Bước tới nội dung

Nguyễn Thành Vĩnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nguyễn Thành Vĩnh
SinhXã Đạo Ngạn (nay là xã Đạo Thạnh), huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang), Đông Dương thuộc Pháp
Mất1995 (90–91 tuổi)
Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Quốc tịch Việt Nam
Dân tộcKinh
Trường lớpCử nhân Luật (du học tại Pháp)
Nghề nghiệpLuật sư, Thẩm phán, Nhà hoạt động cách mạng
Tôn giáoCông giáo

Nguyễn Thành Vĩnh (1904 – 1995) là một luật sư, nhà hoạt động cách mạng và thẩm phán trung cấp của Việt Nam.

Xuất thân là một nhà đại tư sản, trí thức Công giáo danh tiếng tại Sài Gòn, ông đã từ bỏ mọi vinh hoa phú quý để tham gia kháng chiến chống Pháp, trở thành "kiến trúc sư" trên mặt trận tài chính của Ủy ban Hành chính Kháng chiến Nam Bộ. Sau ngày đất nước thống nhất, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng trong ngành tư pháp như Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội và Chánh án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.[1]

Thân thế và cuộc sống trước 1945

Nguyễn Thành Vĩnh sinh năm 1904 tại xã Đạo Ngạn, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình đại địa chủ giàu có và mang đức tin Công giáo ở miền Tây Nam Bộ.

Thời trẻ, ông được gia đình cho sang Pháp du học ngành luật. Về nước, ông hành nghề luật sư và nhanh chóng trở thành một trạng sư danh tiếng, sở hữu khối tài sản khổng lồ tại Sài Gòn. Ông sống cuộc đời của một đại tư sản, sở hữu nhiều nhà cửa, trong đó có 2 căn biệt thự sang trọng tại khu Đa Kao (như căn số 35 đường Pierre).

Tuy nhiên, sống trong nhung lụa, ông dần nhận thức được sự sa đọa của tầng lớp tư sản khi phải bám gót thực dân thống trị để bóc lột nhân dân. Nhờ sự giúp đỡ và giác ngộ của người bạn thân là bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, ông bắt đầu tham gia các hoạt động ủng hộ Mặt trận Việt Minh. Với uy tín của một trí thức Công giáo lớn, ông được phân công thực hiện công tác "trí vận" và "Công giáo vận" để vận động đồng bào có đạo hướng về dân tộc và ủng hộ kháng chiến.[2]

Tham gia kháng chiến chống Pháp

Rời bỏ Sài Gòn và gặp gỡ Tướng Nguyễn Bình

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp nổ súng tái chiếm Sài Gòn. Bị địch lùng sục bao vây nhằm thủ tiêu, ông phải gom tiền bạc vào vali, bỏ lại toàn bộ tài sản, nhà cửa để trốn ra vùng ngoại ô Thị Nghè. Chính sự đùm bọc, cứu vớt của nhân dân lao động trong những ngày này đã làm ông giác ngộ cách mạng sâu sắc.

Tại Thị Nghè, ông được giáo sư Phạm Thiều giới thiệu với Trung tướng Nguyễn Bình – phái viên của Bộ Tổng Tư lệnh vừa vào Nam. Để giúp Tướng Nguyễn Bình thị sát Sài Gòn, Luật sư Vĩnh đã táo bạo hiến kế: cho Tướng Bình đóng giả làm phú thương người Hoa, ở tại biệt thự của ông trên đường Pierre, dùng tài xế riêng và xe hơi của ông để thong dong đi trinh sát khắp các cơ sở nhà binh Pháp (kể cả bót Catinat). Sự phối hợp ăn ý này khiến hai người trở thành bạn chiến đấu thân thiết. Trung tướng Nguyễn Bình từng thốt lên cảm phục ông: "Giàu như vậy, sang như vậy, mà bỏ hết đi kháng chiến, dân miền Nam có khác!".[3]

Mặt trận tài chính và In "Giấy bạc Cụ Hồ"

Rút vào bưng biền Đồng Tháp Mười, theo Sắc lệnh 63/SL ngày 22 tháng 11 năm 1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, Luật sư Nguyễn Thành Vĩnh được cử làm Ủy viên Tài chính Ủy ban hành chính Nam Bộ, sau đó là Giám đốc Sở Tài chính (Ngân khố) Nam Bộ.

Trước tình hình tài chính khó khăn và âm mưu phá hoại tiền tệ của Pháp, ông đã sáng kiến ra phương án "Việt Nam hóa giấy bạc" (đóng dấu cách mạng lên tiền Đông Dương). Tuy nhiên, để kháng chiến lâu dài, ông đã đề xuất và được Trung ương cho phép in giấy bạc tại chỗ.

