Nguyễn Như Ái
Nguyễn Như Ái (20 tháng 1 năm 1925 – 2004) là một nhà quay phim, đạo diễn, nhà làm phim tài liệu kỳ cựu của nền điện ảnh Cách mạng Việt Nam. Ông tham gia điện ảnh từ những ngày đầu của Chiến dịch Điện Biên Phủ và là một trong những nhà quay phim làm nên sự thành công của hàng loạt bộ phim tài liệu về chiến dịch này. Là một trong năm nhà quay phim khoa học đầu tiên của nền điện ảnh Việt Nam,[1] ông đã để lại nhiều dấu ấn với hàng loạt bộ phim phổ cập khoa học chất lượng cao, liên tiếp nhận được giải thưởng tại các kỳ Liên hoan phim Việt Nam. Trong suốt sự nghiệp của mình, ông đã để lại nhiều tác phẩm ấn tượng như Ðiện Biên Phủ, Vài hình ảnh về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Trở lại Ðiện Biên, Ong mắt đỏ.[2] Năm 1993, ông được nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú.[3]
| Nguyễn Như Ái | |
|---|---|
| Tập tin:Nguyễn Như Ái.jpg | |
| Thông tin cá nhân | |
| Sinh | |
Ngày sinh | 20 tháng 1, 1925 |
| Mất | |
Ngày mất | 2004 (78–79 tuổi) |
| Quốc tịch | |
| Nghề nghiệp |
|
| Gia đình | |
Hôn nhân | Phạm Thị Mỹ |
Con cái | Nguyễn Như Vũ |
| Lĩnh vực | Điện ảnh |
| Khen thưởng | |
| Danh hiệu | Nghệ sĩ ưu tú (1993) |
| Sự nghiệp điện ảnh | |
| Năm hoạt động | 1954–1986 |
| Thể loại |
|
| Tác phẩm |
|
| Giải thưởng | |
| Liên hoan phim Việt Nam 1980 Đạo diễn xuất sắc | |
| Chữ ký | |
| Nguyễn Như Ái trên X, Weibo, Facebook, Instagram, YouTube, và IMDb | |
Cuộc đời
Nguyễn Như Ái sinh ngày 20 tháng 1 năm 1925 tại thôn Yên Lã, xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn (nay là phường Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh, trong một gia đình vốn làm nghề thầy thuốc và dạy chữ Nho. Cha ông là Nguyễn Như Hoán, từng học tại Trường Sư phạm Đông Dương. Sau khi tốt nghiệp, cụ Hoán kế nghiệp con đường dạy học của gia đình. Cụ từng đi dạy học ở nhiều nơi như Hải Dương, Hải Phòng, Cao Bằng, rồi sau đó về lập nghiệp tại Hưng Yên. Tuổi thơ của Nguyễn Như Ái gắn liền với sự dạy bảo của cha.[4] Năm 1941 khi vừa 16 tuổi, ông được gửi ra Hà Nội để theo học tại Trường Cao đẳng Tiểu học Đông Dương. Tại đây, ông đã trở thành học trò của thầy Nguyễn Văn Hiếu – người về sau được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân.[5]
Lúc bấy giờ vì cuộc sống khó khăn, gia đình không thể chu cấp tiền học, Nguyễn Như Ái phải đi làm để kiếm sống. Tháng 9 năm 1943, ông vào nam mưu sinh, làm nhiều công việc khác nhau từ khuân vác, thợ sơn đến làm thuê tại một hiệu ảnh. Trong thời gian làm tại hiệu ảnh, ông đã học được một số kiến thức và kinh nghiệm với ống kính. Những lúc thợ chính vắng mặt, ông cũng có thể tiếp và chụp ảnh cho khách. Đến năm 1945 khi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, ông nhập ngũ và được điều ra tỉnh đội Hưng Yên làm công tác tuyên huấn.[6] Do biết nghề ảnh mà ông được phân công vừa chụp ảnh vừa chiếu bóng. Đến năm 1954, 9 năm sau khi nhập ngũ, ông bắt đầu sự nghiệp với điện ảnh trong một lần tình cờ găp đạo diễn Phạm Văn Khoa tại khu Đồi Cọ – thủ phủ của điện ảnh cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ – khi phải lên Việt Bắc đổi phim. Vì có khả năng đọc trôi chảy thuyết minh bằng tiếng Pháp, lại có kinh nghiệm với nhiếp ảnh, ông được nhận vào Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh.[7] Từ đây, ông bắt đầu sự nghiệp điện ảnh của mình với vai trò phụ quay trong bộ phim Chiến thắng Điện Biên Phủ và sau đó là bộ phim Tiếp quản thủ đô.[3]
Năm 1960, ông chuyển về Xưởng phim Thời sự Tài liệu Việt Nam (nay là Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương) và công tác tại đây cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1986.[8] Trong thời gian này, ông có 3 năm (1968-1970) quay phim ở chiến trường Lào và 1 năm (1972) làm phim ở mặt trận Trị-Thiên-Huế.[9] Ông qua đời vào năm 2004.[10]
Nhà làm phim tài liệu
Những tác phẩm đầu tay
Năm 1954, khi quân dân Việt Nam đang ráo riết chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ thì ngành điện ảnh Việt Nam cũng chuẩn bị lực lượng để ghi lại cuộc chiến này. Để có được bộ phim tài liệu hoàn chỉnh và cái nhìn tổng quan về chiến dịch, rất nhiều nhà làm phim tài liệu Việt Nam đã tham gia quay phim ở nhiều nơi khác nhau, đặc biệt là 2 tổ quay đã theo đoàn quân tiến sâu vào Điện Biên Phủ.[11] Tổ thứ nhất bao gồm Nguyễn Ngọc Quỳnh, Nguyễn Quý Lục và Nguyễn Văn Sinh do Nguyễn Tiến lợi làm đội trưởng và đảm nhiệm quay phim chính. Tổ quay này đã bám sát trận địa suốt hơn 8 tháng để quay lại những thước phim từ chiến trường.[12][13] Tổ thứ hai bao gồm Nguyễn Hồng Nghi, Nguyễn Thụ, Nguyễn Phu Cấn, Nguyễn Như Ái và Nguyễn Đăng Bảy.[14] Tổ quay này được bổ sung vào giai đoạn cuối của chiến dịch, hoạt động chủ yếu ở khu vực trung tuyến, phụ trách quay các cảnh tiếp tế, vận tải lương thực, đạn dược, thuốc men cho chiến trường. Trên đường đến một bản làng người Thái để kịp quay cảnh trao trả tù binh Pháp, tổ quay phim đã đi đường tắt và lạc vào bãi mìn. Mìn nổ khiến cho nhà quay phim Nguyễn Thụ bị cắt nát bàn chân và sau đó phải nhờ bác sĩ người Pháp tiến hành cắt bỏ bàn chân khi không có cả thuốc tê hay thuốc mê.[15]
