club World Cup 2011, đè bẹp Santos 4–0 trong trận chung kết.

Tại Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ 2006, giải đấu đầu tiên có 7 đội tham gia khi nước chủ nhà của giải có một đại diện tham dự. Urawa Red Diamonds, nhà vô địch AFC Champions League 2006 cũng là đội bóng đến từ nước chủ nhà Nhật Bản nên đội á quân Sepahan của Iran là đại diện đến từ châu Á tham dự giải.

Đến năm 2010, đội bóng ngoài châu Âu và Nam Mỹ đầu tiên lọt vào chung kết FIFA Club World Cup là TP Mazembe của CHDC Congo. Đội bóng châu Phi đánh bại Internacional của Brasil trong trận bán kết để đi vào lịch sử của giải đấu khi là đội bóng châu Phi đầu tiên góp mặt tại trận chung kết của giải. Tuy nhiên đội đã nhận thất bại dễ dàng 0-3 trước Inter Milan trong trận chung kết.

Tập tin:Corinthians Club World Cup 2012.jpg
Corinthians giành danh hiệu thế giới thứ hai sau khi đánh bại Chelsea 1–0 trong trận chung kết, kết thúc một năm chứng kiến họ bất bại trong các trận đấu quốc tế với chỉ bốn bàn thua.

Tại giải đấu năm 2013, chủ nhà Raja Casablanca của Maroc tiến một mạch đến trận chung kết kể từ vòng đầu tiên gặp Auckland City của New Zealand. Họ trở thành đội bóng châu Phi thứ 2 tiến đến trận chung kết giải đấu khi đánh bại Atlético Mineiro của Brasil ở bán kết. Raja Casablanca là đội chủ nhà thứ 2 trong lịch sử giải đấu góp mặt ở trận chung kết và họ chịu thất bại trước Bayern Munich bởi đẳng cấp quá chênh lệch giữa hai đội.

Năm 2016, một đội chủ nhà khác đi vào lịch sử của giải khi Kashima Antlers trở thành đội bóng châu Á đầu tiên thi đấu trận chung kết FIFA Club World Cup. Thậm chí, đại diện của J1 League suýt gây sốc khi dẫn trước Real Madrid 2–1 ở đầu hiệp 2 trước khi trận đấu kéo dài thêm hai hiệp phụ và để thua ngược 2–4 với cú Hat-trick của Cristiano Ronaldo. Mặc dù vậy, đội bóng của Nhật Bản vẫn để lại ấn tượng khi suýt trở thành đội đầu tiên ngoài châu Âu và Nam Mỹ từng vô địch giải đấu.

Năm 2018, Al-Ain của nước chủ nhà Các Tiểu Vương quốc Ả rập Thống Nhất trở thành đội bóng châu Á thứ hai giành quyền chơi một trận chung kết FIFA Club World Cup. Bị đánh giá thấp hơn Real Madrid, không bất ngờ khi đội đã nhận thất bại với tỉ số 1–4.

Năm 2019, Liverpool giành chiến thắng chung cuộc 1–0 sau hiệp phụ trước Flamengo của Brasil qua đó giành chức vô địch FIFA Club World Cup lần đầu tiên.

Năm 2020, Bayern Munich giành cúp vô địch lần thứ 2 sau năm 2013 khi đánh bại Tigres UANL của Mexico với tỷ số 1–0 trong trận chung kết.

Năm 2021, giải đấu được tổ chức tại Các Tiểu Vương quốc Ả rập Thống Nhất. Chelsea giành chức vô địch FIFA Club World Cup đầu tiên khi thắng 2–1 trước Palmeiras của Brasil sau 120 phút trong trận chung kết.

Năm 2022, giải đấu được tổ chức tại Maroc. Real Madrid giành chức vô địch FIFA Club World Cup lần thứ 5 khi thắng 5–3 trước Al Hilal của Ả Rập Xê Út trong trận chung kết.

Năm 2023, giải đấu được tổ chức tại Ả Rập Xê Út. Manchester City giành chức vô địch FIFA Club World Cup đầu tiên khi có chiến thắng dễ dàng 4–0 trước Fluminense của Brasil trong trận chung kết.

