Phạm võng kinh
Phạm Võng Kinh Lô Xá Na Phật Thuyết Bồ Tát Tâm Địa Giới Phẩm (chữ Hán: 梵網經盧舍那佛說菩薩心地戒品, tiếng Phạn: Brahmajāla Sūtra), thu giữ trong Tạng Đại Chính bộ Luật, bản Tây Tạng là bản dịch ngược từ Hán ngữ.[1] Quyển hạ của kinh này còn gọi là Phạm Võng Bồ Tát Giới Kinh (梵網菩薩戒經, Brahmajāla Bodhisattva Śīla Sūtra), Bồ Tát Ba La Đề Mộc Xoa Kinh (菩薩波羅提木叉經), Bồ Tát Tâm Địa Giới Bổn (菩薩心地戒本), là một trong những pháp bản căn cứ của giới Bồ Tát trong Phật giáo Bắc truyền.
Kinh này trùng tên với Kinh Phạm võng thuộc Trường Bộ của Tam tạng Pali, nhưng là hai bản kinh khác biệt và nội dung cũng không liên quan đến nhau.
Lời tựa kinh này nói rằng Phạm Võng Kinh Lô Xá Na Phật Thuyết Bồ Tát Tâm Địa Giới Phẩm do Cưu Ma La Thập dịch, tuy nhiên thực tế lịch sử lưu truyền của kinh không rõ ràng. Nhiều học giả Phật học cho rằng kinh này có khả năng được soạn tại Hán địa vào khoảng giữa thế kỷ thứ 5.
Giải thích tên gọi
Bởi lẽ chiếc lưới Nhân-đà-la của Đại Phạm Thiên Vương có các mắt lưới đan xen trùng trùng, không hề ngăn ngại lẫn nhau; giáo môn của chư Phật cũng trùng trùng vô tận, trang nghiêm Pháp thân và không có gì chướng ngại. Pháp môn được trình bày trong toàn bộ bản kinh này là vô cùng vô tận, ví như chiếc lưới của Phạm Vương, nên gọi là Phạm Võng.
Tâm địa: Tâm là gốc của muôn pháp, có khả năng sinh ra hết thảy các pháp, nên gọi là "Tâm địa" (đất tâm). Như trong Kinh Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán có chép: "Tâm của chúng sinh giống như đại địa, ngũ cốc ngũ quả đều từ đại địa mà sinh ra. Tâm pháp cũng như vậy, sinh ra các pháp thiện ác thế gian và xuất thế gian, năm thú, hữu học, vô học, Độc giác, Bồ-tát cho đến Như Lai. Vì nhân duyên đó, ba cõi duy tâm, tâm được gọi là đất". Lại nữa, người tu hành nương vào tâm để tu tập, nuôi dưỡng các công đức thiện căn, đó cũng là "Tâm địa".[2][3] Bản giác chân tính của hết thảy chúng sinh chính là tâm địa, là Phật tính. .
Các bản dịch
Xuất Tam Tạng Ký Tập không ghi chép về kinh này, chỉ thu lục "Bồ Tát Ba La Đề Mộc Xoa Hậu Ký" trong phần kinh tự. Vào đời Lương Võ Đế, sa-môn Huệ Kiểu soạn Phạm Võng Giới Sơ, trong tác phẩm Cao Tăng Truyện của ông có chép Cưu Ma La Thập dịch Bồ Tát Giới Bổn. Pháp Kinh Lục ghi: "Bồ Tát Ba La Đề Mộc Xoa Kinh một quyển - mất tên người dịch; Bồ Tát Giới Bổn một quyển (đời Hậu Tần, niên hiệu Hoằng Thủy, La Thập dịch); Phạm Võng Kinh hai quyển (các danh lục cũ của các nhà đa phần xếp vào loại nghi vấn)". Điều này cho thấy Phạm Võng Kinh bị xem là đáng nghi, còn giới bổn của nó thì một bản ghi mất tên người dịch, một bản ghi do Cưu Ma La Thập dịch. Khai Nguyên Thích Giáo Lục xác định Phạm Võng Kinh do La Thập dịch, và Bồ Tát Giới Bổn chính là quyển hạ.