Những thước phim chiến đấu ròng rã suốt nhiều tháng trời, kết hợp với những thước phim về sự chuẩn bị ở hậu phương, các công việc chuẩn bị ở hậu cần, tất cả được tổng hợp và biên tập nên bộ phim tài liệu Điện Biên Phủ[16] (hay thường gọi là Chiến thắng Điện Biên Phủ).[14][17] Sau khi hoàn thành, bộ phim đã được công chiếu rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới và được sự đón nhận mạnh mẽ của khán giả. Bộ phim không chỉ được xem là tác phẩm đánh dấu sự trưởng thành của nền điện ảnh cách mạng,[18] mà còn là tác phẩm gây tiếng vang đầu tiên đánh dấu sự ra đời của điện ảnh Việt Nam.[19][20] Trong sơ thảo Lịch sử điện ảnh cách mạng Việt Nam xuất bản năm 1983 của Cục Điện ảnh đã đánh giá: "Chiến thắng Điện Biên Phủ là tác phẩm tổng kết cả một giai đoạn phát triển đầu tiên của điện ảnh dân tộc Việt Nam trưởng thành trong chiến đấu".[21][18] Bộ phim sau đó đã nhận được Bông sen vàng cho phim tài liệu nhân 20 năm thành lập ngành điện ảnh Việt Nam (1953–1973). Đến năm 2012, bộ phim tiếp tục giúp đạo diễn Nguyễn Tiến Lợi được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật cho lĩnh vực điện ảnh.[22]
Ngay sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, một đoàn làm phim của Liên Xô bao gồm các nhà làm phim tài liệu Roman Lazarevich Karmen, Vladimir Semyonovich Yeshurin và Evgeny Mukhin đã sang Việt Nam để quay bộ phim tài liệu mang tên Việt Nam.[23][24] Ngoài đoàn làm phim đến từ Liên Xô, có các nhà làm phim Việt Nam đã tham gia vào công tác kỹ thuật, trong đó có Nguyễn Như Ái.[25] Bên cạnh những thước phim được quay bằng cách dàn dựng lại bối cảnh, bộ phim còn sử dụng những thước phim được quay trong thời gian chiến dịch diễn ra của các nhà quay phim Việt Nam.[26][27] Bản gốc của bộ phim vốn dĩ là phim màu. Sau khi hoàn thành bộ phim, đạo diễn Roman Karmen đã gửi tặng lại một bản cho các cộng sự người Việt Nam. Nhưng vì điều kiện kỹ thuật làm phim của Việt Nam tại những năm thập niên 50 còn thô sơ, không thể tráng được phim màu, nên khán giả Việt Nam chỉ biết đến bộ phim dưới dạng trắng đen cùng lời bình của nhà văn Nguyễn Đình Thi với tên gọi Việt Nam trên đường thắng lợi. Năm 2004, Đài Truyền hình Việt Nam đã mua bản quyền bản phim màu từ Viện Lưu trữ phim ảnh - tài liệu quốc gia Liên bang Nga. Đến tháng 4, phiên bản màu với cái tên chính thức mới được phát sóng ở Việt Nam.[28][29]
Năm 1959, Nguyễn Như Ái quay lại chiến trường Điện Biên Phủ cùng đoàn làm phim của đạo diễn Nguyễn Thụ và các nhà quay phim khác là Tô Cương, Dương Đình Thọ để thực hiện bộ phim Trở lại Điện Biên.[15] Bộ phim sau đó đã nhận được giải Lumunba tại Liên hoan phim Á-Phi tổ chức tại Jakarta, Indonesia vào năm 1964.[14] Năm 1968, Nguyễn Như Ái được cử sang Lào để hỗ trợ nước bạn xây dựng đội ngũ phóng viên quay phim. Ông tham gia ghi hình các chiến dịch lớn của quân đội Pathet Lào và quân tình nguyện Việt Nam. Đến nay, những thước phim ghi lại những trận đánh ác liệt của liên quân Việt – Lào do Nguyễn Như Ái cùng các học trò quay vẫn được lưu giữ tại Cục Điện ảnh. Nhờ những đóng góp này mà ông được nhà nước Lào trao tặng nhiều huân huy chương.[30]
Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và Ngày độc lập 2/9/1945
Thu thập tư liệu
Sau khi Việt Nam và Hoa Kỳ ký hiệp định Paris 1973 về việc chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình tại Việt Nam, Nguyễn Như Ái đã có cơ hội được thực hiện bộ phim tài liệu về thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp vào những năm 1920. Năm 1974, đoàn công tác gồm đạo diễn Phạm Kỳ Nam, biên kịch Hồng Hà và nhà quay phim Nguyễn Như Ái được Bộ Văn hóa cử sang các nước Pháp, Anh và Ý để thu thập tài liệu thực hiện bộ phim Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.[31] Tại Paris, đoàn đã đến ngôi nhà số 9 ngõ Compoint, quận 17 Paris – nơi người thanh niên Nguyễn Ái Quốc từng sống và hoạt động cách mạng từ năm 1921 đến 1923[32] – để quay chụp và lấy tư liệu. Lúc bấy giờ, ngôi nhà có thể sắp bị phá dỡ nên đoàn đã ghi chép rất tỉ mỉ để có thể làm tư liệu cho việc dựng phim truyện sau này. Một địa điểm khác mà đoàn đến quay là ngôi nhà số 3 phố Marché des Patriarches – trụ sở Hội liên hiệp các dân tộc cùng khổ và báo Người cùng khổ.[33]
Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc là người Đông Dương duy nhất tham dự Đại hội toàn quốc lần thứ 18 Đảng xã hội Pháp tại thành phố Tours.[34] Trong chuyến công tác này, đoàn làm phim đã sưu tầm được đoạn phim quay cảnh đoàn đại biểu bước vào phòng họp và khẩu hiệu "Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!" phía sau Đoàn Chủ tịch Đại hội. Đây là những thước phim quý bởi lúc bấy giờ, phòng họp của đại hội đã trở thành một vườn hoa. Hơn 30 mét phim đã được đoàn công tác mua lại với giá không hề rẻ.[33] Trước khi lên đường sang châu Âu, đoàn làm phim đã được Tổng Bí thư Trường Chinh giao nhiệm vụ tìm kiếm thước phim tài liệu quay lại khung cảnh ngày 2 tháng 9 năm 1945 khi Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Khi đã sắp hoàn thành công việc thu thập tư liệu ở Pháp, một người lạ đã gửi tặng đoàn công tác những thước phim vô cùng quý giá về khung cảnh Quảng trường Ba Đình năm ấy, nhưng trong lúc vội vàng, đạo diễn Phạm Kỳ Nam đã không hỏi rõ nguồn gốc của cuộn phim.[35][36]
Dựng phim
