Osama Hawsawi
Osama Abdulrzag Hawsawi (tiếng Ả Rập: أسامة عبد الرزاق هوساوي, sinh ngày 31 tháng 3 năm 1984) là một cựu cầu thủ bóng đá người Ả Rập Xê Út từng thi đấu ở vị trí trung vệ.[3]
|
Tập tin:Osama Abdulrzag Hawsawi.jpg Hawsawi với Ả Rập Xê Út tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 | |||||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | |||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Osama Abdulrzag Hawsawi[1] | ||||||||||||||||
| Ngày sinh | 31 tháng 3, 1984 | ||||||||||||||||
| Nơi sinh | Mecca, Ả Rập Xê Út[2] | ||||||||||||||||
| Chiều cao | 1,87 m[1] | ||||||||||||||||
| Vị trí | Trung vệ | ||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ||||||||||||||||
| Al-Wehda | |||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||
| 2005–2008 | Al-Wehda | 59 | (1) | ||||||||||||||
| 2008–2012 | Al-Hilal | 79 | (7) | ||||||||||||||
| 2012 | → Anderlecht (mượn) | 1 | (0) | ||||||||||||||
| 2012–2016 | Al-Ahli | 83 | (6) | ||||||||||||||
| 2016–2018 | Al-Hilal | 44 | (0) | ||||||||||||||
| 2018 | Al-Wehda | 12 | (0) | ||||||||||||||
| Tổng cộng | 278 | (14) | |||||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||
| 2006–2018 | Ả Rập Xê Út | 138 | (7) | ||||||||||||||
Thành tích huy chương
| |||||||||||||||||
|
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 19:00, 26 tháng 8 năm 2018 (UTC) ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 17:21, 25 tháng 6 năm 2018 (UTC) | |||||||||||||||||
Sau khi khởi đầu tại Al-Wehda, ông dành phần lớn sự nghiệp cho Al-Hilal và Al-Ahli. Ông giành nhiều danh hiệu lớn cùng cả hai câu lạc bộ, bao gồm năm chức vô địch Pro League, năm Crown Prince Cup và hai King Cup. Ông là cầu thủ Ả Rập Xê Út đầu tiên thi đấu tại Belgian Pro League.
Hawsawi có 138 lần khoác áo đội tuyển quốc gia Ả Rập Xê Út từ năm 2006 đến năm 2018, thi đấu tại ba kỳ Cúp bóng đá châu Á, làm đội trưởng tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 và giành ngôi á quân tại Cúp bóng đá châu Á.
Sự nghiệp câu lạc bộ
Al Wehda
Hawsawi bắt đầu sự nghiệp bóng đá chuyên nghiệp tại Al-Wehda Club và nhanh chóng trở thành cầu thủ thường xuyên của đội một, thi đấu ở vị trí trung vệ.
Al Hilal
Sau 59 lần ra sân và ghi một bàn, Hawsawi gia nhập Al-Hilal. Trong thời gian khoác áo Al-Hilal, Hawsawi là cầu thủ thường xuyên dưới thời huấn luyện viên Eric Gerets và được bổ nhiệm làm đội trưởng. Hawsawi giành bảy danh hiệu cùng Al-Hilal, gồm ba chức vô địch quốc gia vào các mùa giải 2008, 2010 và 2011, cùng bốn Crown Prince Cup.
Anderlecht
Tháng 4 năm 2012, Hawsawi ký hợp đồng hai năm với đội bóng Bỉ Anderlecht, qua đó trở thành thành viên duy nhất của Đội tuyển bóng đá quốc gia Ả Rập Xê Út thi đấu tại châu Âu vào thời điểm đó.[4] Hawsawi là cầu thủ Ả Rập Xê Út đầu tiên thi đấu cho câu lạc bộ này cũng như tại giải đấu. Ông mô tả quãng thời gian ở Anderlecht là "đáng quên" do thiếu thời gian thi đấu, và chỉ có một lần ra sân cho câu lạc bộ khi chơi trung vệ trong trận hòa 1–1 trước OH Leuven vào ngày 25 tháng 8 năm 2012. Hawsawi cũng ngồi trên ghế dự bị khi Anderlecht giành Siêu cúp bóng đá Bỉ, nhưng không được tung vào sân.