Theo lời tựa kinh, Phạm Võng Kinh có 112 quyển, 61 phẩm, Cưu Ma La Thập đã dịch ra hai quyển của phẩm thứ 10 mang tên "Bồ Tát Tâm Địa Phẩm". Khuất Đại Thành chỉ ra rằng Phạm Võng Kinh không phải do La Thập dịch, mà được tập hợp và lưu truyền vào khoảng giữa đến cuối thế kỷ thứ 5. Ông cũng cho rằng khả năng Phạm Võng Kinh do người Hán soạn tác là không cao, các từ vựng đặc thù là do người Trung Thổ nhuận sắc thêm vào.[4]
Tuy nhiên, giới học thuật đa số cho rằng Phạm Võng Kinh nên được xem là do người Trung Quốc biên soạn vào cuối thời Lưu Tống, chứ không phải dịch từ Ấn Độ.[5] Thuyền Sơn Triệt (Funayama Toru) khi hiệu khám tất cả các phiên bản Phạm Võng Kinh hiện còn, đã đúc kết rằng kinh này có hai hệ thống: một là hệ thống bản chùa Khai Nguyên và bản Tư Khê Tạng, hai là hệ thống bản Cao Ly Tạng; trong đó hệ thống thứ nhất cổ xưa hơn. Ông đã nghiên cứu các từ vựng đặc thù trong kinh này và nhận định rằng Phạm Võng Kinh không phải là một bộ kinh dịch, đồng thời quyển thượng và quyển hạ do những người khác nhau soạn ra; quyển hạ có trước quyển thượng và được soạn tại Trung Quốc vào thế kỷ thứ 5.[6]
Nội dung
Quyển thượng của bộ kinh này có phong cách tương tự Kinh Hoa Nghiêm, quyển hạ là bản giới bổn giáo thị về giới luật, thuyết minh về các giai vị tu đạo của Bồ-tát cùng tướng trạng của mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh cần phải thọ trì.
Quyển thượng thuật việc Đức Phật Thích Ca tại tầng trời Thiền thứ tư tiếp dẫn đại chúng, khiến họ quy hướng về cung điện Quang minh Tử Kim Cang trong thế giới Liên Hoa Tạng, rồi hướng lên Đức Phật Lô Xá Na trên tòa sen thỉnh vấn về hành nhân của Bồ-tát. Đức Phật Lô Xá Na bèn vì thiên bách ức Thích Ca mà diễn thuyết rộng về bốn mươi pháp môn gồm ba mươi tâm (Thập Phát thú tâm, Thập Trưởng dưỡng tâm, Thập Kim cang tâm) và Thập địa.
Quyển hạ bàn về giới Bồ-tát, liệt kê mười giới cấm trọng và bốn mươi tám giới khinh; đây là những giới điều do Đức Phật Thích Ca thị hiện dưới gốc cây Bồ-đề tại cõi Diêm-phù-đề thuộc thế giới Sa-bà. Đây là một trong những bản giới Bồ-tát được thọ trì phổ biến nhất.
Giới Bồ-tát
Kinh Phạm Võng có một danh sách gồm mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh được gọi là Giới Bồ-tát.[7] Giới Bồ-tát thường được gọi là "Phạm Võng Giới" (chữ Hán: 梵網戒), đặc biệt là trong giới học thuật Phật giáo, mặc dù các bộ giới Bồ-tát khác cũng có thể được tìm thấy trong những văn bản khác. Thông thường, trong các truyền thống Đại thừa Đông Á, chỉ có 10 giới trọng được xem là Giới Bồ-tát. Theo kinh văn, tóm tắt 10 giới trọng Bồ-tát như sau:[8]
- Không sát sinh hoặc xúi giục người khác sát sinh.
- Không trộm cắp hoặc xúi giục người khác trộm cắp.
- Không hành dâm hoặc xúi giục người khác hành dâm. Một vị tỳ-kheo được yêu cầu phải đoạn tuyệt hoàn toàn hành vi tình dục.
- Không nói dối, dùng lời lẽ sai trái hoặc xúi giục người khác làm vậy.
- Không buôn bán rượu hoặc xúi giục người khác buôn bán rượu.
- Không rao truyền lỗi lầm của chúng hội Phật giáo, cũng không xúi giục người khác làm vậy.
- Không tự khen mình chê người, hoặc xúi giục người khác làm vậy.
