Bước tới nội dung

Phi ngư phục

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Phi ngư phục
Hoàng đế Tuyên Đức mặc phi ngư phục trong tranh Minh Tuyên Tông mã thượng tượng (明宣宗馬上像)
Loạiban phục
Nguồn gốcTrung Quốc
Giới thiệuđầu thời nhà Minh

Phi ngư phục (chữ Hán: 飛魚服) là một loại ban phục của nhà Minh, mang đồ án phi ngư và thuộc nhóm phục sức tượng long trong triều đình. Loại phục này hình thành trong quá trình triều đình thu hẹp quyền dùng hoa văn rồng từ đầu thời Hồng Vũ đến giữa thời nhà Minh. Trong giai đoạn đó, các đồ án gần với hình rồng như mãng bào, đẩu ngưu và phi ngư dần tách khỏi hệ quan phục theo phẩm hàm để trở thành y phục chỉ được mặc khi có lệnh ban hoặc cho phép riêng của hoàng đế.

Phi ngư phục gắn chặt với Cẩm y vệ (錦衣衛) và cung đình, nhưng không phải y phục riêng của cơ quan này. Phi ngư phục còn xuất hiện trong việc hầu cận của hoạn quan, trong các đợt ban thưởng cho quan lạiđại thần. Ví dụ như trong trường hợp Tống Tố Khanh (宋素卿) thuộc quan hệ triều cống giữa Nhật Bản và nhà Minh, cũng như trong tranh chân dung và áo bào còn truyền lại. Vì đồ án phi ngư rất gần hoa văn mãng, phi ngư phục về sau thường bị đồng nhất với mãng phục hoặc với hình tượng Cẩm y vệ trong văn hóa đại chúng.

Khái quát và quá trình hình thành

Trong hệ phục sức thời nhà Minh, phi ngư phục không phải công phục hay thường phục phân theo phẩm cấp, mà là một loại ban phục dùng đồ án gần rồng để biểu thị ân sủng, sự gần gũi với vua và địa vị.[1][2] Những lần cải định y quan đầu thời Minh đặt phục sức vào trung tâm của lễ chế và trật tự chính trị, qua đó phân biệt ranh giới giữa hoàng đế, quan lại và dân thường.[1] Phi ngư phục nằm trong quá trình ấy. Về sau, nó tách khỏi hệ quan phục theo phẩm cấp và trở thành loại phục sức chỉ được mặc khi có sắc ban của hoàng đế.[1][2]

Đầu thời Hồng Vũ, quan từ lục phẩm trở lên còn được dùng hoa văn rồng-phượng trên mũ áo; năm 1373, quan từ nhất phẩm đến lục phẩm vẫn được phép mặc rồng bốn móng thêu kim. Trong các lần chỉnh định sau, điều khoản này biến mất. Đến cuối thời Hồng Vũ, các đồ án tượng long như mãng, đẩu ngưu và phi ngư đã trở thành loại y phục chỉ được mặc khi có lệnh ban của hoàng đế.[1]

Tên gọi, đồ án và cách nhận diện

Trong phục sức nhà Minh, phi ngư không phải loài cá bay theo nghĩa thông thường mà là một đồ án thần thú phát sinh từ hình rồng.[1][2] Mãng, đẩu ngưu và phi ngư đều là các biến thể từ rồng: giảm móng thành mãng, thêm sừng trâu thành đẩu ngưu, thêm cánh thành phi ngư.[1][2] Vì cùng thuộc nhóm tượng long, đồ án phi ngư rất gần hoa văn mãng về cấu trúc tạo hình và địa vị biểu tượng.[2]

Trên hiện vật, phi ngư thường vẫn giữ đầu rồng, thân vảy, chân và sừng; dấu hiệu phân biệt nằm ở cánh, các yếu tố vây và phần đuôi chẻ. Ở nhiều hiện vật muộn, cánh và vây bụng bị giản lược mạnh; đuôi chẻ trở thành dấu hiệu phân biệt rõ nhất với hoa văn mãng.[2] Đồ án phi ngư không chỉ xuất hiện trên áo bào, mà còn thấy trên vải áo bào, phương bổđai quắc ngọc chạm phi ngư.[2]

Năm 1537, Hoàng đế Gia Tĩnh thấy Trương Toản (張瓚) mặc áo bị cho là mãng y. Triều đình xác nhận đó là phi ngư phục được ban, nhưng vụ việc này cho thấy ranh giới nhận diện giữa phi ngư và mãng ở đương thời chưa ổn định.[3][4]