Mở rộng số đội tham dự (kể từ năm 2021)

Vào cuối năm 2016, Chủ tịch FIFA Gianni Infantino đã đề nghị mở rộng giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ thành 32 đội bắt đầu vào năm 2019 và diễn ra vào mùa hè để giải đấu hấp dẫn hơn và cân bằng trình độ các đội tham gia, nhằm thu hút các nhà tài trợ cũng như tăng bản quyền truyền hình. Vào cuối năm 2017, FIFA đã thảo luận các đề xuất để mở rộng giải đấu tới 24 đội và diễn ra bốn năm một lần vào năm 2021, thay thế cho FIFA Confederations Cup.[1][2][3]

Ngày 15 tháng 3 năm 2019, định dạng và lịch thi đấu mới của giải đấu đã được thông qua tại cuộc họp của Hội đồng FIFA tại Miami, Florida, Hoa Kỳ. Vì theo lịch thi đấu quốc tế FIFA, khoảng thời gian từ ngày 31 tháng 5 đến ngày 8 tháng 6 năm 2021 sẽ dành cho vòng loại FIFA World Cup 2022Chung kết UEFA Nations League 2021, giải đấu sẽ diễn ra từ ngày 17 tháng 6 đến ngày 4 tháng 7, thay thế cho FIFA Confederations Cup 2021. Cúp bóng đá châu Phi năm 2021Cúp vàng CONCACAF 2021 sau đó sẽ được phân bố thời gian thi đấu từ ngày 5 đến ngày 31 tháng 7 năm 2021 trong Lịch thi đấu quốc tế FIFA.

Vào tối 16-12, Chủ tịch FIFA Gianni Infantino cũng cho biết giải đấu sẽ không diễn ra hằng năm như hiện tại, mà sẽ được tổ chức 4 năm/lần.

"Đó sẽ là kỳ FIFA Club World Cup của 32 đội, 4 năm/lần và là lần đầu tiên nó sẽ diễn ra vào mùa hè. Đó sẽ là vào năm 2025. Những đội bóng mạnh nhất thế giới sẽ được mời để tham dự", ông Infantino phát biểu.

Tại Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ 2025 (FIFA CLUB World Cup 2025), câu lạc bộ Chelsea của Anh đã đánh bại câu lạc bộ Paris Saint-Germain của Pháp với tỉ số 3–0 trong trận chung kết, qua đó trở thành đội bóng đầu tiên vô địch giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ phiên bản mới.

Thể thức thi đấu

Thể thức hiện tại của giải đấu bao gồm 7 đội tham dự diễn ra trong 2 tuần ở 1 nước chủ nhà; đội vô địch của AFC Champions League (châu Á), CAF Champions League (châu Phi), CONCACAF Champions League (Bắc Mỹ), CONMEBOL Copa Libertadores (Nam Mỹ), OFC Champions League (châu Đại Dương) và UEFA Champions League (châu Âu) năm đó, cùng với đội vô địch quốc gia của nước chủ nhà, tham dự giải đấu theo thể thức loại trực tiếp. Đội vô địch quốc gia của nước chủ nhà sẽ gặp đội vô địch OFC Champions League đại diện của châu Đại Dương trong 1 trận play-off; đội giành chiến thắng sẽ cùng với các đội vô địch châu Á, châu Phi và Bắc Mỹ tham dự vòng tứ kết. Các đội thắng ở tứ kết sẽ gặp các đội vô địch châu Âu và Nam Mỹ, những đội được vào thẳng bán kết. Hai đội thua ở tứ kết sẽ đá trận tranh hạng 5, hai đội thua ở bán kết đá trận tranh hạng 3 và trận đấu cuối cùng của giải là trận chung kết giữa hai đội giành chiến thắng ở vòng bán kết.

Kể từ mùa giải 2025, thể thức thi đấu có sự thay đổi lớn. Giải sẽ chuyển sang thi đấu vào mùa hè, theo chu kỳ 4 năm một lần và tăng số đội tham dự lên 32 đội. Giải cũng sẽ được bổ sung thêm vòng bảng, với 8 bảng 4 đội, thi đấu vòng tròn 1 lượt chọn đội nhất và nhì bảng vào vòng 16 đội

Bảng thành tích

Tính tới năm 2025, FIFA Club World Cup đã có 12 câu lạc bộ vô địch khác nhau. Real Madrid (Tây Ban Nha) là đội thành công nhất với 5 chức vô địch. Các nhà vô địch khác bao gồm Barcelona (Tây Ban Nha); Bayern München (Đức); AC MilanInter Milan (Ý); Manchester City, Liverpool, Manchester UnitedChelsea (Anh); Corinthians, São PauloInternacional (Brasil). La Liga là giải vô địch quốc gia thành công nhất với 8 chức vô địch, trong đó Barcelona có 4 lần vào chung kết và Real Madrid nắm kỉ lục nhiều nhất với 5 trận chung kết toàn thắng.