- Không bỏn xẻn (keo kiệt), hoặc xúi giục người khác làm vậy.
- Không nuôi lòng giận dữ hoặc xúi giục người khác giận dữ.
- Không hủy báng Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) hoặc xúi giục người khác làm vậy.
Việc vi phạm bất kỳ giới nào trong số này đều được mô tả là phạm tội Ba-la-di (tội trục xuất).[9][10]
Địa vị
Kinh này được xem là bộ kinh hàng đầu của luật Đại thừa Bắc truyền, rất được giới Phật giáo Trung Quốc và Nhật Bản coi trọng. Giới học thuật nhìn chung cho rằng "Vô tướng giới" của Huệ Năng thuộc hệ thống Kinh Phạm Võng. Tổ sư khai sáng tông Thiên Thai Nhật Bản là Tối Trừng, kế thừa Thiên Thai Đại sư Trí Khải, đã dựa trên tinh thần khai hiển của kinh Pháp Hoa và áp dụng Tam tụ tịnh giới trong Kinh Phạm Võng để đề ra thuyết "Viên đốn giới", đồng thời công khai tổ chức nghi thức truyền trao Viên đốn giới này.
Bất Không Tam Tạng, một trong các vị tổ sư của Đường Mật, coi bản rộng của Kinh Kim Cang Đảnh (金剛頂經, Vajraśekhara Tantra) là cảnh giới bí mật thậm thâm của chư Phật và đại Bồ-tát, đồng thời xem bản Kinh Phạm Võng hai quyển là những hành tướng nông hiển có nguồn gốc từ bản rộng của Kinh Kim Cang Đảnh.
Văn hóa ăn chay và không ăn ngũ vị tân của Phật giáo Bắc truyền chủ yếu bắt nguồn từ việc Lương Võ Đế và Bắc Tề Văn Tuyên Đế hạ lệnh đoạn tửu cấm nhục (dứt rượu thịt), Tùy Văn Đế và Đường Cao Tổ ban chiếu chỉ đoạn sát (không sát sinh), cùng với các quy định liên quan trong giới Bồ-tát của Kinh Phạm Võng và các kinh điển hệ Như Lai Tạng như Kinh Lăng Già, Kinh Niết Bàn, Kinh Ương Quật Ma La. Do các bậc đế vương sắc lệnh đoạn tuyệt huân tinh (thịt và hành tỏi) cũng như cấm sát sinh, phong khí ăn chay đã dần thấm sâu vào dân gian Trung Quốc. Các kinh điển hệ Như Lai Tạng cùng Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới (vốn chú trọng Phật tính) đều nhấn mạnh việc đoạn tuyệt hoàn toàn thực phẩm từ thịt, giúp việc ăn chay được tôn sùng và trở thành phong trào mạnh mẽ. Ngược lại, Kinh Văn Thù Sư Lợi Vấn tuy lấy việc nuôi dưỡng lòng từ bi để thuyết giảng về đoạn nhục, nhưng vẫn khai hứa (cho phép) tam tịnh nhục và ngũ vị tân dùng làm thuốc hoặc bảo vệ sức khỏe; bản Giới Bổn Bồ Tát Du Già cũng không có quy định đoạn nhục và ngũ vị tân, nên có khả năng tương thích cao hơn với luật nghi Thanh văn.
