Pelontrus alcocki
| Pelontrus alcocki | |
|---|---|
| Phân loại khoa học | |
| Giới: | Animalia |
| Ngành: | Chordata |
| Lớp: | Actinopterygii |
| Bộ: | Perciformes |
| Họ: | Anthiadidae |
| Chi: | Pelontrus |
| Loài: | P. alcocki
|
| Danh pháp hai phần | |
| Pelontrus alcocki Bineesh, Gopalakrishnan & Jena, 2014 | |
| Các đồng nghĩa | |
| |
Pelontrus alcocki là một loài cá biển thuộc chi Pelontrus trong họ Anthiadidae. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 2014.
Phân loại
Theo nghiên cứu của Tang và Chen (2025), chi Plectranthias trước đây bao gồm 7 nhánh riêng biệt. Dựa trên kết quả phân tích bộ gen, Plectranthias alcocki được chuyển sang chi Pelontrus.[2]
Từ nguyên
Từ định danh alcocki được đặt theo tên của Alfred William Alcock (1859–1933), nhà tự nhiên học kiêm bác sĩ người Anh, từng giữ vị trí Giám đốc Bảo tàng Ấn Độ, người có những đóng góp trong việc phân loại hệ động vật vùng biển sâu của Ấn Độ.[3]
Phân bố và môi trường sống
P. alcocki hiện chỉ được biết đến ở ngoài khơi bờ biển bang Kerala (Ấn Độ), được tìm thấy ở độ sâu trong khoảng 180–320 m.[1]
Mô tả
Chiều dài cơ thể lớn nhất của P. alcocki là 7,2 cm.[4] Cá có màu nâu nhạt ở thân trước, đỏ ở thân sau (từ gáy đến gốc vây hậu môn). Vùng trước của đầu và các vây có màu cam phớt vàng. Có đốm đen dọc theo gốc vây lưng ở các gai 4–8, tương tự ở các tia mềm 1–3, 6–7 và 11–14, và 2 đốm đen ở nửa trên của cuống đuôi. Nắp mang có đốm đen ở phía sau.[5]
Số gai vây lưng: 11; Số tia vây lưng: 15; Số gai vây hậu môn: 3; Số tia vây hậu môn: 7; Số tia vây ngực: 15; Số vảy đường bên: 28.[5]
Tham khảo
- ^ a b Borsa, P.; Carpenter, K.E.; Obota, C.; Smith-Vaniz, W.F.; Yahya, S. & Jiddawi, N. (2018). "Plectranthias alcocki". Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2018: e.T117008614A117008868. doi:10.2305/IUCN.UK.2018-2.RLTS.T117008614A117008868.en. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2025.
{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết) - ^ Tang, Chi-Ngai; Chen, Wei-Jen (2025). "A 40-year taxonomic enigma: multigene phylogeny resolves the polyphyly of Plectranthias (Perciformes: Anthiadidae) and supports a revised taxonomy". Zoological Journal of the Linnean Society. Quyển 205 số 3. tr. zlaf148. doi:10.1093/zoolinnean/zlaf148. ISSN 0024-4082.
- ^ Christopher Scharpf (2026). "Order Perciformes (part 4)". The ETYFish Project Fish Name Etymology Database.
- ^ Bineesh, K. K.; Akhilesh, K. V.; Gopalakrishnan, A.; Jena, J. K. (2014). "Plectranthias alcocki, a new anthiine fish species (Perciformes: Serranidae) from the Arabian Sea, off southwest India". Zootaxa. Quyển 3785. tr. 490–496. doi:10.11646/zootaxa.3785.3.10. ISSN 1175-5326. PMID 24872240.
- ^ a b P. C. Heemstra (2022). "Epinephelidae". Trong Phillip C. Heemstra; E. Heemstra; David A. Ebert; W. Holleman; John E. Randall (biên tập). Coastal fishes of the western Indian Ocean (quyển 3) (PDF). South African Institute for Aquatic Biodiversity. tr. 95.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách biên tập viên (liên kết)
Lỗi Lua trong Mô_đun:Taxonbar tại dòng 141: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).