Theo thông tin từ Nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Như Vũ – con trai của Nguyễn Như Ái, đồng thời là nguyên Tổng Giám đốc Hãng phim Tài liệu Khoa học Việt Nam, đoàn công tác của Nguyễn Như Ái còn tìm được 3 thước phim về Đông Dương giai đoạn này nhờ sự hỗ trợ của đạo diễn người Ba Lan Joris Ivens. Một trong ba thước phim đã ghi lại khung cảnh Hà Nội vào ngày độc lập, từ hình ảnh người dân cầm biểu ngữ, đoàn xe tiến vào Quảng trường cho đến hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trên lễ đài. Dựa trên những thước phim ít ỏi đó, đạo diễn Phạm Kỳ Nam và đạo diễn hình ảnh Lê Mạnh Thích đã bắt tay vào trau chuốt lại và dựng nên bộ phim tài liệu Ngày độc lập 2/9/1945.[37] Bên cạnh những thước phim tài liệu tìm được, Nguyễn Như Ái còn quay bổ sung những địa điểm quan trọng như Ngôi nhà số 48 Hàng Ngang – nơi Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn độc lập,[a][38] cảnh lá cờ tung bay trong gió được quay trên nóc Sân vận động Hà Nội, cùng nhiều cảnh đẹp trên khắp cả nước.[39]
Bộ phim chỉ dài khoảng 15 phút với những cảnh quay đơn giản, ngôn ngữ hình ảnh chắt lọc, cùng hàng loạt những bài hát quen thuộc đối với quân dân Việt Nam như Du kích ca (Đỗ Nhuận), Cùng nhau đi hồng binh (Đinh Nhu), Tiến quân ca, Chiến sĩ Việt Nam (đều của Văn Cao), và kết thúc với lời bình, lời quốc dân tuyên thệ và đặc biệt là giọng đọc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xưởng phim Tài liệu Trung ương đã gấp rút sản xuất bộ phim và cho ra mắt khán giả vào đúng dịp lễ kỷ niệm 30 năm Ngày Quốc khánh Việt Nam năm 1975.[39] Những thước phim đen trắng này thường xuyên xuất hiện trên truyền hình quốc gia vào dịp Quốc khánh Việt Nam.[40][41]
Trong khoảng thời gian này, bộ phim Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh về chặng đường hoạt động cách mạng người thanh niên Nguyễn Ái Quốc từ năm 1917 đến năm 1923 cũng được đưa vào sản xuất và hoàn thiện. Bộ phim cũng được hoàn thành và cho ra mắt khán giả Việt Nam trong tháng 5 năm 1975 để kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Đảng Lao động Việt Nam, 85 năm ngày sinh của Hồ Chủ tịch và 30 năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[31] Cả hai bộ phim Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và Ngày độc lập 2/9/1945 đều đánh dấu một bước tiến lớn của điện ảnh Việt Nam trong việc thực hiện và xây dựng phim tài liệu về Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như các lãnh đạo đương thời. Riêng bộ phim Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã sử dụng sáng tạo cấu trúc thủ pháp thể hiện: Quá khứ, hiện tại, thời gian, không gian được đồng hiện, đan xen để thể hiện nhịp điệu, tiết tấu cho tác phẩm.[39] Bộ phim đã mở đầu cho hàng loạt phim tài liệu về những chặng đường hoạt động của Hồ Chủ tịch ở nước ngoài, được tiếp tục thực hiện khi Việt Nam đã thống nhất.[42]
Hành trình tìm kiếm những tư liệu quý của đoàn công tác cũng như quá trình để thực hiện bộ phim tài liệu Ngày độc lập 2/9/1945 đã trở thành nguồn cảm hứng của các thế hệ làm phim sau này. Năm 2003, đạo diễn Nguyễn Như Vũ đã thực hiện bộ phim phóng sự Đi tìm những tác giả của bộ phim Ngày độc lập 2-9-1945 về chuyến công tác này của cha mình.[43] Về sau, phóng sự này thường được chiếu kèm với bộ phim tài liệu gốc trong những dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Ngày Quốc khánh Việt Nam.[44] Đến năm 2018, hành trình này tiếp tục trở thành đề tài của bộ phim tài liệu Báu vật trở về do Hãng phim Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh sản xuất và công chiếu nhân dịp kỷ niệm 70 năm Ngày Quốc khánh.[45]
Những bộ phim tài liệu giành giải Bông sen
Từ năm 1960, Nguyễn Như Ái đã hợp tác cùng các đạo diễn Phạm Kỳ Nam và Nguyễn Hồng Nghi để thực hiện bộ phim tài liệu về đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó bộ phim đã giành được giải Bông sen vàng nhân kỷ niệm 20 năm Điện ảnh Cách mạng Việt Nam.[46] Sau đó, Nguyễn Như Ái và Phạm Kỳ Nam tiếp tục có cơ hội hợp tác trong chuyến công tác sang châu Âu. Cũng trong chuyến đi này, đoàn công tác của Nguyễn Như Ái đã được một Việt kiều Pháp là họa sĩ Mai Trung Thứ cung cấp những tư liệu về chuyến sang Pháp của Hồ Chủ tịch năm 1946 để đấu tranh trên bàn ngoại giao cho nền độc lập tự chủ của Việt Nam. Trong chuyến thăm Pháp, Hồ Chủ tịch đã có câu nói "Miền Nam trong trái tim tôi". Đạo diễn Phạm Kỳ Nam đã lấy chính câu nói này làm tiêu đề cho bộ phim tài liệu mới.[31] Với bộ phim Miền Nam trong trái tim tôi, đây là lần đầu tiên điện ảnh tài liệu Việt Nam có được một số tư liệu lớn quay hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và những tư liệu quý về ông sưu tầm được ở nước ngoài. Đây cũng là nguồn tài liệu quan trọng để Việt Nam thực hiện những bộ phim tài liệu về vị lãnh tụ này.[47] Tác phẩm này không chỉ giành được Bông sen bạc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 4 năm 1977, mà còn giúp đạo diễn Phạm Kỳ Nam chiến thắng tại hạng mục Đạo diễn xuất sắc nhất cho phim tài liệu.[48] Hai bộ phim tài liệu từ sự hợp tác giữa Nguyễn Như Ái và Phạm Kỳ Nam đã được nhắc đến trong Từ điển Điện ảnh bách khoa toàn thư của Liên Xô là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh (Нгуен Аи Куок - Хо Ши Мин) và Miền Nam trong trái tim tôi (Вьетнам в сердце моём).[49]
