Nét văn hóa
Nét văn hóa (Cultural trait) là một yếu tố đơn lẻ có thể nhận diện được, mang tính vật chất hoặc phi vật chất bên trong một nền văn hóa và có thể được hình dung như một thực thể độc lập.[1][2][3] Các nét văn hóa tương tự nhau có thể được gộp chung thành các thành phần, hoặc các tiểu hệ thống của văn hóa.[4] Những khái niệm này đã giúp ích cho các nhà nhân chủng học trong việc tinh chỉnh lại định nghĩa về văn hóa.[5] Tại Việt Nam, các khái niệm liên quan đến nét văn hóa thường được nghiên cứu thông qua lăng kính bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, phản ánh rõ ràng cấu trúc văn hóa của Việt Nam, bảo vệ hàng ngàn nét văn hóa đặc trưng, giúp chúng duy trì sức sống xuyên suốt nhiều thế hệ.
Nội hàm
Các thuật ngữ thực thể xã hội (sociofact) và thực thể tâm trí (mentifact/psychofact)[6] do nhà sinh học Julian Huxley đặt ra đại diện cho hai trong ba tiểu hệ thống của văn hóa—thứ ba là tạo tác văn hóa (artifacts) để mô tả cách thức mà các nét văn hóa mang một sức sống riêng, trải dài qua nhiều thế hệ.[2] Hơn nữa, một số người coi các thực thể xã hội là các thực thể tâm trí đã được chia sẻ thông qua các thực thể nhân tạo.[7] Cách trình bày này có liên quan đến mô phỏng học (memetics)[8][9] và khái niệm sao chép của văn hóa.[7] Nói cách khác, các nét văn hóa có thể được phân loại thành ba thành phần có mối quan hệ tương hỗ với nhau:[3][4]
- Thực thể nhân tạo (Artifacts) — các đồ vật, vật phẩm văn hóa (văn vật), và công nghệ do một nền văn hóa tạo ra, hay đơn giản là những thứ con người làm ra. Chúng cung cấp các nhu cầu cơ bản, sự tiêu khiển, giải trí và hầu hết những thứ giúp cuộc sống của con người trở nên dễ dàng hơn, đơn cử như quần áo, thức ăn và nơi ở.
- Thực thể xã hội (Sociofacts) — các tương tác giữa các cá nhân và cấu trúc xã hội;[10] nghĩa là, các cấu trúc và tổ chức của một nền văn hóa có ảnh hưởng đến hành vi xã hội. Điều này bao gồm gia đình, chính quyền, hệ thống giáo dục, các nhóm tôn giáo.
- Thực thể tâm trí (Mentifact/psychofact) — các khái niệm trừu tượng, hoặc "những thứ trong đầu";[1] nghĩa là, những ý tưởng, giá trị và niềm tin được chia sẻ của một nền văn hóa. Điều này có thể bao gồm tôn giáo, ngôn ngữ và các ý tưởng, một trong những đơn cử đó là tâm hồn Nga một đặc điểm tính cách và tâm lý khó nắm bắt, khó đoán định ngay cả chính với người Nga.