Trận chung kết, tranh hạng ba

Tc. Năm Chủ nhà Chung kết Trận tranh hạng ba Số đội
tham dự
Nguồn
Vô địch Tỉ số Á quân Hạng ba Tỉ số Hạng tư
1
Bản mẫu:Country data Brazil Bản mẫu:Fbaicon Corinthians Bản mẫu:Fbaicon Vasco da Gama Bản mẫu:Fbaicon Necaxa Bản mẫu:Fbaicon Real Madrid
8
[4][5]
Bản mẫu:Flagu
Giải đấu bị hủy do khó khăn về tài chính
12
[6]
2
Bản mẫu:Flagu Bản mẫu:Fbaicon São Paulo Bản mẫu:Fbaicon Liverpool Bản mẫu:Fbaicon Saprissa
3–2
Bản mẫu:Fbaicon Al-Ittihad
6
[7][8][9]
3
Bản mẫu:Flagu Bản mẫu:Fbaicon Internacional Bản mẫu:Fbaicon Barcelona Bản mẫu:Fbaicon Al Ahly
2–1
Bản mẫu:Fbaicon América
6
[10][11]
4
Bản mẫu:Flagu Bản mẫu:Fbaicon AC Milan Bản mẫu:Fbaicon Boca Juniors Bản mẫu:Fbaicon Urawa Red Diamonds Bản mẫu:Fbaicon Étoile du Sahel
7
[12][13]
5
Bản mẫu:Flagu Bản mẫu:Fbaicon Manchester United Bản mẫu:Fbaicon LDU Quito Bản mẫu:Fbaicon Gamba Osaka
1–0
Bản mẫu:Fbaicon Pachuca
7
[14][15]
6
Bản mẫu:Flagu Bản mẫu:Fbaicon Barcelona Bản mẫu:Fbaicon Estudiantes Bản mẫu:Fbaicon Pohang Steelers Bản mẫu:Fbaicon Atlante
7
[16][17][18]
7
Bản mẫu:Flagu Bản mẫu:Fbaicon Inter Milan Bản mẫu:Fbaicon TP Mazembe Bản mẫu:Fbaicon Internacional
4–2
Bản mẫu:Fbaicon Seongnam Ilhwa Chunma
7
[19][20]
8
Bản mẫu:Flagu Bản mẫu:Fbaicon Barcelona Bản mẫu:Fbaicon Santos Bản mẫu:Fbaicon Al Sadd Bản mẫu:Fbaicon Kashiwa Reysol
7
[21][22][23]
9
Bản mẫu:Flagu Bản mẫu:Fbaicon Corinthians Bản mẫu:Fbaicon Chelsea Bản mẫu:Fbaicon Monterrey
2–0
Bản mẫu:Fbaicon Al Ahly
7
[24][25]
10
Bản mẫu:Flagu Bản mẫu:Fbaicon Bayern Munich Bản mẫu:Fbaicon Raja CA Bản mẫu:Fbaicon Atlético Mineiro
3–2
Bản mẫu:Fbaicon Guangzhou Evergrande
7
[26][27]
11
Bản mẫu:Flagu Bản mẫu:Fbaicon Real Madrid Bản mẫu:Fbaicon San Lorenzo Bản mẫu:Fbaicon Auckland City Bản mẫu:Fbaicon Cruz Azul
7
[28][29][30]
12
Bản mẫu:Flagu Bản mẫu:Fbaicon Barcelona Bản mẫu:Fbaicon River Plate Bản mẫu:Fbaicon Sanfrecce Hiroshima
2–1
Bản mẫu:Fbaicon Guangzhou Evergrande
7
[31][32]
13
Bản mẫu:Flagu Bản mẫu:Fbaicon Real Madrid Bản mẫu:Fbaicon Kashima Antlers Bản mẫu:Fbaicon Atlético Nacional Bản mẫu:Fbaicon América
7
[33][34][35][36]
14
Bản mẫu:Flagu Bản mẫu:Fbaicon Real Madrid Bản mẫu:Fbaicon Grêmio Bản mẫu:Fbaicon Pachuca
4–1
Bản mẫu:Fbaicon Al-Jazira
7
[37]
15
Bản mẫu:Flagu Bản mẫu:Fbaicon Real Madrid Bản mẫu:Fbaicon Al-Ain Bản mẫu:Fbaicon River Plate
4–0
Bản mẫu:Fbaicon Kashima Antlers
7
[38]
16
Bản mẫu:Flagu Bản mẫu:Fbaicon Liverpool Bản mẫu:Fbaicon Flamengo Bản mẫu:Fbaicon Monterrey Bản mẫu:Fbaicon Al-Hilal
7
[39]
17
Bản mẫu:Flagu Bản mẫu:Fbaicon Bayern Munich Bản mẫu:Fbaicon UANL Bản mẫu:Fbaicon Al Ahly Bản mẫu:Fbaicon Palmeiras [40]
18
Bản mẫu:Flagu Bản mẫu:Fbaicon Chelsea Bản mẫu:Fbaicon Palmeiras Bản mẫu:Fbaicon Al Ahly
4–0
Bản mẫu:Fbaicon Al-Hilal
7
[41]
19
Bản mẫu:Flagu Bản mẫu:Fbaicon Real Madrid Bản mẫu:Fbaicon Al-Hilal Bản mẫu:Fbaicon Flamengo
4–2
Bản mẫu:Fbaicon Al Ahly
7
[42]
20
Bản mẫu:Flagu Bản mẫu:Fbaicon Manchester City Bản mẫu:Fbaicon Fluminense Bản mẫu:Fbaicon Al Ahly
4–2
Bản mẫu:Fbaicon Urawa Red Diamonds
7
[43][44]
21
Bản mẫu:Flagu Bản mẫu:Fbaicon Chelsea 3–0 Bản mẫu:Fbaicon Paris Saint-Germain Các đội thua ở bán kếtBản mẫu:Refn
32
[45][46]
Bản mẫu:Fbaicon FluminenseBản mẫu:Fbaicon Real Madrid
22
TBD
32
Ghi chú

Thành tích theo câu lạc bộ

Câu lạc bộ Vô địch Á quân Năm vô địch Năm á quân
Bản mẫu:Country data ESP Real Madrid 5 2014, 2016, 2017, 2018, 2022 Bản mẫu:Sort dash
Bản mẫu:Country data ESP Barcelona 3 1 2009, 2011, 2015 2006
Bản mẫu:Country data ENG Chelsea 2 1 2021, 2025 2012
Bản mẫu:Country data BRA Corinthians 2 2000, 2012 Bản mẫu:Sort dash
Bản mẫu:Country data GER Bayern Munich 2 2013, 2020 Bản mẫu:Sort dash
Bản mẫu:Country data ENG Liverpool 1 1 2019 2005
Bản mẫu:Country data BRA São Paulo 1 2005 Bản mẫu:Sort dash
Bản mẫu:Country data BRA Internacional 1 2006 Bản mẫu:Sort dash
Bản mẫu:Country data ITA AC Milan 1 2007 Bản mẫu:Sort dash
Bản mẫu:Country data ENG Manchester United 1 2008 Bản mẫu:Sort dash
Bản mẫu:Country data ITA Inter Milan 1 2010 Bản mẫu:Sort dash
Bản mẫu:Country data ENG Manchester City 1 2023 Bản mẫu:Sort dash
Bản mẫu:Country data BRA Vasco da Gama 1 Bản mẫu:Sort dash 2000
Bản mẫu:Country data ARG Boca Juniors 1 Bản mẫu:Sort dash 2007
Bản mẫu:Country data ECU L.D.U Quito 1 Bản mẫu:Sort dash 2008
Bản mẫu:Country data ARG Estudiantes 1 Bản mẫu:Sort dash 2009
Bản mẫu:Country data COD TP Mazembe 1 Bản mẫu:Sort dash 2010
Bản mẫu:Country data BRA Santos 1 Bản mẫu:Sort dash 2011
Bản mẫu:Country data MAR Raja Casablanca 1 Bản mẫu:Sort dash 2013
Bản mẫu:Country data ARG San Lorenzo 1 Bản mẫu:Sort dash 2014
Bản mẫu:Country data ARG River Plate 1 Bản mẫu:Sort dash 2015
Nhật Bản Kashima Antlers 1 Bản mẫu:Sort dash 2016
Bản mẫu:Country data BRA Grêmio 1 Bản mẫu:Sort dash 2017
Bản mẫu:Country data UAE Al-Ain 1 Bản mẫu:Sort dash 2018
Bản mẫu:Country data BRA Flamengo 1 Bản mẫu:Sort dash 2019
Bản mẫu:Country data MEX Tigres UANL 1 Bản mẫu:Sort dash 2020
Bản mẫu:Country data BRA Palmeiras 1 Bản mẫu:Sort dash 2021
Bản mẫu:Country data KSA Al-Hilal 1 Bản mẫu:Sort dash 2022
Bản mẫu:Country data BRA Fluminense 1 Bản mẫu:Sort dash 2023
Pháp Paris Saint-Germain 1 Bản mẫu:Sort dash 2025