Năm 1984 khi sắp đến tuổi về hưu, Nguyễn Như Ái lại bắt tay vào sản xuất bộ phim tài liệu Thầy trò chúng tôi nói về người thầy năm xưa của ông là nhà giáo Nguyễn Văn Hiếu. Thầy là một nhà giáo nổi tiếng đương thời, đã dạy dỗ rất nhiều thế hệ học sinh, từ các Ủy viên Trung ương Đảng, các Bộ – Thứ trưởng, các vị tướng trong quân đội cho đến các văn nghệ sĩ. Bộ phim bắt đầu với khung cảnh người thầy gần 90 tuổi cùng các học trò cũng xấp xỉ 70, 80 tuổi cùng về thăm lại ngôi trường ngày xưa. Người xem đã có cơ hội xem được từng thế hệ học sinh như nhà văn Nguyễn Công Hoan, thiếu tướng Nguyễn Sơn, trung tướng Nguyễn Hòa, Bộ trưởng Đỗ Quốc Sam, nhạc sĩ Phong Nhã, họa sĩ Nguyễn Như Huân, luật sư Nguyễn Thành Vinh đến thăm người thầy Nguyễn Văn Hiếu khi thầy được nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập. Thầy và trò chúng tôi đã gây ấn tượng mạnh với người xem bởi nội dung chứa nhiều sự nhân văn và ý nghĩa giáo dục. Bộ phim sau đó đã giành được Bông sen bạc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 7 năm 1985.[50]
Sự nghiệp làm phim khoa học
Các bộ phim phổ cập khoa học
Sau khi chiến tranh Đông Dương kết thúc vào năm 1954, một loại hình phim tài liệu mới bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam. Phim phổ biến khoa học bắt đầu xuất hiện vào giai đoạn 1956–1957 với hai bộ phim đầu tiên là Làm cho lúa tốt của đạo diễn Trần Thịnh và Giữ sức khỏe để sản xuất của đạo diễn Khánh Dư.[51] Về mặt thể hiện và kết cấu, hai bộ phim này đều chưa có quá nhiều điểm khác biệt so với các phim tài liệu trước đó, nhưng cũng đã hướng dẫn tương đối đầy đủ các thao tác, biện pháp, cách thực hiện dựa trên những kiến thức khoa học. Đây được xem là mầm mống đầu tiên tạo tiền đề cho sự ra đời của loại hình phim phổ biến khoa học. Sau hai bộ phim trên, Nguyễn Như Ái đã bắt tay vào thực hiện bộ phim Chống đau mắt hột.[52] Đây là tác phẩm đầu tiên ông đảm nhiệm vai trò quay phim chính và cũng là bộ phim khoa học đầu tiên được xây dựng với sự hợp tác của cơ quan chuyên môn,[53] với sự hỗ trợ của Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch.[54]
Trong giai đoạn 1959–1962, điện ảnh Việt Nam lần lượt xuất hiện những bộ phim khoa học với nội dung hướng dẫn kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, và nội dung liên quan đến những kiến thức nhằm phòng tránh dịch bệnh. Trong cả hai mảng đề tài này, Nguyễn Như Ái đều có đóng góp của riêng mình với hai bộ phim Chọc lọc giống lúa và Chống sốt rét. Mặc dù có không ít bộ phim ra đời, những những bộ phim phổ biến khoa học đầu tiên này chỉ đạt mức độ phổ biến khoa học kỹ thuật thường thức, phổ biến những kiến thức cơ bản về các lĩnh vực khác nhau, nhằm phục vụ sản xuất, chiến đấu và đời sống, đáp ứng các nhu cầu xã hội và thời đại tại Việt Nam lúc bấy giờ. Dấu mốc tạo nên sự khác biệt cho dòng phim này chính là sự ra đời của phân xưởng làm phim khoa học tại Xưởng phim Thời sự Tài liệu Việt Nam. Cũng từ đây mà loại hình điện ảnh này tại Việt Nam bắt đầu xuất hiện những đặc thù riêng của thể loại. Đầu năm 1963, đội làm phim khoa học trong Xưởng phim Thời sự Tài liệu Việt Nam được thành lập với 9 thành viên, với một đạo diễn duy nhất là Trần Quốc Ân và các nhà quay phim kiêm nhiệm khác bao gồm Nguyễn Như Ái. Sự kiện đội chuyên làm phim phổ biến khao học kỹ thuật ra đời đã đánh dấu bước phát triển của điện ảnh phổ biến khoa học Việt Nam cả về số lượng cũng như chất lượng. Năm 1963 là thời điểm đạt kỷ lục cao về số lượng sản xuất phim phổ biến khoa học với 19 bộ phim trong vòng 1 năm, với đội ngũ chỉ có 9 người.[55]
Năm 1971, ông bắt tay vào thực hiện bộ phim khoa học xã hội Hùng Vương dựng nước nói về lịch sử thời Hùng Vương, một đề tài mà phim khoa học Việt Nam chưa từng làm.[56] Năm 1972, trong buổi lễ kỷ niệm ba năm thành lập Hội Điện ảnh Việt Nam, Ban Thường vụ Hội đã tiến hành khen thưởng cho một số bộ phim, cũng như một số tập thể, cá nhân trong các mảng phim truyện, phim tài liệu phóng sự và phim hoạt họa. Trong đó, Nguyễn Như Ái là một trong số các cá nhân của mảng phim tài liệu phóng sự được khen thưởng bên cạnh các nhà làm phim khác như Nguyễn Nhất Hiên, Phan Trọng Quỳ, Ma Văn Cường, Đặng Thu Vân, Trần Quốc Ân.[57]
Những bộ phim về động vật
Làm phim khoa học ở Việt Nam trong giai đoạn này được đánh giá là rất khó khăn, đặc biệt đối với những phim về đề tài động vật. Nguyên nhân có thể kể đến là chưa có thiết bị chuyên dùng để quay những kỹ xảo đặc biệt, không có các khu vườn riêng để phục vụ cho việc làm phim về thế giới động vật mà phụ thuộc hoàn toàn vào các cơ sở chuyên môn. Vào những năm 80 của thế kỷ 20, mỗi năm Xưởng phim Khoa học sản xuất trên dưới khoảng 20 bộ phim. Để tránh sự nhàm chán và đơn điệu, các nhà làm phim phải có cách tìm tòi thể hiện phong phú.[58] Trong lĩnh vực này, Nguyễn Như Ái được xem là người có nhiều đóng góp quan trọng. Đặc biệt, ông là người đầu tiên quay thành công qua kính hiển vi với bộ phim Ong mắt đỏ. Ông sử dụng phương pháp úp trực tiếp máy quay lên kính hiển vi, dò tìm đúng tiêu cự để lấy nét. Để tránh độ nóng từ ánh sáng đèn quay phim có thể ảnh hưởng đến sinh vật trong bối cảnh Việt Nam chưa có kỹ thuật sử dụng ánh sáng lạnh, ông đã sử dụng ánh sáng tự nhiên rồi lắp thêm kính phản chiếu để quay.[58]