Al-Ahli
Tháng 11 năm 2012, Hawsawi rời Bỉ để trở về quê nhà, gia nhập Al-Ahli với mức phí 1,5 triệu.[5][6]
Al-Hilal
Năm 2016, Al-Hilal đưa Hawsawi trở lại câu lạc bộ với mức phí 5,5 triệu đô la Mỹ, tương đương 21 triệu riyal.[7] Trong mùa giải đầu tiên, ông giành Saudi King's Cup và Saudi Professional League. Ở mùa giải thứ hai cùng Al-Hilal, ông giúp câu lạc bộ giành chức vô địch quốc gia thứ hai liên tiếp và lọt vào chung kết AFC Champions League.
Trở lại Al-Wehda
Ngày 23 tháng 8 năm 2018, Osama Hawsawi ký hợp đồng tự do với câu lạc bộ thời niên thiếu Al-Wehda sau khi hợp đồng cũ hết hạn.[8]
Giải nghệ
Ngày 26 tháng 12 năm 2018, Osama Hawsawi tuyên bố giải nghệ bóng đá trên tài khoản Twitter cá nhân.[9]
Sự nghiệp quốc tế
Ông là đội trưởng của đội tuyển Ả Rập Xê Út. Ông đại diện cho quốc gia tại 18th Arabian Gulf Cup và là thành viên đội tuyển Ả Rập Xê Út tại FIFA World Youth Championship. Ông được triệu tập vào đội hình tham dự Cúp bóng đá châu Á.
Ngày 29 tháng 5 năm 2010, ông ghi một bàn thắng đẹp vào lưới Tây Ban Nha, sau một quả phạt góc giúp đội tuyển Ả Rập Xê Út dẫn trước Tây Ban Nha 1–0, đồng thời ghi bàn thắng thứ hai của mình cho đội tuyển quốc gia Ả Rập Xê Út.
Tháng 6 năm 2018, ông có tên trong Đội tuyển bóng đá quốc gia Ả Rập Xê Út tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 tại Nga,[10] và làm đội trưởng trong cả ba trận của đội tại vòng chung kết.
Thống kê sự nghiệp
Cập nhật ngày 26 tháng 12 năm 2018
Câu lạc bộ
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải vô địch | Cúp | Châu lục | Tổng cộng | ||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | ||
| Al-Wehda | 2005–06 | 18 | 1 | 4 | 0 | - | - | 22 | 1 |
| 2006–07 | 20 | 0 | 1 | 0 | - | - | 21 | 0 | |
| 2007–08 | 21 | 0 | 1 | 0 | 4 | 0 | 26 | 0 | |
| Tổng cộng | 59 | 1 | 6 | 0 | 4 | 0 | 69 | 1 | |
| Al-Hilal | 2008–09 | 19 | 2 | 4 | 1 | 7 | 1 | 30 | 4 |
| 2009–10 | 18 | 2 | 4 | 0 | 10 | 1 | 32 | 3 | |
| 2010–11 | 23 | 1 | 6 | 1 | 7 | 0 | 36 | 2 | |
| 2011–12 | 23 | 2 | 6 | 0 | 6 | 0 | 35 | 2 | |
| Tổng cộng | 83 | 7 | 14 | 2 | 24 | 2 | 133 | 11 | |
| R.S.C. Anderlecht | 2012–13 | 1 | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 2 | 0 |
| Al-Ahli | 2012–13 | 10 | 0 | 5 | 0 | 10 | 0 | 25 | 0 |
| 2013–14 | 24 | 1 | 6 | 0 | 0 | 0 | 30 | 1 | |
| 2014–15 | 26 | 4 | 5 | 0 | 8 | 0 | 39 | 4 | |
| 2015–16 | 23 | 1 | 6 | 0 | 2 | 0 | 31 | 1 | |
| Tổng cộng | 83 | 6 | 22 | 0 | 20 | 0 | 125 | 6 | |
| Al-Hilal | 2016–17 | 25 | 0 | 6 | 0 | 12 | 0 | 43 | 0 |
| 2017–18 | 19 | 0 | 1 | 0 | 3 | 0 | 23 | 0 | |
| Tổng cộng | 44 | 0 | 7 | 0 | 15 | 0 | 66 | 0 | |
| Al-Wehda | 2018–19 | 12 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 12 | 0 |
| Tổng cộng sự nghiệp | 282 | 14 | 50 | 2 | 63 | 2 | 407 | 18 | |
Quốc tế
- Thống kê chính xác tính đến trận đấu diễn ra ngày 25 tháng 6 năm 2018.[11]
| Ả Rập Xê Út | ||
|---|---|---|
| Năm | Số trận | Bàn thắng |
| 2006 | 1 | 0 |
| 2007 | 19 | 0 |
| 2008 | 18 | 2 |