Phát triển
Những khái niệm này đã giúp ích cho các nhà nhân chủng học trong việc tinh chỉnh định nghĩa về văn hóa, điều mà Huxley coi là sự chiêm nghiệm về các thực thể nhân tạo, thực thể tâm trí và thực thể xã hội.[5] Ví dụ, Edward Tylor, nhà nhân chủng học học thuật đầu tiên, đã đưa cả thực thể nhân tạo và các khái niệm trừu tượng như hệ thống thân tộc vào làm các yếu tố của văn hóa. Tuy nhiên, nhà nhân chủng học Robert Aunger giải thích rằng một định nghĩa bao hàm như vậy cuối cùng sẽ khuyến khích thực tiễn nhân chủng học kém cỏi bởi vì "sẽ trở nên khó khăn để phân biệt chính xác điều gì không thuộc về văn hóa".[1] Aunger tiếp tục giải thích rằng, sau cuộc cách mạng nhận thức trong các ngành khoa học xã hội vào những năm 1960, có "sự đồng thuận đáng kể" giữa các nhà nhân chủng học rằng một cuộc phân tích về thực thể tâm trí, cuộc phân tích cho rằng văn hóa bao gồm "những thứ trong đầu" (tức là các thực thể tâm trí), là cách phù hợp nhất để định nghĩa khái niệm văn hóa.[1]
Thực thể
Ý tưởng về thực thể xã hội (sociofact) đã được phát triển sâu rộng bởi David Bidney trong cuốn sách giáo khoa Theoretical Anthropology (Nhân chủng học lý thuyết) năm 1967 của ông, trong đó ông sử dụng thuật ngữ này để chỉ các đối tượng bao gồm sự tương tác giữa các thành viên của một nhóm xã hội.[11] Thực thể xã hội của Bidney bao gồm các chuẩn mực "phục vụ cho việc điều chỉnh hành vi của cá nhân trong xã hội".[12] Kể từ đó, khái niệm này đã được các nhà triết học và khoa học xã hội khác sử dụng trong các phân tích của họ về nhiều loại nhóm xã hội khác nhau. Ví dụ, trong một cuộc thảo luận về ký hiệu học của giai điệu 'Taps', nhà ký hiệu học âm nhạc Charles Boilès tuyên bố rằng mặc dù đây là một bản nhạc duy nhất, nó có thể được xem như ba thực thể xã hội âm nhạc riêng biệt: như một tín hiệu "gọi món lần cuối" trong các quán rượu mà binh lính thường lui tới; như một tín hiệu "kết thúc ngày" tại các căn cứ quân sự; và do đó, mang ý nghĩa tượng trưng, như một thành phần của các tang lễ quân sự.[6] Có ý kiến cho rằng phân tích thực thể xã hội có thể đóng vai trò quyết định đối với hiệu suất và sự hợp tác bên trong các tổ chức.[13]
Xem thêm
Chú thích
- ^ a b c d Robert Aunger (2002). The Electric Meme: A New Theory of How We Think. New York: The Free Press. ISBN 0-7432-0150-7.
- ^ a b Huxley, Julian S. 1955. "Guest Editorial: Evolution, Cultural and Biological." Yearbook of Anthropology, 2–25.
- ^ a b "Topic". maps.unomaha.edu. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2021.
- ^ a b "What is Culture?" (PDF). www.heritage.nf.ca. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2026.
- ^ a b Sriraman, Bharath; Goodchild, Simon (2009). Relatively and Philosophically Earnest: Festschrift in honor of Paul Ernest's 65th Birthday. Charlotte, NC: Information Age Publishing. tr. 135. ISBN 9781607522416.
- ^ a b Boilès, Charles L. (1982). "Processes of Musical Semiosis". Yearbook for Traditional Music. 14: 24–44. doi:10.2307/768069. JSTOR 768069. S2CID 191399003.
- ^ a b Pim, Joám Evans (2009). Toward a Nonkilling Paradigm. Center for Global Nonkilling. tr. 260. ISBN 9780982298312.
- ^ Bribiesca, Luis B. (2001). "Memetics: a dangerous idea". Interciencia. 26 (1): 29–31.
- ^ Gnoli, Claudio (ngày 13 tháng 8 năm 2018). "Mentefacts as a missing level in theory of information science". Journal of Documentation. 74 (6): 1226–1242. doi:10.1108/jd-04-2018-0054. ISSN 0022-0418. S2CID 52159757.
- ^ Hayler, M. (ngày 7 tháng 5 năm 2015). Challenging the Phenomena of Technology (bằng tiếng Anh). Springer. ISBN 9781137377869.
- ^ Bidney, David (1967). Theoretical Anthropology (ấn bản thứ 2). New York: Schocken.
- ^ Ingold, Tim (2016). Evolution and Social Life. Oxon: Routledge. tr. 283. ISBN 9781138675858.
- ^ Uwe V. Riss; Johannes Magenheim; Wolfgang Reinhardt; Tobias Nelkner; Knut Hinkelmann (tháng 3 năm 2011). "Added Value of Sociofact Analysis for Business Agility". AAAI Publications, 2011 AAAI Spring Symposium Series. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2011.