Ông đứng ra thành lập "Ủy ban Ấn loát đặc biệt Nam Bộ" (mật danh là Ban trồng tỉa số 10). Để có máy móc, ông trích tiền túi nhờ người sang Thái Lan mua máy in tháo rời đưa về bưng biền; đồng thời cho người mạo hiểm vào nội thành Sài Gòn rước các kỹ sư, chuyên gia khắc chạm đồng (như Giáo sư Phạm Văn Hộ) vào căn cứ. Những tờ "Giấy bạc Cụ Hồ" đầu tiên mang mệnh giá 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng đã ra đời giữa rừng đước U Minh, mặt trước in hình Bác Hồ, bên trái có chữ ký của Chủ tịch Phạm Văn Bạch và bên phải là chữ ký của Giám đốc Ngân khố Nguyễn Thành Vĩnh. Việc phát hành đồng tiền độc lập này là đòn đánh mạnh mẽ vào nền kinh tế thực dân Pháp.[2]

Hiến 200 lượng vàng cho Cách mạng

Khi chiến sự ác liệt, quân ta thiếu thốn vũ khí nghiêm trọng, Luật sư Nguyễn Thành Vĩnh đã bàn với Giám đốc Sở Kinh tế Kha Vạn Cân về Mỹ Tho để lấy tài sản riêng ủng hộ kháng chiến. Ông cùng 12 đồng chí bí mật thâm nhập vào tư dinh cũ, đào hòn non bộ lên và lấy ra 2 hộp bánh quy chứa đầy vàng miếng.

Toàn bộ số tài sản khổng lồ gồm 200 lượng vàng tích cóp từ thời làm luật sư đã được ông hiến trọn cho bộ đội để mua sắm vũ khí. Nhờ số vàng này, quân ta đã mở được nhiều chiến dịch lớn. Ông chia sẻ: "Thà mình hiến số vàng đó cho cách mạng, giúp ích cho đất nước, còn hơn tư lợi hoặc để nó rơi vào tay kẻ thù".[3]

Giai đoạn 1954 - 1975

Sau Hiệp định Genève (1954), ông được phân công ở lại Nam Bộ một thời gian ngắn để giải quyết công tác tài chính, đặc biệt là thu hồi lại giấy bạc cách mạng và đổi tiền Đông Dương cho nhân dân trước khi tập kết.

Đầu năm 1955, ông tập kết ra Bắc. Ngày 4 tháng 2 năm 1955, ông được diện kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi báo cáo về việc còn thiếu 600.000 đồng tiền cách mạng không thể thu hồi, Bác Hồ đã nghiêm khắc hỏi lý do. Ông xúc động giải thích rằng: Số tiền đó không thu hồi được vì đồng bào miền Nam kiên quyết không chịu đổi, họ muốn giữ lại những tờ giấy bạc có in hình Bác để ngắm nhìn và làm niềm tin theo Bác đến cùng trong cảnh đất nước bị chia cắt.[3]

Tại miền Bắc, ông được Đảng và Nhà nước bổ nhiệm làm Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiêm Chánh án Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.

Giai đoạn sau 1975 và Cuối đời

Sau ngày thống nhất đất nước, ông cùng gia đình trở lại miền Nam. Ông tiếp tục cống hiến cho ngành tư pháp với cương vị Chánh án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và được bầu làm Chủ tịch Hội Luật gia Thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi nghỉ hưu.[1]

Mặc dù từng là một đại tỷ phú, nhưng gia đình ông đã hiến toàn bộ tài sản cho Nhà nước, sống một cuộc đời giản dị, thanh bạch tại số 44 đường Võ Văn Tần, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh. Triết lý sống mà ông luôn tâm đắc và căn dặn con cháu là: "Trí phải sáng, tâm phải chính".

Ông qua đời năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 91 tuổi.

Gia đình

Năm 1949, giữa chiến khu Đồng Tháp Mười, Luật sư Nguyễn Thành Vĩnh (khi đó 45 tuổi) đã kết hôn với bà Nguyễn Ngọc Dung (18 tuổi), một tiểu thư gốc Sài Gòn thoát ly gia đình đi theo kháng chiến và làm việc tại Sở Kinh tế Nam Bộ. Dù chênh lệch 27 tuổi, tình yêu của họ nảy nở từ sự cảm phục lý tưởng cách mạng. Ông bà có với nhau 6 người con.[2]

Tham khảo

  1. ^ a b [# "Chuyện xưa chuyện nay: Luật sư Nguyễn Thành Vĩnh hy sinh ở Đồng Tháp?"]. Báo Pháp Luật TP.HCM. ngày 27 tháng 1 năm 2012. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)
  2. ^ a b c [# "Luật sư Nguyễn Thành Vĩnh: Trí sáng, tâm chính"]. Báo Quân đội Nhân dân. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2024. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)
  3. ^ a b c [# "Hiến 200 lượng vàng để mua vũ khí đánh giặc"]. Báo Đồng Tháp. ngày 25 tháng 4 năm 2021. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)

Xem thêm