Bước tới nội dung

Pokémon Aka và Ao

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Pokémon Red & Green)
  • Pokémon Red Version
  • Pokémon Blue Version
  • Pokémon Yellow Version
Tập tin:Pokémon box art - Red Version.jpg
Ảnh bìa của Pokémon Red, miêu tả Pokémon Lizardon (Charizard) phát hành tại Nhật Bản
Nhà phát triểnGame Freak
Nhà phát hànhNintendo
Đạo diễnTajiri Satoshi
Nhà sản xuất
Thiết kếTajiri Satoshi
Họa sĩ
Biên kịch
  • Tajiri Satoshi
  • Taniguchi Ryosuke
  • Nonomura Fumihiro
  • Jinnai Hiroyuki
Âm nhạcMasuda Junichi
Loạt trò chơiPokémon
Nền tảngGame Boy
Phát hành
  • Pocket Monsters RedGreen
    • JP: 27 tháng 2 năm 1996
  • Pocket Monsters Blue
    • JP: 15 tháng 10 năm 1996
    (CoroCoro Comic)
    • JP: 10 tháng 10 năm 1999
    (bán lẻ)
  • Pokémon RedBlue
    • NA: 28 tháng 9 năm 1998
    • AU: 23 tháng 10 năm 1998
    • EU: 5 tháng 10 năm 1999
  • Pokémon Yellow
    • JP: 12 tháng 9 năm 1998
    • AU: 3 tháng 9 năm 1999
    • NA: 18 tháng 10 năm 1999
    • EU: 16 tháng 6 năm 2000
Thể loạiTrò chơi điện tử nhập vai
Chế độ chơiChơi đơn, Nhiều người chơi

Pokémon Red VersionPokémon Blue Version là các trò chơi điện tử nhập vai (RPG) năm 1996 do Game Freak phát triển và Nintendo phát hành cho Game Boy. Chúng là các phần đầu tiên của loạt trò chơi điện tử Pokémon. Chúng là những phần đầu tiên của loạt và lần đầu tiên được phát hành ở Nhật Bản dưới tên Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). và bản đặc biệt của nó phát hành sau đó cùng năm Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).. Các trò chơi này phát hành quốc tế vào năm 1998 và 1999 với tên gọi Pokémon AkaPokémon Ao, trong khi một phiên bản nâng cao khác gọi là Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).[a] được phát hành tại Nhật Bản vào năm 1998 và ở các khu vực khác vào năm 1999 và 2000.

Người chơi điều khiển nhân vật chính từ góc nhìn từ trên xuống và khám phá vùng Kanto hư cấu trong hành trình chinh phục đấu trường Pokémon. Mục tiêu là trở thành Nhà vô địch Liên minh Pokémon (Pokémon League Champion) bằng cách đánh bại tám Thủ lĩnh Phòng thi đấu (Gym Leader) và các Huấn luyện viên Pokémon hàng đầu ở Kanto, Tứ Đại Thiên Vương (Elite Four). Một mục tiêu khác là hoàn thành Pokédex, một cuốn bách khoa toàn thư trong trò chơi, bằng cách thu thập tất cả 151 Pokémon. Cả phiên bản AkaAo đều sử dụng Cáp Kết nối Game (Game Link Cable), kết nối hai hệ máy Game Boy và cho phép trao đổi hoặc chiến đấu Pokémon giữa hai trò chơi. Cả hai phiên bản đều có cốt truyện giống nhau,[1] và mặc dù có thể chơi riêng từng trò, người chơi phải trao đổi Pokémon giữa hai trò chơi để có được tất cả 151 Pokémon ban đầu.