Kiểm soát và lệnh cấm

Từ giữa thế kỷ 15, triều đình nhiều lần nhắc lại lệnh cấm đối với các đồ án gần rồng. Năm 1447, Minh Anh Tông cấm quan lại và dân thường lạm dùng các đồ án thêu dệt mãng long, phi ngư và đẩu ngưu; thợ dệt vi phạm bị xử rất nặng, còn người mặc cũng bị truy tội. Năm 1458, lệnh cấm được nhắc lại với phạm vi rộng hơn, đặt phi ngư cùng nhóm với mãng long, đẩu ngưu, đại bằng, sư tử và các hoa dạng, màu sắc trái chế khác.[2][3]

Năm 1504, triều đình lại nhắc rằng mãng, long, phi ngư và đẩu ngưu đều thuộc diện cấm tư dệt; ngay cả áo từng được ban mà đã hỏng cũng không được tự dệt lại để dùng tiếp.[3][4] Năm 1521, Hoàng đế Gia Tĩnh xếp phi ngư cùng mãng long và đẩu ngưu vào nhóm phục sức bị xin ban quá nhiều, rồi ban lệnh cấm mới. Năm 1527, lệnh cấm mở rộng đến cả sứ thần ngoại phiên, không cho tự ý mua y phục phạm chế ở Trung Hoa.[3]

Năm 1537, sau vụ Trương Toản, Lễ bộ rà lại phục sắc của quan văn và quan võ, đồng thời xin siết quy chế: người mặc chỉ được dùng đúng phục sắc theo phẩm cấp, trừ các trường hợp được ban hoặc được phép riêng; việc mặc mãng y, phi ngư, đẩu ngưu và các hoa dạng vượt quy chế tiếp tục bị cấm.[3][4]

Ban cấp và phạm vi sử dụng

Sau thời Hoàng đế Vĩnh Lạc, các hoạn quan hầu cận bên hoàng đế dùng một nhóm ban phục tượng long theo thứ bậc riêng. Mãng dành cho người được sủng tín đặc biệt; phi ngư xếp ngay sau và chỉ dùng khi vào hầu bên cạnh hoàng đế.[2][4]

Đợt ban cấp lớn năm 1518 phân đồ án theo thứ bậc: nhất phẩm đẩu ngưu, nhị phẩm phi ngư, tam phẩm mãng, tứ phẩm kỳ lân, ngũ đến thất phẩm hổ hoặc biểu. Những người được dự ban phải cắt may trong một đêm để sáng hôm sau mặc nghênh giá.[3] Đợt ban này cấp đại hồng trữ tila sa trước, rồi mới may thành áo trong đêm.[3]

Năm 1510, Tống Tố Khanh (宋素卿) trong đoàn sứ Nhật Bản sang nhà Minh được ban phi ngư phục sau khi tư tặng Lưu Cẩn (劉瑾) một nghìn lượng vàng; đây là trường hợp một bề tôi của nước chư hầu được ban phi ngư phục chưa từng thấy trước đó.[5]

Quan hệ với Cẩm y vệ

Phi ngư phục có quan hệ chặt với Cẩm y vệ, nhưng quan hệ này gắn với nghi lễ và việc hầu giá chứ không tạo thành quyền dùng độc quyền cho toàn bộ cơ quan. Trong các dịp triều hội, tuần hạnh, triêu nhật, tịch nguyệt, canh tịchthị sinh, người của Cẩm y vệ mặc phi ngư phục, đeo tú xuân đao và đứng hầu hai bên.[6]

Mục Dư phục (輿服) của Minh sử (明史) còn quy định chặt hơn rằng khi tế lễGiao miếu, Xã tắc và trong các dịp triêu nhật, tịch nguyệt, cày tịch điền, chỉ các quan đường thượng của Cẩm y vệ mới được mặc đại hồng y mang đồ án phi ngư, đội ô sa mạo, thắt loan đái và đeo tú xuân đao; khi tế Thái miếu và xã tắc, họ đổi sang đại hồng tiện phục.[4] Quy định này giới hạn việc mặc phi ngư phục vào một nhóm quan viên có cấp bậc và nhiệm vụ nghi lễ cao trong cơ quan này.[4]

Theo Đại Minh hội điển, trong Cẩm y vệ chỉ nhóm chỉ huy làm nhiệm vụ thị vệ mới được mặc kỳ lân phục; những người hưởng lộc nhưng không trực thị vệ, cùng các cấp thiên hộbách hộ, dù có làm thị vệ cũng không được mặc quá chế độ.[7]

Kiểu dáng và hiện vật còn lại

Chi tiết bào phục thời nhà Minh trong tranh Minh nhân họa nhập tất đồ (明人畫入蹕圖).