Các sách chú giải về kinh này
- (Tùy) Trí Khải, Bồ Tát Giới Nghĩa Sơ, 2 quyển
- (Đường) Minh Khoáng, Thiên Thai Bồ Tát Giới Sơ, 3 quyển
- (Đường) Pháp Tạng, Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Bổn Sơ, 6 quyển
- (Tân La) Thắng Trang, Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Bổn Thuật Ký, 4 quyển
- (Tân La) Nghĩa Tịch, Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Bổn Sơ, 3 quyển
- (Tân La) Thái Hiền, Bồ Tát Giới Bổn Tông Yếu, 1 quyển; Phạm Võng Kinh Cổ Tích Ký, 3 quyển
- (Nhật Bản) Không Hải, Phạm Võng Kinh Khai Đề, 1 quyển
- (Nhật Bản) Ngưng Nhiên, Phạm Võng Giới Bổn Sơ Nhật Châu Sao, 50 quyển
- (Minh) Chu Hoằng, Phạm Võng Kinh Tâm Địa Phẩm Bồ Tát Giới Nghĩa Sơ Phát Ẩn, 5 quyển; Giới Sơ Phát Ẩn Sự Nghĩa, 1 quyển; Bồ Tát Giới Vấn Biện, 1 quyển
- (Minh) Trí Húc, Phạm Võng Kinh Bồ Tát Tâm Địa Phẩm Hợp Chú, 7 quyển; Phạm Võng Kinh Bồ Tát Tâm Địa Phẩm Huyền Nghĩa, 1 quyển; Bồ Tát Giới Yết Ma Văn Giải, 1 quyển
- (Thanh) Hoằng Tán, Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Lược Sơ, 8 quyển
- (Thanh) Tịch Quang, Phạm Võng Kinh Trực Giải Thích Kinh, 4 quyển
- (Thanh) Kim Thích, Bồ Tát Giới Sơ Tùy Kiến Lục, 1 quyển
- (Thanh) Thư Ngọc, Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Sơ Tân, 8 quyển
- Thích Linh Nguyên, Phạm Võng Kinh Bồ Tát Đạo, 2016, Pháp Cổ Văn Hóa (Tên gốc: Phạm Võng Kinh Tập Nghĩa Cú Giải)
Khảo chứng
Tương truyền kinh này được truyền từ Ấn Độ sang, nguyên bản có 112 quyển và 61 phẩm, nhưng hiện đại chưa từng phát hiện bản văn Phạn của kinh, trong các ghi chép kinh điển bằng văn Phạn cũng không thấy đề cập đến bộ kinh này. Do các sự thực lịch sử về quá trình lưu truyền và người dịch không rõ ràng, lại thêm nội dung trích dẫn nhiều từ các kinh khác, nên kinh này bị suy đoán không phải dịch từ bản văn Phạn mà được ngụy tạo tại Trung Quốc, thời điểm biên soạn vào khoảng cuối đời Lưu Tống.
Lai lịch của kinh này đã bị nghi vấn từ thời Trung Quốc cổ đại. Bởi lẽ Cưu Ma La Thập từng tự nói rằng mình không dám truyền thụ giới luật, nên các học giả nghi ngờ kinh này có thể không phải truyền từ ông; do đó Pháp Kinh Lục đời Tùy đã xếp kinh này vào loại nghi vấn. Các học giả Phật học hiện đại như Vọng Nguyệt Tín Hanh (Mochizuki Shinko), Đại Dã Pháp Đạo (Ono Hodo), Liêm Điền Mậu Hùng (Kamata Shigeo), Lữ Trừng, Thang Dụng Đồng đều khảo chứng kinh này là ngụy tạo tại Trung Quốc.
Thái Hư Đại sư cho rằng nội dung quyển thượng của kinh này tương tự với Đại Thừa Du Già Kim Cang Tánh Hải Man Thù Thất Lợi Thiên Tý Thiên Bát Đại Giáo Vương Kinh, nên hẳn phải có căn cứ từ bản văn Phạn. Thang Dụng Đồng thì cho rằng kinh này do các tăng sĩ phương Bắc sao chép và cải biên từ các kinh như Bồ Tát Địa Trì Kinh, Man Thù Thiên Tý Kinh sau sự kiện Bắc Ngụy Thái Vũ Đế diệt Phật.
Xem thêm
- Giới luật Bồ Tát
- Kinh Phạm võng (kinh điển Pali, Nam truyền)
Tham khảo
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).[liên kết hỏng vĩnh viễn]
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
Liên kết ngoài
- Qu Dacheng – Về tính xác thực của Kinh Lưới Bà La Môn dựa trên các văn bản cổLưu trữ ngày 12 tháng 2 năm 2017 tại Wayback Machine
- Qu Dacheng – Về tính xác thực của Kinh Lưới Bà La Môn từ góc độ văn bảnLưu trữ ngày 3 tháng 1 năm 2018 tại Wayback Machine
- Tôn giả Chang-sheng – Một cuộc thảo luận ngắn về giới luật Bồ Tát Mạng Lưới Brahma của sư phụ Sheng-yen
- HT Thích Trí Tịnh (dịch), Kinh Phạm Võng. Thư viện Hoa Sen.
| Bảng các chữ viết tắt |
|---|
| bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên | pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán |