Bước tới nội dung

Phạm Thiên Thư

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Phạm Thiên Thư
SinhPhạm Kim Long
4 tháng 1 năm 1940
Lạc Viên, Hải Phòng
Mất7 tháng 5 năm 2026(2026-05-07) (86 tuổi)
Thành phố Hồ Chí Minh
Bút danhPhạm Thiên Thư, Thái Phương Thư
Nghề nghiệpNhà thơ, Tu sĩ
Giai đoạn sáng tác1964–2003
Thể loạiThơ
Chủ đềPhật giáo
Tác phẩm nổi bậtĐoạn Trường Vô Thanh

Phạm Thiên Thư (4 tháng 1 năm 1940 – 7 tháng 5 năm 2026[1][2]) là một nhà thơ Việt Nam. Ông là một tác gia Phật giáo, đã dịch nhiều kinh Phật ra thơ, và từng là tu sĩ. Một số bài thơ của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc và trở nên phổ biến, như Ngày xưa Hoàng Thị, Đưa em tìm động hoa vàng, các bài Đạo ca...

Tiểu sử

Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long, sinh trong một gia đình Đông y tại Lạc Viên, Hải Phòng. Ông có quê nội ở Thái Bình và quê ngoại ở Bắc Ninh. Năm 1943-1951, ông sống ở trang trại Đá Trắng, Chi Ngãi, Hải Dương. Năm 1954, ông chuyển vào sinh sống tại Sài Gòn.

Từ 19641973, ông là tu sĩ Phật giáo với pháp danh Tuệ Thông,[3] làm thơ. Trong năm 1973, ông hoàn tục và đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm Đoạn Trường Vô Thanh.[4]

Đầu thập niên 1970, nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ nhạc một số bài thơ của Phạm Thiên Thư. Qua tiếng hát Thái Thanh cùng một số ca sĩ khác, những nhạc phẩm đó đã được công chúng đón nhận và yêu thích:

  • Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng
  • Ngày Xưa Hoàng Thị
  • Em Lễ Chùa Này (phổ bài thơ Thoáng Hương Qua)
  • Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu (chọn một số câu trong Đoạn Trường Vô Thanh)
  • 10 bài Đạo Ca

Năm 19732000, ông nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn dưỡng sinh Điện công Phathata (viết tắt chữ Pháp – Thân – Tâm).

Ngày 15/8/2007, Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam công nhận Phạm Thiên Thư là người Việt Nam đầu tiên sáng tác Tự điển cười bằng thơ. Tác phẩm Từ điển cười bằng thơ này của Phạm Thiên Thư có hơn 5000 “lý do” để cười, cười để vui sống và đẩy lùi tâm bệnh.

Ông qua đời ở tuổi 86 vào ngày 7 tháng 5 năm 2026.[5]

Tác phẩm đã in

  • Thơ Phạm Thiên Thư (1968)
  • Kinh Ngọc (thi hoá Kinh Kim Cương)
  • Động hoa vàng (thơ, 1971)
  • Đoạn Trường Vô Thanh (1972)
  • Kinh thơ (thi hoá Kinh Pháp Cú)
  • Quyên từ độ bỏ thôn Đoài (thơ, 1974)
  • Suối nguồn vi diệu (1973)
  • Kinh Hiếu (thi hóa kinh)
  • Hội Hoa Đàm (thi hoá Kinh Hiền, gồm 12.000 câu lục bát, 1973)
  • Ngày xưa người tình (thơ)
  • Trại hoa đỉnh đồi (thơ, 1975)
  • Thơ Phạm Thiên Thư (Nhà xuất bản Đồng Nai tái bản)
  • Tự điển cười (24.000 bài tứ tuyệt tiếu liệu pháp)
  • Vua núi vua nước (tức Sơn Tinh Thủy tinh, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2003)
  • Những lời thược dược (2007)
  • Hát ru Việt sử thi (thơ, 2012)
  • Tân Liêu Trai - Mỹ Nhân Hồ (2016)
  • Lòng đau không tiếng (2019)

Nhận xét

Trong bài Phạm Thiên Thư, người thi hóa kinh Phật, Hà Thi viết:

Nhà thơ họ Phạm này tuy xuất hiện khá muộn (1968), nhưng cũng đã đóng góp vào văn học khá nhiều tác phẩm, đặc biệt là những thi phẩm ở dạng khá độc đáo: thơ đạo! Một trong những tác phẩm ấy của Phạm Thiên Thư đã được giải thưởng Văn Học Toàn Quốc (Việt Nam Cộng Hoà) vào năm 1973 (tác phẩm Đoạn Trường Vô Thanh). Một số thơ của ông được phổ thành ca khúc đã mang lại một số đông công chúng yêu thích thơ ông: Em lễ chùa này, Ngày Xưa Hoàng Thị, Động Hoa Vàng, Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu... Thơ Phạm Thiên Thư cứ vấn vít nửa đời nửa đạo thật khác thường, làm cho độc giả ngẩn ngơ, bất ngờ... Thế giới thi ca Phạm Thiên Thư giúp chúng ta khám phá thêm những cửa ngõ mới lạ, phong phú về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên.[6]

Hoàng Nguyên Vũ trong bài Cõi lạ Phạm Thiên Thư còn cho biết thêm:

Nhà thơ Phạm Thiên Thư sinh trong một gia đình bố mẹ làm nghề bốc thuốc nhưng thích thơ văn. Tuổi thơ của ông khá êm đềm. Những điều đó chỉ cho ông được những tiền đề thuận lợi, nhưng để một tài thơ bật hẳn lên thì phải là từ năm 1958, sau một biến động của cuộc đời...
Chuyện là ông có nhóm bạn thơ họa Hồ Quý Ly, tụ tập đàn đúm thơ phú đêm ngày. Thấy đám văn nghệ sĩ này cứ "ương ương dở dở", cảnh sát Việt Nam Cộng Hoà đã vây bắt. Ông phải ẩn tu vào một ngôi chùa. Đi tu, thực ra với ông không hẳn là tìm một chốn nương náu, mà ông ngộ ra một điều, ông đã tự tìm cho mình một cõi riêng, một kiểu tu hành riêng...
Ông viết Động hoa vàng những ngày đầu ngấm giáo lý nhà Phật, như đánh dấu mình vào một cõi của chính mình trong thi đàn. Dĩ nhiên, Động hoa vàng chưa hẳn là tác phẩm xuất sắc nhất trong đời viết của Phạm Thiên Thư, nhưng nó đã làm nên một "thương hiệu" của Phạm Thiên Thư. Những câu thơ đẩy cái đạo đời bềnh bồng trên cõi Phật, làm hiện hữu cái cuộc đời đáng sống trên cái mênh mang bao la của phù vân hư ảo:
Đợi nhau tàn cuộc hoa này
Đành như cánh bướm đồi tây hững hờ
Tìm trang lệ ố hàng thơ
Chữ xưa quyên giục bây giờ chim đi...
Nhiều người đã cho rằng Phạm Thiên Thư đi tu mà lòng vẫn hướng về cõi tục. Ông chỉ cười: "Tôi tu theo cách của mình, tu để sống cuộc đời của mình, nuôi dưỡng lối tư duy và trí tuệ của mình". Quả thực là từ cõi Phật, ông đã làm được những điều đáng nể: thi hóa kinh Phật, sáng tác những thi phẩm hay và đẹp thuộc diện hiếm hoi trong văn học Việt Nam...Thơ của ông được nhiều người có tên tuổi trong giới và rất nhiều bạn đọc mến mộ...[7]

Chú thích

  1. ^ thanhnien.vn (ngày 8 tháng 5 năm 2026). "Thi sĩ Phạm Thiên Thư 'mang bụi đỏ đi rồi' để tiếc thương cho người ở lại". Báo Thanh Niên. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2026.
  2. ^ Nhà thơ Phạm Thiên Thư từ trần
  3. ^ Trần Hoàng Nhân (ngày 9 tháng 7 năm 2008). "Nhà thơ Phạm Thiên Thư - Vị tu sĩ lãng mạn". Pháp Luật Thành Phố Hồ Chí Minh. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2026.
  4. ^ Theo phần tiểu sử Phạm Thiên Thư in trong Hậu truyện Kiều-Đoạn trường Vô Thanh, tái bản lần thứ 4, Nhà xuất bản. Văn Nghệ, 2006.
  5. ^ ONLINE, TUOI TRE (ngày 7 tháng 5 năm 2026). "Nhà thơ 'Ngày xưa Hoàng thị' Phạm Thiên Thư qua đời". TUOI TRE ONLINE. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2026.
  6. ^ Xem chi tiết ở đây: [1] Lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2008 tại Wayback Machine.
  7. ^ "Xem chi tiết ở đây". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2008.

Liên kết ngoài