Phi ngư phục không chỉ có một kiểu cắt may. Tranh Minh Tuyên Tông mã thượng tượng (明宣宗馬上像) tại Quốc lập Cố cung bác vật viện cho thấy Hoàng đế Tuyên Đức mặc một bào phục đại khâm hữu nhậm dài quá gối. Thân áo mang đồ án phi ngư, còn hai vai, ngực và lưng có thêm long văn; mũ đội gắn đỉnh châu và nối tiếp kiểu mũ chịu ảnh hưởng từ nhà Nguyên.[8] Phi ngư phục xuất hiện ở đây trong bối cảnh cưỡi ngựa và săn bắn của hoàng đế.[8]

Một hiện vật còn lại là Minh Diễn Thánh công hương sắc ma phi ngư thiếp lý (明衍聖公香色麻飛魚貼裏), hiện lưu tại Bảo tàng Sơn Đông.[9][10] Đây là áo nam có trực lĩnh, đại khâm hữu nhậm, tay rộng rồi thu ở cổ tay, thân áo trước sau chia vạt, phần dưới eo có nếp gấp và phía sau bên trái xẻ tà; nền dệt dùng kết cấu hai kinh giảo. Các phần vân kiên, tụ lantất lan của áo trang trí bằng phi ngư, hải thủy giang nhailưu vân. Nguồn mô tả còn cho biết hiện vật mang đồ án phi ngư bốn chân và có đường eo nối phần áo trên với phần dưới.[9][11]

Đồ án phi ngư còn thấy trên vải áo bào lưu tại Bảo tàng Quốc gia Tokyo, trên phương bổ lưu tại Bảo tàng Mỹ thuật Boston và trên đai quắc ngọc chạm phi ngư của Bảo tàng Cố cung.[2] Đồ án này xuất hiện trên áo bào, thiếp lý, vật liệu may mặc và phụ kiện.[2][8][11]

Cách hiểu về sau

Minh họa hiện đại về Cẩm y vệ trong văn hóa đại chúng.

Về sau, phi ngư phục thường gắn với điện ảnh, truyền hình và hình tượng Cẩm y vệ. Phi ngư phục không phải y phục riêng của Cẩm y vệ; bộ Minh Diễn Thánh công hương sắc ma phi ngư thiếp lý hiện lưu tại Bảo tàng Sơn Đông là một ví dụ cho phạm vi sử dụng rộng hơn.[9][10][11] Đồ án phi ngư trong nhiều trường hợp rất gần hoa văn mãng và thường xuất hiện trên đại hồng bào phục, nên về sau dễ bị lẫn với mãng phục và với hình tượng Cẩm y vệ trong văn hóa đại chúng.[2][3][11]

Chú thích

  1. ^ a b c d e f 張, 佳 (2014). "重整冠裳:洪武時期的服飾改革" (PDF). 中國文化研究所學報 (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2026.
  2. ^ a b c d e f g h i j k l 董, 進 (2024). "衮衣红耀天机锦:明代服饰中的龙纹与象龙纹样" (PDF). 紫禁城 (bằng tiếng Trung) (2). 故宫博物院: 100–127. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2026.
  3. ^ a b c d e f g h 王, 熹 (2008). "明代官员服饰研究" (PDF). 故宫学刊 (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2026.
  4. ^ a b c d e f "明史 : 志第四十三 輿服三". 中國哲學書電子化計劃 (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2026.
  5. ^ 陳, 學霖 (2012). ""華人夷官":明代外蕃華籍貢使考述" (PDF). 中國文化研究所學報 (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2026.
  6. ^ "明史/卷76" [Lịch sử nhà Minh/tập 76]. 維基文庫 (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2026.
  7. ^ "大明會典卷之六十一". 中國哲學書電子化計劃 (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2026.
  8. ^ a b c "明宣宗馬上像 軸". 國立故宮博物院 (bằng tiếng Trung). 國立故宮博物院. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2026.
  9. ^ a b c "管窥博物馆里的明朝服饰". 光明网 (bằng tiếng Trung). 光明日报. ngày 21 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2026.
  10. ^ a b ""博物馆说"系列". 中华人民共和国文化和旅游部 (bằng tiếng Trung). 中华人民共和国文化和旅游部. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2026.
  11. ^ a b c d "衣冠服章里的 "大明风华",明代成衣实物的一次罕见展示". 新湖南 (bằng tiếng Trung). ngày 21 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2026.