Mecodema howittii
| Mecodema howittii | |
|---|---|
| Ảnh phóng to của Mecodema howittii trên nền rừng | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới: | Animalia |
| Ngành: | Arthropoda |
| Lớp: | Insecta |
| Bộ: | Coleoptera |
| Phân bộ: | Adephaga |
| Họ: | Carabidae |
| Chi: | Mecodema |
| Loài: | M. howittii
|
| Danh pháp hai phần | |
| Mecodema howittii Laporte de Castelnau, 1867 | |
| Các đồng nghĩa | |
| |
Mecodema howittii là một loài bọ chân chạy được tìm thấy ở New Zealand. Loài này chỉ được tìm thấy trên Bán đảo Banks ở vùng Canterbury, và là loài lớn nhất trong số các loài bọ chân chạy đặc hữu được tìm thấy trên bán đảo. Do sự suy giảm đáng kể của loài trong vùng phân bố, chúng được coi là một loài đang suy giảm. M. howittii thường được tìm thấy bên dưới các khúc gỗ vào mùa xuân và mùa hè, chủ yếu ở các môi trường sống trong rừng và đồng cỏ, bao gồm cả đồng cỏ chăn thả gia súc. Loài này hoạt động về đêm và săn bắt các loài động vật không xương sống khác.
Phân loại
Mecodema howittii ban đầu được Francis de Laporte de Castelnau mô tả vào năm 1867 từ một mẫu vật thu thập được gần Christchurch. Tên loài của loài này đề cập đến nhà sưu tập, nhà côn trùng học người Úc Godfrey Howitt, và de Castelnau lưu ý rằng đây là loài thuộc chi Mecodema lớn nhất mà ông từng gặp.[1] Mặc dù tính ngữ cụ thể do de Castelnau chọn là Howittii, các nhà côn trùng học sau này thường gọi nó là M. howitti,[2][3][4] dù trong danh mục các loài Carabidae của New Zealand của Larochelle và Larivière, loài bọ được đặt tên chính xác là M. howittii.[5] Mẫu vật điển hình hiện được lưu giữ tại Museo Civico di Storia Naturale Giacomo Doria ở Genova, Ý.[2] Loài này được Jules Putzeys mô tả lại chỉ một năm sau đó với tên Mecodema rectolineatum, và sau đó lại được Thomas Broun mô tả lại với tên Mecodema walkeri vào năm 1904.[6][7] Các danh pháp này sau đó đã được đồng nghĩa hóa tương ứng vào năm 1874 và 1949.[8][2] Loài bọ này gần đây nhất đã được Britton cập nhật mô tả vào năm 1949. Ông đã xếp nó vào nhóm loài costellum.[2]
Mô tả

M. howittii là loài bọ chân chạy lớn nhất trong số 10 loài đặc hữu tìm thấy được trên Bán đảo Banks, có chiều dài 26–31 mm (1,02–1,22 in).[3] Bề ngoài tương tự như các loài Mecodema khác, chúng có thể được phân biệt bằng cấu trúc của cánh cứng và sự hiện diện của các lỗ thủng mang lông cứng (các chỗ lõm trên cơ thể có lông bên trong).[2]
Màu sắc tổng thể của cơ thể là màu đen. Đầu có kết cấu nhẵn với một chỗ lõm và các lỗ thủng mờ nhạt (hoặc không có trong một số trường hợp). Phần gốc của môi dưới có ba lỗ thủng ở mỗi bên. Mép của pronotum có mười đến mười hai lỗ thủng ở mép bên. Khoảng cánh cứng (các sọc nổi của cánh cứng) thứ ba và thứ năm phẳng, khoảng cánh cứng thứ hai, thứ tư, thứ sáu và thứ tám nhẵn với hai hàng lỗ thủng mỗi bên, và khoảng cánh cứng thứ nhất, thứ ba và thứ bảy nhẵn với các nếp nhăn nhỏ.[2]
Phân bố và môi trường sống
M. howittii là loài đặc hữu của Bán đảo Banks thuộc vùng Canterbury của Đảo Nam. Loài côn trùng này chỉ được biết đến ở các vùng trung tâm và phía đông của bán đảo, cả ở vùng đất thấp và vùng cao.[3] Các ghi chép lịch sử cho thấy loài này từng phân bố ở phía tây xa xôi đến tận Port Hills, nhưng đến những năm 1980 đã biến mất khỏi đó. Sự thu hẹp phạm vi phân bố này có thể là do nạn phá rừng trên diện rộng vào thế kỷ 19 trên bán đảo và sự săn mồi của các loài động vật có vú du nhập như chuột cống và chuột nhắt.[9]
Loài này xuất hiện ở tàn tích rừng cây thông tre và gỗ cứng cũng như đồng cỏ, ngay cả trong môi trường sống bị biến đổi mạnh như đồng cỏ chăn thả gia súc.[3][5] Mặc dù người ta đã đề xuất rằng quần thể ở đồng cỏ chăn thả là di tích vẫn tồn tại trong các vi sinh cảnh được hỗ trợ bởi các khúc gỗ. Sự hiện diện của chúng cũng liên quan chặt chẽ với các tầng thảm thực vật ở mặt đất cao, tạo thành các vi sinh cảnh thuận lợi.[3] Loài vật đào hang này có quan hệ với những khúc gỗ đổ mà nó ẩn náu bên dưới, có lẽ đã từng ở trong rừng cây thông tre, và nó phổ biến hơn ở những khu vực có nhiều khúc gỗ hơn và ít bị xáo trộn hơn.[3][4] Mặc dù loài côn trùng đã từng rất phổ biến ở các dãy núi cao nơi rừng đã bị chặt phá và các khúc gỗ nằm lại trên đồng cỏ, nhưng nó đã biến mất khi các khúc gỗ bị mục nát hoặc bị đốt cháy.[9]
Chu kỳ sống
M. howittii hoạt động mạnh nhất vào các tháng mùa xuân và mùa hè (thời điểm chúng sinh sản), thường được nhìn thấy nhiều nhất vào tháng 11. Những con cái mang thai đã được quan sát thấy từ tháng 12 đến tháng 1. Đây là mô hình hoạt động phổ biến của các loài bọ chân chạy khác ở Bán đảo Banks.[4]
Tập tính
Loài bọ cánh cứng này hoạt động về đêm, nhưng có thể được thấy vào ban ngày trong một số điều kiện.[4][5] Giống như hầu hết các loài bọ chân chạy, chúng là loài săn mồi tích cực, được quan sát thấy săn ấu trùng của loài bọ chân chạy Holcaspis suteri, ruồi hạc và sâu bột Tenebrio molitor (trong điều kiện nuôi nhốt).[10] Chúng chạy chậm và được cho là ít hoạt động hơn khi nhiệt độ đất dưới 6,5°C.[4][5] Giống như các loài Mecodema khác, chúng không biết bay và sống trong hang hoặc hốc dưới khúc gỗ và đá.[3]
Thiên địch
Những thiên địch bản địa của M. howittii được cho là bao gồm các loài nhện lớn và các loài chim như Ninox novaeseelandiae và Gallirallus australis (mặc dù loài Gallirallus australis không còn hiện diện trên bán đảo).[10] Chúng có thể bị săn bắt bởi các loài động vật có vú du nhập.[3] Một loài bọ ve chưa được mô tả từ chi Micromegistus có mối liên hệ đến M. howittii; những con bọ ve này chủ yếu bám vào vùng pronotum (lưng ngực trước) và metathorax (ngực sau) (các bộ phận của ngực), nhưng phổ biến nhất là xung quanh coxae (phần gốc của chân).[10]
Tình trạng bảo tồn
Theo Hệ thống Phân loại Mức độ đe dọa của New Zealand, loài này được xếp vào loại "Đang suy giảm" với các tiêu chí "Phân bố hạn chế" và "Thưa thớt".[11] Loài này có vùng phân bố chia cắt ở phía đông và trung tâm Bán đảo Banks, và có thể vẫn đang thu hẹp. Có ý kiến cho rằng sự suy giảm của M. howittii là do các yếu tố như khả năng phân tán kém, động vật ăn thịt là động vật có vú du nhập và mất môi trường sống cho gia súc ăn cỏ.[3]
Liên kết ngoài
Tham khảo
- ^ Laporte de Castelnau, F L (1867). "Notes on Australian Coleoptera Part II". Transactions and Proceedings of the Royal Society of Victoria. Quyển 8. tr. 159–160.
- ^ a b c d e f Britton, E.B. (1949). "The Carabidae (Coleoptera) of New Zealand Part III - A revision of the Broscini". Transactions of the Royal Society of New Zealand. 77 (4): 533–581.
- ^ a b c d e f g h i Anderson, S J; Emberson, R M; Brown, B (2003). "Distribution and conservation requirements of Mecodema howitti Castelnau (Coleoptera: Carabidae: Broscini)". New Zealand Entomologist (bằng tiếng Anh). Quyển 26 số 1. tr. 45–52. doi:10.1080/00779962.2003.9722107. ISSN 0077-9962.
- ^ a b c d e Anderson, S. J.; Brown, B.; Emberson, R. M. (2004). "Seasonal activity and habitat associations of Mecodema howitti and Megadromus guerinii, two endemic New Zealand ground beetles (Coleoptera: Carabidae)". New Zealand Journal of Zoology. Quyển 31 số 4. tr. 305–312. doi:10.1080/03014223.2004.9518383. S2CID 84551722.
- ^ a b c d Larochelle, A; Larivière, M-C (2001). "Carabidae (Insecta: Coleoptera): catalogue". Fauna of New Zealand (bằng tiếng Anh). Quyển 43. doi:10.7931/J2/FNZ.43. ISSN 1179-7193.
- ^ Putzeys, J (1868). "Les broscides". Stettiner Entomologische Zeitung. 29: 317–318.
- ^ Broun, T (1904). "Descriptions of new genera and species of New Zealand Coleoptera". Annals and Magazine of Natural History. 12: 43–44.
- ^ Bates, H W (1874). "On the geodephagous Coleoptera of New Zealand". Annals and Magazine of Natural History. Quyển 4. tr. 236.
- ^ a b Lỗi Lua trong Mô_đun:Cite_Q tại dòng 13: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
- ^ a b c Anderson, S. J. (2000). Distribution, Habitat Associations, and Activity Patterns of Two Endemic Banks Peninsula Carabid Beetles, Mecodema howitti and Megadromus guerinii (Phd). Lincoln University.
- ^ Leschen, R A B; Marris, J W M; Emberson, R M; Nunn, J.; Hitchmough, R A; Stringer, I (ngày 1 tháng 7 năm 2012). "The conservation status of New Zealand Coleoptera". New Zealand Entomologist. Quyển 35 số 2. tr. 91–98. doi:10.1080/00779962.2012.686311. ISSN 0077-9962.
Lỗi Lua trong Mô_đun:Taxonbar tại dòng 141: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).