Bộ phim Ong mắt đỏ đã nêu ra một vấn đề khoa học mang tính thời sự của Việt Nam những năm cuối thập niên 70, đó là tình trạng sâu bệnh phá hoại mùa màng phát triển mạnh. Bộ phim bắt đầu với việc phân tích tác hại của sâu bệnh đối với cây trồng và biện pháp phòng chống bằng thuốc trừ sâu hóa học. Những cảnh quay qua kính hiển vi trong phim được đánh giá là rất hiệu quả khi những con ong chỉ nhỏ bằng đầu kim được phóng to hàng nghìn lần trên màn ảnh. Ngoài ra, Nguyễn Như Ái còn cho khán giả xem cận cảnh con ong mắt đỏ đẻ trứng trực tiếp lên trứng sâu, từ đó phân tích tập tính sinh học của chúng. Đây được xem là cách thể hiện phim khoa học khá mới mẻ trong bối cảnh làm phim thiếu nhiều phương tiện và thiết bị những năm 70. Bộ phim không chỉ giành được Bông sen Bạc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 5 mà còn giúp Nguyễn Như Ái chiến thắng hạng mục Đạo diễn xuất sắc nhất cho phim khoa học.[59]
Nếu Ong mắt đỏ bị đánh giá là có phần khô khan khi nội dung đôi khi bị dàn trải và tập trung vào trình bày vấn đề khoa học, thì bộ phim sau đó của Nguyễn Như Ái là Ong mật và cây trồng được sản xuất năm 1981 đã được ông điều chỉnh lại mạch phim để súc tích và hài hòa hơn. Khác với hai bộ phim khoa học trước đó, lần này ông không đảm nhiệm vai trò quay phim chính mà chỉ kiêm nhiệm đạo diễn và biên kịch. Người phụ trách quay phim là Hoàng Ngọc Dũng sau đó đã giành được giải Quay phim xuất sắc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 6. Trong bộ phim này, Nguyễn Như Ái vẫn tiếp tục trung thành với lối dựng phim xen kẽ để thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa công tác nghiên cứu khoa học với thực tế sản xuất. Đây được đánh giá là bộ phim vừa có sự phân tích khoa học khá sâu, vừa có ý nghĩa phổ biến, hướng dẫn khoa học, với nhiều cảnh quay đẹp, trau chuốt và công phu. Trong phạm vi của một bộ phim có độ dài 2 cuốn, Nguyễn Như Ái đã cung cấp cho người xem những hiểu biết cơ bản về lợi ích của loài ong mật cũng như nghề nuôi ong lấy mật.[60] Bộ phim đã giành được Bông sen bạc cho phim khoa học tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 6.[61]
Tác phẩm
Phim khoa học
| Năm | Tác phẩm | Vai trò | Ghi chú | Nguồn | ||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Đạo diễn | Biên kịch | Quay phim | ||||
| 1957 | Chống đau mắt hột | Có | Có | Có | Cố vấn: Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch | [54] |
| 1961 | Chống sốt rét | Có | Không | Có | [62] | |
| 1963 | Chống lao | Có | Không | Có | Đồng đạo diễn: Trần Quốc Ân Cố vấn: Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch |
[63] |
| Cải tạo đất bạc màu | Có | Có | Có | [63] | ||
| Bệnh nhiệt thán trâu bò | Có | Có | Có | [63] | ||
| Tăng năng suất lúa | Không | Trần Hữu Hạnh | Có | Đồng quay phim: Xuân Thành | [63] | |
| Chọn giống lúa | Có | Có | Có | [63] | ||
| Xen canh gối vụ | Có | Có | Có | [63] | ||
| 1964 | Phân bón và cây trồng | Có | Có | Có | [63][64] | |
| Phù sa - nguồn phân bón vô tận | Có | Có | Có | [65] | ||
| Kỹ thuật trồng dừa | Có | Có | Có | [65][66] | ||
| 1965 | Thành tựu của ngành đông y | Có | Có | Có | [65][67] | |
| Cấp cứu phòng không | Ba Kỳ | Nguyễn Tấn Tài | Có | Đồng quay phim: Võ Huề | [65][68] | |
| Cày sâu lúa tốt | Có | Có | Có | [65] | ||
| Tưới lúa theo phương pháp khoa học | Có | Có | Có | [69][70] | ||
| 1969 | Nuôi trâu | Có | Có | Có | [71][72] | |
| 1971 | Hùng Vương dựng nước | Có | Có | Có | [73][56] | |
| 1973 | Phòng dịch lỵ | Có | Có | Có | [74][56] | |
| 1975 | Lấn biển | Có | Có | Có | [75] | |
| Nghệ thuật tạo hình | Có | Có | Có | [75] | ||
| Những hiện tượng vật lý | Có | Có | Có | [75] | ||
| 1977 | Đòn bẩy và đời sống | Có | Có | Quang Phúc | [75] | |
| 1978 | Rắn - nguồn dược liệu | Có | Có | Có | [76] | |
| 1980 | Đời sống con tằm | Có | Có | Có | [77][78] | |
| Ong mắt đỏ | Có | Có | Có | Đồng quay phim: Nguyễn Phước | [79] | |
| 1981 | Ong mật và cây trồng | Có | Có | Hoàng Ngọc Dũng | Đồng biên kịch: Bùi Văn Lương | [80][60] |
| Cải tạo giống cây | Có | Có | Có | Đồng quay phim: Ngọc Phúc | [81] | |
| Lai tạo giống lúa | Có | Có | Có | Đồng quay phim: Ngọc Phúc | [81] | |
| Kỹ thuật trồng táo | Có | Có | Có | Đồng quay phim: Hoàng Dũng | [81] | |
| 1986 | Cá chép lai | Có | Có | Có | [82][83] | |
Phim tài liệu
| Năm | Tác phẩm | Vai trò | (Đồng) Đạo diễn | (Đồng) Quay phim | Nguồn | |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Đạo diễn | Quay phim | |||||
| 1954 | Chiến thắng Điện Biên Phủ | Không | Có | NSND Nguyễn Tiến Lợi |
|
[14] |
| Tiếp quản thủ đô | Không | Có | Roman Karmen |
|
[30][69] | |
| 1955 | Việt Nam | Không | Có | [25] | ||
| 1959 | Trở lại Điện Biên | Không | Có |
|
|
[15] |
| 1960 | Vài hình ảnh về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch | Không | Có |
|
[84][85] | |
| 1975 | Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh | Không | Có | NSND Phạm Kỳ Nam | [86] | |
| Ngày Độc lập 2/9/1945 | Không | Có | NSND Phạm Kỳ Nam | [37] | ||
| 1976 | Miền Nam trong trái tim tôi | Không | Có | NSND Phạm Kỳ Nam | Phạm Đình Thăng | [87] |
| 1979 | Kim Liên quê Bác | Có | Có | |||
| 1984 | Thầy trò chúng tôi | Có | Có | Triệu Thế Chiến | [61][88] | |
Thành tựu
- Danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú (1993).
- Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhì.
- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.
Giải thưởng
| Năm | Lễ trao giải | Hạng mục | Tác phẩm | Kết quả | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| 1964 | Liên hoan phim Á-Phi | Giải Lumunba | Trở lại Điện Biên | Đoạt giải | [89] |
| 1970 | Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 2 | Phim tài liệu | Chiến thắng Điện Biên Phủ | Bông sen vàng | [90][91] |
| Vài hình ảnh về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch | Bông sen vàng | [46][92] | |||
| 1977 | Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 4 | Miền Nam trong trái tim tôi | Bông sen bạc | [87] | |
| 1980 | Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 5 | Phim khoa học | Ong mắt đỏ | Bông sen bạc | [93][94] |
| Đạo diễn xuất sắc | Đoạt giải | [59] | |||
| 1983 | Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 6 | Phim khoa học | Ong mật và cây trồng | Bông sen bạc | [61] |
| 1985 | Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 7 | Phim tài liệu | Thầy trò chúng tôi | Bông sen bạc | [95] |
Đời tư
Trong quá trình công tác tại khu Đồi Cọ, Nguyễn Như Ái đã gặp bà Phạm Thị Mỹ – người làng Lai Xá vốn nổi tiếng với nghề nhiếp ảnh. Lúc bấy giờ, bà đang phụ trách làm ảnh và in tráng phim bằng guồng quay. Hai người kết hôn và có với nhau ba người con, hai trong số đó cũng từng công tác tại Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương như cha mẹ.[96] Người con trai duy nhất của vợ chồng Nguyễn Như Ái chính là Nguyễn Như Vũ, một biên kịch, đạo diễn và nhà sản xuất phim tài liệu xuất sắc.[97][98] Ông từng là Giám đốc Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương,[99] được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân và Giải thưởng nhà nước về Văn học nghệ thuật.[100]
Chú thích
- ^ Nay đã trở thành Khu Di tích 48 Hàng Ngang.
Tham khảo
- ^ Trần Duy Hinh (2003), tr. 41.
- ^ Lý Phương Dung (ngày 12 tháng 3 năm 2013). "Những người "chép sử" bằng điện ảnh". Báo Nhân Dân điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
- ^ a b Hội Điện ảnh Việt Nam (2000), tr. 17.
- ^ Lại Văn Sinh (2001), tr. 15.
- ^ Lại Văn Sinh (2001), tr. 15–16.
- ^ Lại Văn Sinh (2001), tr. 16.
- ^ Lại Văn Sinh (2001), tr. 17.
- ^ Trần Trọng Đăng Đàn (2010a), tr. 337.
- ^ Trần Trọng Đăng Đàn (2010a), tr. 338.
- ^ Thi Phong (ngày 25 tháng 4 năm 2024). "Kể câu chuyện của lịch sử bằng hình ảnh". Báo Nhân Dân điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2025.
- ^ Kiến Nghĩa (ngày 27 tháng 4 năm 2014). "Máu đổ khi làm phim "Việt Nam" của Karmen". Báo điện tử Tiền Phong. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2023.
- ^ Hải Ninh (ngày 22 tháng 4 năm 2009). "Ðạo diễn của những bộ phim lịch sử". Báo Nhân Dân điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2023.
- ^ Kiến Nghĩa (ngày 26 tháng 4 năm 2024). "Những bộ phim đầu tiên về chiến dịch Điện Biên Phủ". Báo điện tử Tiền Phong. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2024.
- ^ a b c d "Quay phim Điện Biên Phủ - Những câu chuyện sau 54 năm mới kể". Báo Nhân Dân điện tử. ngày 9 tháng 5 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2023.
- ^ a b c Ngọc Tuấn; Thành Trung (ngày 7 tháng 5 năm 2007). "Những người quay phim chiến thắng Điện Biên". Báo Tuổi trẻ. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2025.
- ^ T.Minh (ngày 7 tháng 3 năm 2013). "Ngày hội lớn với Ngành Điện ảnh Việt Nam". Báo Hànộimới. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2023.
- ^ Võ Hà Linh (ngày 31 tháng 3 năm 2004). ""Chiến thắng Điện Biên Phủ", bộ phim tư liệu quý". Báo Nhân Dân điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2023.
- ^ a b Hoàng Thanh và đồng nghiệp (2003), tr. 66.
- ^ Ngô Phương Lan (1998), tr. 13.
- ^ Trần Khánh Chương (2012), tr. 347.
- ^ Hải Ninh (2003), tr. 179.
- ^ K.Huyền (ngày 15 tháng 5 năm 2012). "Công bố giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước, danh hiệu NSND, NSƯT". Báo Quân đội nhân dân (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2023.
- ^ Duy Trinh (ngày 6 tháng 5 năm 2014). "Kỳ công Điện Biên Phủ của các nhà quay phim tài liệu Liên Xô". Báo Tin tức. Thông tấn xã Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2023.
- ^ Duy Trinh (ngày 7 tháng 5 năm 2014). "Kỳ công Điện Biên Phủ của các nhà quay phim tài liệu Liên Xô (Kỳ cuối)". Báo Tin tức. Thông tấn xã Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2023.
- ^ a b Lại Văn Sinh (2001), tr. 26.
- ^ Chu Chí Thành (ngày 29 tháng 4 năm 2018). "Gỡ bỏ nghi vấn một số ảnh nổi tiếng". Báo điện tử Tiền Phong. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2023.
- ^ Chiêu Minh (ngày 6 tháng 5 năm 2014). "Chuyện chưa kể từ đạo diễn Liên Xô Roman Karmen". Báo Thể thao & Văn hóa. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2023.
- ^ L.Q.V (ngày 5 tháng 4 năm 2004). "Chuyện về những thước phim màu Điện Biên Phủ". Tuổi Trẻ Online. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2023.
- ^ "60 năm Điện ảnh cách mạng Việt Nam: Kể chuyện làm phim "Việt Nam" của Roman Karmen". Báo Công an Nhân dân điện tử. ngày 18 tháng 3 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2023.
- ^ a b Đặng Quang Phong (2004). "Người chiến sĩ quay phim trong chiến dịch Điện Biên". Trong Hội Cựu chiến binh Việt Nam (biên tập). Âm vang Điện Biên. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. OCLC 152604287.
- ^ a b c Ngô Mạnh Lân và đồng nghiệp (2005), tr. 42.
- ^ Nguyễn Thảo; Ban Mai; Lam Anh. "Kỳ 2: Người thanh niên "không tuổi" trong ngôi nhà "bốn không"". Báo Quân đội nhân dân. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2024.
- ^ a b Đào Ngọ (ngày 11 tháng 5 năm 1975). "Quay phim Bác ở Pa-ri". Báo Hànộimới. Quyển 2254. tr. 2. OCLC 10331618. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2024.
- ^ Nguyễn Phan Quang (2004). "Đồng chí Nguyễn Ái Quốc và Đại hội toàn quốc lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp". Tạp chí Lịch sử Đảng. Quyển 9. ISSN 0936-8477. OCLC 34666342. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2024.
- ^ Trung Sơn (2004), tr. 120.
- ^ Hoàng Thanh và đồng nghiệp (2003), tr. 119.
- ^ a b Ngọc Diệp (ngày 2 tháng 9 năm 2017). "Đi tìm những tác giả của bộ phim Ngày độc lập". Tuổi Trẻ Online. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2025.
- ^ Quý Đoàn (ngày 28 tháng 8 năm 2015). "Nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn độc lập". VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2016.
- ^ a b c Lê Thị Bích Hồng (ngày 19 tháng 5 năm 2020). "Viết tiếp câu chuyện về đạo diễn Phạm Kỳ Nam: Chiếc 'chìa khóa vàng' để mở 'kho vàng' lịch sử". Báo Thể thao & Văn hóa. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2024.
- ^ Thanh Giang (ngày 26 tháng 8 năm 2010). "Chiếu miễn phí phim tài liệu dịp 2/9 và Đại lễ -- 1000 Years Thang Long". VietnamPlus. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2024.
- ^ Nguyễn Huyền; Văn Việt (ngày 2 tháng 9 năm 2016). "Những thước phim tư liệu quý về 'Ngày Độc lập 2/9/1945'". Báo điện tử của Đài Truyền hình Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2024.
- ^ Thái Kiều Ngân (ngày 29 tháng 6 năm 2007). "Hình tượng Bác Hồ trong phim tài liệu". Báo Nhân Dân điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2024.
- ^ "6 phút phim tư liệu vô giá về Ngày Độc lập". Báo Dân trí. ngày 2 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
- ^ "Một số chương trình phát sóng ngày 2-9". Báo Nhân Dân. ngày 1 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
- ^ V.V.Tuấn; H.Lê; V.V.Thành (ngày 2 tháng 9 năm 2015). "Nhiều sự kiện mừng Tết Độc lập". Báo Tuổi trẻ. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
- ^ a b Hồng Lực (2000), tr. 65.
- ^ Ngô Mạnh Lân và đồng nghiệp (2005), tr. 43.
- ^ Lê Thị Bích Hồng (ngày 30 tháng 4 năm 2020). "Đạo diễn Phạm Kỳ Nam: 'Chung một dòng sông' - phim truyện đầu tiên của Việt Nam". Báo Thể thao & Văn hóa. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2022.
- ^ Yutkevich (1987), tr. 640.
- ^ Lại Văn Sinh (2001), tr. 24–25.
- ^ Hoàng Thanh và đồng nghiệp (2003), tr. 88.
- ^ Hoàng Thanh và đồng nghiệp (2003), tr. 89.
- ^ Lại Văn Sinh (2001), tr. 18.
- ^ a b Trần Duy Hinh (2003), tr. 56.
- ^ Hoàng Thanh và đồng nghiệp (2003), tr. 90.
- ^ a b c Trần Duy Hinh (2003), tr. 94.
- ^ "Kỷ niệm 3 năm thành lập Hội Điện ảnh". Văn hóa nghệ thuật. Quyển 25–36. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch. 1973. tr. 74. ISSN 0866-8655. OCLC 1192320906. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
- ^ a b Lại Văn Sinh (2001), tr. 20.
- ^ a b Lại Văn Sinh (2001), tr. 21.
- ^ a b Lại Văn Sinh (2001), tr. 21–22.
- ^ a b c Ngô Mạnh Lân và đồng nghiệp (2005), tr. 618.
- ^ Trần Duy Hinh (2003), tr. 265.
- ^ a b c d e f g Trần Duy Hinh (2003), tr. 266.
- ^ Hoàng Thanh và đồng nghiệp (2003), tr. 481.
- ^ a b c d e Trần Duy Hinh (2003), tr. 267.
- ^ Hoàng Thanh và đồng nghiệp (2003), tr. 473.
- ^ Hoàng Thanh và đồng nghiệp (2003), tr. 486.
- ^ Hoàng Thanh và đồng nghiệp (2003), tr. 460.
- ^ a b Hoàng Thanh và đồng nghiệp (2003), tr. 487.
- ^ Trần Duy Hinh (2003), tr. 268.
- ^ Hoàng Thanh và đồng nghiệp (2003), tr. 480.
- ^ Trần Duy Hinh (2003), tr. 270.
- ^ Hoàng Thanh và đồng nghiệp (2003), tr. 471.
- ^ Hoàng Thanh và đồng nghiệp (2003), tr. 482.
- ^ a b c d Trần Duy Hinh (2003), tr. 273.
- ^ Trần Duy Hinh (2003), tr. 274.
- ^ Ngô Mạnh Lân và đồng nghiệp (2005), tr. 569.
- ^ Lại Văn Sinh (2001), tr. 23.
- ^ Trần Duy Hinh (2003), tr. 275.
- ^ Ngô Mạnh Lân và đồng nghiệp (2005), tr. 572.
- ^ a b c Trần Duy Hinh (2003), tr. 276.
- ^ Ngô Mạnh Lân và đồng nghiệp (2005), tr. 585.
- ^ Lại Văn Sinh (2001), tr. 19.
- ^ Trần Trọng Đăng Đàn (2010d), tr. 873.
- ^ Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (2003), tr. 471.
- ^ Hoàng Thanh và đồng nghiệp (2003), tr. 118.
- ^ a b Trần Trọng Đăng Đàn (2010d), tr. 549.
- ^ Trần Trọng Đăng Đàn (2010d), tr. 779.
- ^ Trần Trọng Đăng Đàn (2010d), tr. 846.
- ^ Mai An (ngày 7 tháng 3 năm 2013). "Nhiều tác phẩm điện ảnh kinh điển của Việt Nam được chiếu lại". Báo Sài Gòn Giải Phóng. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2023.
- ^ Thiên Lam (ngày 8 tháng 3 năm 2013). "Điện ảnh Việt Nam 60 năm nhìn lại". Báo điện tử Dân Trí. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2023.
- ^ Trung Sơn (2004), tr. 53 & 191.
- ^ Lý Phương Dung (ngày 12 tháng 3 năm 2013). "60 Năm Ngày truyền thống điện ảnh Cách mạng Việt Nam: Những người "chép sử" bằng điện ảnh". Báo Nhân Dân điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2024.
- ^ Ngô Mạnh Lân và đồng nghiệp (2005), tr. 617.
- ^ Ngô Mạnh Lân và đồng nghiệp (2005), tr. 621.
- ^ Lại Văn Sinh (2001), tr. 26–27.
- ^ Lại Văn Sinh (2001), tr. 27.
- ^ Huy Minh (ngày 19 tháng 4 năm 2025). "NSND dám học lại từ đầu ở tuổi trung niên là ai?". VietNamNet. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2025.
- ^ Ngọc An (ngày 16 tháng 1 năm 2019). "Di sản điện ảnh bị cất kho!". Báo Thanh niên. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2025.
- ^ Thu Thương; Hồng Hà (ngày 20 tháng 5 năm 2023). "Tác giả tự hào được ghi nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về VHNT". Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2025.
Nguồn
- Hải Ninh (2003). "Đạo diễn – Nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Tiến Lợi". Trong Lê Đình Phương; Trần Thanh Tùng; và đồng nghiệp (biên tập). Nghệ sĩ điện ảnh Việt Nam. Trung tâm Nghiên cứu Nghệ thuật và Lưu trữ Điện ảnh Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh. tr. 173–196. OCLC 303676851.
- Hoàng Thanh; Vũ Quang Chính; Ngô Mạnh Lân; Phan Bích Hà (2003). Nguyễn Thị Hồng Ngát; và đồng nghiệp (biên tập). Lịch sử điện ảnh Việt Nam, Tập 1. Hà Nội: Cục Điện ảnh Việt Nam. OCLC 53129383.
- Hội Điện ảnh Việt Nam (2000). Trần Hoàng Bách (biên tập). Kỷ yếu hội viên Hội Điện ảnh Việt Nam. Hà Nội: Hội Điện ảnh Việt Nam.
- Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (2003). Từ điển bách khoa Việt Nam: N-S (Tập 3). Từ điển bách khoa Việt Nam. Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa. OCLC 951286519.
- Hồng Lực (2000). Tổ quốc và điện ảnh. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Trẻ. OCLC 46322550.
- Lại Văn Sinh (2001). "NSƯT Như Ái". Trong Trần Luân Kim; Lê Đình Phương; và đồng nghiệp (biên tập). Nghệ sĩ phim tài liệu Việt Nam. Trung tâm Nghiên cứu Nghệ thuật và Lưu trữ Điện ảnh Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh. tr. 13–29. OCLC 303712662.
- Ngô Mạnh Lân; Ngô Phương Lan; Vũ Quang Chính; Đinh Tiếp; Lại Văn Sinh (2005). Nguyễn Thị Hồng Ngát; và đồng nghiệp (biên tập). Lịch sử điện ảnh Việt Nam, Tập 2. Hà Nội: Cục Điện ảnh Việt Nam. OCLC 53129383.
- Ngô Phương Lan (1998). Đồng hành với màn ảnh: tiểu luận, phê bình điện ảnh. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin. OCLC 606352645.
- Trần Khánh Chương (2012). Mỹ thuật Hà Nội thế kỷ XX. Nhà xuất bản Mỹ thuật. OCLC 1023446443.
- Trần Trọng Đăng Đàn (2010a). Điện ảnh Việt Nam, Tập 1: Lịch sử - tác phẩm - nghệ sĩ điện ảnh Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1975. Điện ảnh Việt Nam: Lịch sử, tác phẩm, nghệ sĩ, Lý luận, phê bình, nghiên cứu. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. ISBN 9786045800201. OCLC 1023455622.
- Trần Duy Hinh (2003). Góp phần nâng cao chất lượng phim khoa học Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Sân khấu. OCLC 607537274.
- Trần Trọng Đăng Đàn (2010d). Điện ảnh Việt Nam, Tập 4: Lịch sử - tác phẩm - nghệ sĩ điện ảnh phim truyện truyền hình và phim truyện video Việt Nam. Điện ảnh Việt Nam: Lịch sử, tác phẩm, nghệ sĩ, Lý luận, phê bình, nghiên cứu. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. ISBN 9786045800232. OCLC 1023454982.
- Trung Sơn (2004). Điện ảnh, chặng đường và kỷ niệm. Hà Nội: Nhà xuất bản Thanh niên. OCLC 607590635.
- Yutkevich, Serge (1987). Кино: энциклопедический словарь [Điện ảnh: Từ điển Bách khoa toàn thư] (bằng tiếng Nga). Moskva: Bách khoa toàn thư Liên Xô. OCLC 999575162.