| 2009 | 19 | 0 |
| 2010 | 7 | 2 |
| 2011 | 14 | 1 |
| 2012 | 7 | 0 |
| 2013 | 9 | 1 |
| 2014 | 9 | 0 |
| 2015 | 9 | 1 |
| 2016 | 8 | 0 |
| 2017 | 9 | 0 |
| 2018 | 9 | 0 |
| Tổng cộng | 138 | 7 |
Bàn thắng quốc tế
| # | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Tỷ số | Kết quả | Giải đấu | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1. | 2 tháng 6 năm 2008 | Sân vận động King Fahd, Riyadh, Ả Rập Xê Út | Liban | 2–1 | 4–1 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2010 | |||||||
| 2. | 27 tháng 12 năm 2008 | Sân vận động Prince Mohamed bin Fahd, Dammam, Ả Rập Xê Út | Syria | 1–0 | 1–1 | Giao hữu | |||||||
| 3. | 29 tháng 5 năm 2010 | Tivoli Neu, Innsbruck, Áo | Tập tin:Flag of Spain.svg Tây Ban Nha | 1–0 | 2–3 | ||||||||
| 4. | 31 tháng 12 năm 2010 | Sân vận động Bahrain National, Manama, Bahrain | Bahrain | 1–0 | 1–0 | ||||||||
| 5. | 28 tháng 7 năm 2011 | Siu Sai Wan Sports Ground, Siu Sai Wan, Hồng Kông | Hồng Kông | 5–0 | 5–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 | |||||||
| 6. | 15 tháng 10 năm 2013 | Sân vận động Quốc tế Amman, Amman, Jordan | Iraq | 1–0 | 2–0 | Cúp bóng đá châu Á qualification
2015|- |
7. | 17 tháng 11 năm 2015 | Sân vận động National, Dili, East Timor | Đông Timor | 2–0 | 10–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 |
| Chính xác tính đến ngày 25 tháng 6 năm 2018 | |||||||||||||
Danh hiệu
Câu lạc bộ
Al-Hilal
- Pro League: 2009–10, 2010–11, 2016–17, 2017–18
- King Cup: 2017
- Crown Prince Cup: 2008–09, 2009–10, 2010–11, 2011–12
Al-Ahli
Xem thêm
Tham khảo
- ^ a b "2018 FIFA World Cup Russia – List of Players" (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 4 tháng 6 năm 2018. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2018.
- ^ "Osama Hawsawi Soccer Stats - Season & Career Statistics". www.foxsports.com.
- ^ "Osama Hawsawi No team videos, transfer history and stats - SofaScore".
- ^ "Official: Saudi Arabian international Osama Hawsawi signs two-year deal with Belgian giants Anderlecht". Goal.com. ngày 17 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2012.
- ^ "Osama Hawsawi trades Anderlecht for Al Ahli (in Dutch:Osama Hawsawi ruilt Anderlecht voor Al Ahli)" (bằng tiếng Hà Lan). Sports Magazine.bel. ngày 21 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2012.
- ^ "Anderlecht : Hawsawi rejoint Al Ahli" (bằng tiếng Pháp). Mercato 365. ngày 21 tháng 11 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2012.
- ^ (أبها), عبدالله القحطاني (ngày 10 tháng 5 năm 2016). "21 مليوناً تعيد أسامة للهلال". Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2017.
- ^ Bản mẫu:Chú thích tweet 2017
- ^ @HawsawiOsama (ngày 26 tháng 12 năm 2018). "استذكر البدايات بحب الكرة وشغف اللعب بها من هواة إلى محترفين.. في ذلك المستطيل الأخضر لم ندخر جهدًا من أجل المنافسة..." (Tweet) – qua Twitter.
- ^ Bản mẫu:Chú thích web 2007[liên kết hỏng]
- ^ a b Osama Hawsawi tại National-Football-Teams.com
- ^ "Saudi Team".