Thành tích theo quốc gia

Quốc gia Vô địch Á quân
Tập tin:Flag of the Kingdom of Spain.svg Tây Ban Nha 8 1
Bản mẫu:ENG 5 2
Bản mẫu:BRA 4 6
Tập tin:Flag of Italy.svg Ý 2
Tập tin:Flag of Germany.svg Đức 2
Bản mẫu:ARG 4
Bản mẫu:Country data COD DR Congo 1
Bản mẫu:ECU 1
Tập tin:Flag of Japan.svg Nhật Bản 1
Bản mẫu:MAR 1
Bản mẫu:UAE 1
Bản mẫu:MEX 1
Bản mẫu:KSA 1
Tập tin:Flag of France (1794–1815, 1830–1958).svg Pháp 1

Số huy chương (20002025)

Bản mẫu:Medals table

Thành tích theo liên đoàn

Các đại diện châu Phi xuất sắc nhất tính tới thời điểm hiện tại là TP Mazembe của Cộng hòa Dân chủ Congo và Raja Casablanca của Maroc. Đó là 2 đội duy nhất của châu Phi từng tham dự trận chung kết giải đấu, lần lượt vào các năm 2010 và 2013.

Kashima Antlers của Nhật Bản, Al-Ain của Các Tiểu Vương quốc Ả rập Thống Nhất và Al-Hilal của Ả Rập Xê Út là những đội châu Á có thành tích tốt nhất, giành vị trí á quân lần lượt vào các năm 2016, 2018 và 2022.

Các câu lạc bộ của MéxicoNecaxa, MonterreyPachuca, cũng như Deportivo Saprissa của Costa Rica, từng đạt vị trí thứ 3. Đây là thành tích tốt nhất của các đại diện Bắc Mỹ.

Câu lạc bộ Auckland City của New Zealand đã một lần giành hạng 3 và là đội duy nhất của Châu Đại Dương lọt vào bán kết tính đến nay.

Đã có tổng cộng 4 câu lạc bộ ngoài châu Âu và Nam Mỹ tham dự trận chung kết.

Liên đoàn Vô địch Á quân
UEFA 17 4
CONMEBOL 4 11
AFC 0 3
CAF 0 2
CONCACAF 0 1
OFC 0 0
Tổng cộng 21 21

Các giải thưởng

Năm Quả bóng vàng Quả bóng bạc Quả bóng đồng Chiếc giày vàng Phong cách
2000 Bản mẫu:Country data Brasil Edílson Bản mẫu:Country data Brasil Edmundo Bản mẫu:Country data Brasil Romário Bản mẫu:Country data Brasil Romário (3)
Pháp Nicolas Anelka (3)
Bản mẫu:Country data Ả Rập Saudi Al-Nassr
2005 Bản mẫu:Country data Brasil Rogerio Ceni Bản mẫu:Country data Anh Steven Gerrard Bản mẫu:Country data Costa Rica Cristian Bolaños Bản mẫu:Country data Brasil Amoroso (2)
Bản mẫu:Country data Anh Peter Crouch (2)
Bản mẫu:Country data Costa Rica Alvaro Saborio (2)
Bản mẫu:Country data Ả Rập Saudi Mohammed Noor (2)
Bản mẫu:Country data Anh Liverpool FC
2006 Bồ Đào Nha Deco Bản mẫu:Country data Brasil Iarley Bản mẫu:Country data Brasil Ronaldinho Bản mẫu:Country data Ai Cập Mohamed Aboutrika (3) Bản mẫu:Country data Tây Ban Nha Barcelona
2007 Bản mẫu:Country data BRA Kaká Bản mẫu:Country data NED Clarence Seedorf Bản mẫu:Country data ARG Rodrigo Palacio Bản mẫu:Country data BRA Washington (3) Nhật Bản Urawa Red Diamonds
2008 Bản mẫu:Country data ENG Wayne Rooney Bản mẫu:Country data POR Cristiano Ronaldo Bản mẫu:Country data ARG Damián Manso Bản mẫu:Country data ENG Wayne Rooney (3) Bản mẫu:Country data AUS Adelaide United
2009 Bản mẫu:Country data ARG Lionel Messi Bản mẫu:Country data ARG Juan Sebastián Verón Bản mẫu:Country data ESP Xavi Hernández Bản mẫu:Country data BRA Denilson (4) Bản mẫu:Country data MEX Atlante
2010 Bản mẫu:Country data CMR Samuel Eto'o Bản mẫu:Country data COD Dioko Kaluyituka Bản mẫu:Country data ARG Andrés D'Alessandro Bản mẫu:Country data COL Mauricio Molina (3) Bản mẫu:Country data ITA Inter Milan
2011 Bản mẫu:Country data ARG Lionel Messi Bản mẫu:Country data ESP Xavi Bản mẫu:Country data BRA Neymar Bản mẫu:Country data ARG Lionel Messi (2)
Bản mẫu:Country data BRA Adriano (2)
Bản mẫu:Country data ESP Barcelona
2012 Bản mẫu:Country data Brazil Cássio Bản mẫu:Country data Brazil David Luiz Bản mẫu:Country data Peru Paolo Guerrero Bản mẫu:Country data Argentina César Delgado (3)

Nhật Bản Satõ Hisato (3)

Bản mẫu:Country data México Monterrey
2013 Pháp Franck Ribéry Đức Philipp Lahm Bản mẫu:Country data Maroc Mouhcie Iajour Bản mẫu:Country data Brazil Ronaldinho (2)

Bản mẫu:Country data Argentina Darío Conca (2)
Bản mẫu:Country data Argentina César Delgado (2)
Bản mẫu:Country data Maroc Mouhcie Iajour (2)

Đức Bayern Munich
2014 Bản mẫu:Country data Spain Sergio Ramos Bản mẫu:Country data Portugal Cristiano Ronaldo New Zealand Ivan Vicelich Bản mẫu:Country data Spain Serigo Ramos (2)

Bản mẫu:Country data Wales Gareth Bale (2)

Bản mẫu:Country data México Gerardo Torrado (2)

Bản mẫu:Country data Spain Real Madrid
2015 Bản mẫu:Country data Uruguay Luis Suárez Bản mẫu:Country data Argentina Lionel Messi Bản mẫu:Country data Spain Andrés Iniesta Bản mẫu:Country data Uruguay Luis Suárez (5) Bản mẫu:Country data Spain Barcelona
2016 Bản mẫu:Country data POR Cristiano Ronaldo Bản mẫu:Country data CRO Luka Modric Bản mẫu:Country data JAP Gaku Shibasaki Bản mẫu:Country data POR Cristiano Ronaldo (4) Bản mẫu:Country data JAP Kashima Antlers
2017 Bản mẫu:Country data Croatia Luka Modrić Bản mẫu:Country data Portugal Cristiano Ronaldo Bản mẫu:Country data Uruguay Jonathan Urretaviscaya Bản mẫu:Country data Brazil Maurício Antônio (2)

Bản mẫu:Country data Brazil Romarinho (2)

Bản mẫu:Country data Portugal Cristiano Ronaldo (2)

Bản mẫu:Country data Spain Real Madrid
2018 Bản mẫu:Country data Wales Gareth Bale Bản mẫu:Country data Brazil Caio Bản mẫu:Country data Colombia Rafael Santos Berré Bản mẫu:Country data Wales Gareth Bale (3)

Bản mẫu:Country data Colombia Rafael Santos Berré (3)

Bản mẫu:Country data Spain Real Madrid
2019 Bản mẫu:Country data Ai Cập Mohamed Salah Bản mẫu:Country data Brazil Bruno Henrique Bản mẫu:Country data Brazil Carlos Eduardo Bản mẫu:Country data Algérie Baghdad Bounedjah (3)

Bản mẫu:Country data Libya Hamdou Elhhouni (3)

Bản mẫu:Country data Tunisia Espéranncce de Tunis
2020 Ba Lan Robert Lewandowski Pháp André-Pierre Gignac Đức Joshua Kimmich Pháp André-Pierre Gignac (3) Bản mẫu:Country data Qatar Al-Duhail
2021 Bản mẫu:Country data Brasil Thiago Silva Bản mẫu:Country data Brasil Dudu Bản mẫu:Country data Brasil Danilo Bỉ Romelu Lukaku (2)
Bản mẫu:Country data Brasil Raphael Veiga (2)
Bản mẫu:Country data Ai Cập Yasser Ibrahim (2)
Bản mẫu:Fbaicon Abdoulay Diaby (2)
Bản mẫu:Country data Anh Chelsea
2022 Bản mẫu:Country data Brasil Vinícius Júnior Bản mẫu:Country data Uruguay Federico Valverde Bản mẫu:Country data Argentina Luciano Vietto Bản mẫu:Country data Brasil Pedro (4) Bản mẫu:Country data Spain Real Madrid
2023 Bản mẫu:Country data Tây Ban Nha Rodri Bản mẫu:Country data Anh Kyle Walker Bản mẫu:Country data Colombia Jhon Arias Bản mẫu:Country data Argentina Julián Álvarez (2)
Pháp Karim Benzema (2)
Bản mẫu:Country data Tunisia Ali Maâloul (2)
Bản mẫu:Country data Ả Rập Xê Út Al-Ittihad
2025 Bản mẫu:Country data Anh Cole Palmer Bồ Đào Nha Vitinha Bản mẫu:Country data Ecuador Moses Caicedo Bản mẫu:Country data Tây Ban Nha Gonzalo Garcia (4)

Bản mẫu:Country data Brasil Marcos Leonardo (4)
Bản mẫu:Country data Guinea Serhou Guirassy (4)

Bản mẫu:Country data Argentina Angel Di Maria (4)

Đức Bayern Munich

Tiền thưởng

Trước đây, đối với từng đội, đội vô địch được nhận 5 triệu $, đội Á quân nhận 4 triệu $, đội hạng ba 2.5 triệu $, hạng tư 2 triệu $, hạng năm 1.5 triệu $, hạng sáu 1 triệu $ và đội hạng bảy nhận 500,000 $. Từ năm 2025 trở đi, sau khi giải đấu được mở rộng quy mô lên 32 đội, giải thưởng cho các đội tham gia cũng thay đổi đáng kể, cụ thể như sau:[47]

Vòng Tiền thưởng
Vòng bảng +2 triệu USD cho đội thắng hoặc +1 triệu USD cho mỗi đội khi hòa nhau
Vòng bát kết +7.5 triệu USD cho các đội tham gia
Vòng tứ kết +13.125 triệu USD cho các đội tham gia
Vòng bán kết +21 triệu USD cho các đội tham gia
Chung kết +30 triệu USD cho các đội tham gia
Nhà vô địch +40 triệu USD

Ngoài ra, các đội tham gia giải đấu còn nhận số tiền thưởng ban đầu tuy vào lục địa mà họ đại diện, cụ thể như sau:

Đại diện đến từ châu lục Tiền thưởng
Châu Âu 12.81-38.19 triệu USD
Nam Mỹ 15.21 triệu USD
Bắc, Trung Mỹ và khu vực Caribbean 9.55 triệu USD
Châu Phi 9.55 triệu USD
Châu Phi 9.55 triệu USD
Châu Đại Dương 3.58 triệu USD

Chelsea - nhà vô địch đầu tiên khi giải đấu thay thể phương thức đã nhận số tiền kỷ lục gần 115 triệu USD tiền thưởng.[48]

Tham khảo

  1. ^ "A new FIFA Club World Cup with Real Madrid, Barcelona, Atletico and Sevilla". ngày 29 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2017.
  2. ^ "FIFA Are Planning A Massive 24-Team Club World Cup". ngày 29 tháng 11 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2017.
  3. ^ "FIFA plant Mega-Klub-WM" (bằng tiếng Đức). ngày 29 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2017.
  4. ^ "FIFA Club World Championship Brazil 2000". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  5. ^ Pontes, Ricardo (ngày 29 tháng 5 năm 2007). "FIFA Club World Championship 2000". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  6. ^ "World Club Championship axed". BBC Sport. ngày 18 tháng 5 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2014.
  7. ^ "FIFA revamps Club World Championship". ngày 20 tháng 2 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2022.
  8. ^ "FIFA Club World Championship Toyota Cup Japan 2005". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  9. ^ Nakanishi, Masanori "Komabano"; de Arruda, Marcelo Leme (ngày 30 tháng 4 năm 2006). "FIFA Club World Championship 2005". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  10. ^ "FIFA Club World Cup Japan 2006". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  11. ^ Nakanishi, Masanori "Komabano"; de Arruda, Marcelo Leme (ngày 10 tháng 5 năm 2007). "FIFA Club World Championship 2006". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  12. ^ "FIFA Club World Cup Japan 2007". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  13. ^ de Arruda, Marcelo Leme (ngày 28 tháng 5 năm 2008). "FIFA Club World Championship 2007". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  14. ^ "FIFA Club World Cup Japan 2008". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  15. ^ Nakanishi, Masanori "Komabano"; de Arruda, Marcelo Leme (ngày 21 tháng 5 năm 2009). "FIFA Club World Championship 2008". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  16. ^ "FIFA Club World Cup UAE 2009". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  17. ^ de Arruda, Marcelo Leme (ngày 14 tháng 5 năm 2010). "FIFA Club World Championship 2009". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  18. ^ "Club Estudiantes de La Plata – FC Barcelona". FIFA. ngày 19 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  19. ^ "FIFA Club World Cup UAE 2010". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  20. ^ de Arruda, Marcelo Leme (ngày 17 tháng 7 năm 2012). "FIFA Club World Championship 2010". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  21. ^ "FIFA Club World Cup Japan 2011". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  22. ^ de Arruda, Marcelo Leme (ngày 17 tháng 7 năm 2012). "FIFA Club World Championship 2011". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  23. ^ "Al-Sadd take third on penalties". FIFA. ngày 18 tháng 12 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  24. ^ "FIFA Club World Cup Japan 2012". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  25. ^ de Arruda, Marcelo Leme (ngày 10 tháng 1 năm 2013). "FIFA Club World Championship 2012". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  26. ^ "FIFA Club World Cup Morocco 2013". FIFA. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2014.
  27. ^ de Arruda, Marcelo Leme (ngày 23 tháng 12 năm 2013). "FIFA Club World Championship 2013". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2014.
  28. ^ "FIFA Club World Cup Morocco 2014". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2014.
  29. ^ de Arruda, Marcelo Leme (ngày 23 tháng 12 năm 2014). "FIFA Club World Championship 2014". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2014.
  30. ^ "Auckland City claim historic bronze". FIFA. ngày 20 tháng 12 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2014.
  31. ^ "FIFA Club World Cup Japan 2015". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2016.
  32. ^ King, Ian; Stokkermans, Karel (ngày 20 tháng 12 năm 2015). "FIFA Club World Cup 2015". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2016.
  33. ^ "FIFA Club World Cup Japan 2016". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2016.
  34. ^ Stokkermans, Karel (ngày 18 tháng 12 năm 2016). "FIFA Club World Cup 2016". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2016.
  35. ^ "Club América – Atlético Nacional". FIFA. ngày 18 tháng 12 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2016.
  36. ^ "Real Madrid – Kashima Antlers". FIFA. ngày 18 tháng 12 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2016.
  37. ^ King, Ian (ngày 22 tháng 12 năm 2018). "FIFA Club World Cup 2017". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2018.
  38. ^ King, Ian (ngày 3 tháng 1 năm 2019). "FIFA Club World Cup 2018". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2019.
  39. ^ Poole, Harry (ngày 21 tháng 12 năm 2019). "Flamengo 0–1 Liverpool: Roberto Firmino's extra-time strike delivers first Club World Cup". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2022.
  40. ^ Begley, Emlyn (ngày 11 tháng 2 năm 2021). "Fifa Club World Cup final: Bayern Munich beat Tigres to become world champions". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2022.
  41. ^ "Chelsea win Club World Cup: Kai Havertz winner sees off Palmeiras after extra time". BBC Sport. ngày 12 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2022.
  42. ^ "Real Madrid 5–3 Al-Hilal: Vinicius & Federico Valverde score in Club World Cup final win". BBC Sport. ngày 11 tháng 2 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2023.
  43. ^ Blitz, Sam (ngày 22 tháng 12 năm 2023). "Man City 4–0 Fluminense: Rodri injury sours Club World Cup triumph as Pep Guardiola wins 14th trophy as City boss". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2023.
  44. ^ "Al-Ahly beat Urawa Red Diamonds 4–2 to finish third in Club World Cup". Reuters. ngày 22 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2023.
  45. ^ Brennan, Feargal (ngày 22 tháng 12 năm 2023). "Why is there no Club World Cup in 2024? FIFA tournament changes ahead of 2025 competition". The Sporting News. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2025.
  46. ^ Wright, Nick (ngày 14 tháng 7 năm 2025). "Chelsea 3–0 Paris Saint-Germain: Cole Palmer scores twice as Blues claim Club World Cup glory with stunning win". Sky Sports. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2025.
  47. ^ "2025 FIFA Club World Cup prize money list, details — How much will each club make?". NBC Sports (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2025.
  48. ^ "Tạp chí Bóng Đá, Báo Bóng Đá, kết quả, lịch thi đấu, video bàn thắng, nhận định, tỷ lệ - Bongdaplus.vn". bongdaplus.vn. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2025.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ Bản mẫu:FIFA