RedBlue được đón nhận nồng nhiệt, với giới phê bình khen ngợi các tùy chọn chơi nhiều người, đặc biệt là khái niệm trao đổi. Chúng nhận được điểm số tổng hợp 89% trên GameRankings và được coi là một trong những trò chơi hay nhất từng được tạo ra, luôn nằm trong top các danh sách trò chơi hay nhất, bao gồm ít nhất bốn năm trong "Top 100 trò chơi hay nhất mọi thời đại" của IGN. Các trò chơi này đánh dấu sự khởi đầu của một thương hiệu trị giá hàng tỷ đô la, cùng nhau bán được hơn 400 triệu bản trên toàn thế giới. Phiên bản RedBlue được làm lại cho Game Boy Advance với tên FireRed và LeafGreen (2004) trong khi Yellow được làm lại cho Nintendo Switch với tên Let's Go, Pikachu!Let's Go, Eevee! (2018).[2] Các phiên bản gốc đã được phát hành lại trên dịch vụ Virtual Console dành cho Nintendo 3DS vào năm 2016 để kỷ niệm 20 năm ngày ra mắt.

Lối chơi

Pokémon AkaAo được chơi ở góc nhìn người thứ ba, từ trên xuống và bao gồm ba màn hình cơ bản: một thế giới bên ngoài, trong đó người chơi điều khiển nhân vật chính;[3] một màn hình chiến đấu nhìn từ bên cạnh;[4] và giao diện menu, trong đó người chơi có thể tùy chọn Pokémon, vật phẩm hoặc cài đặt trò chơi của họ.[5]

Tập tin:Bulbasaur pokemon red.png
Bulbasaur của người chơi đang giao chiến với Charmander[6]

Người chơi có thể sử dụng Pokémon của mình để chiến đấu với các Pokémon khác. Khi người chơi chạm trán một Pokémon hoang dã hoặc bị một huấn luyện viên thách đấu, màn hình sẽ chuyển sang chiến đấu theo lượt hiển thị hai Pokémon đang tham chiến. Trong trận chiến, người chơi có thể chọn chiến đấu bằng một trong tối đa bốn chiêu thức, sử dụng vật phẩm, đổi Pokémon đang hoạt động hoặc cố gắng bỏ chạy; tuy nhiên, không thể bỏ chạy trong các trận chiến với huấn luyện viên. Pokémon có HP; khi HP của Pokémon giảm xuống 0, nó sẽ bất tỉnh và không thể tiếp tục chiến đấu cho đến khi được hồi sinh. Khi một Pokémon của đối phương bất tỉnh, Pokémon của người chơi tham gia trận chiến sẽ nhận được một số điểm kinh nghiệm (EXP) nhất định. Sau khi tích lũy đủ EXP, Pokémon sẽ lên cấp.[4] Cấp độ của Pokémon quyết định các thuộc tính vật lý của nó, chẳng hạn như các chỉ số chiến đấu đạt được và các chiêu thức mà nó đã học được. Một số Pokémon cũng có thể tiến hóa ở một số cấp độ nhất định. Sự tiến hóa này ảnh hưởng đến các chỉ số và cấp độ mà Pokémon học được các chiêu thức mới. Pokémon ở các giai đoạn tiến hóa cao hơn sẽ nhận được nhiều chỉ số hơn mỗi khi lên cấp, mặc dù chúng có thể không học được các chiêu thức mới sớm như ở các giai đoạn tiến hóa thấp hơn, hoặc thậm chí không học được chiêu thức nào cả.[7]

Việc bắt Pokémon là một yếu tố thiết yếu khác. Trong khi chiến đấu với Pokémon hoang dã, người chơi có thể ném Poké Ball vào nó. Nếu bắt được Pokémon, người chơi sẽ sở hữu nó. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ bắt thành công bao gồm HP của Pokémon mục tiêu, liệu nó có đang chịu ảnh hưởng của hiệu ứng trạng thái nào không, và loại Poké Ball được sử dụng: HP của mục tiêu càng thấp, hiệu ứng trạng thái càng mạnh và loại Poké Ball càng mạnh, tỷ lệ bắt thành công càng cao.[8] Mục tiêu cuối cùng là hoàn thành các mục trong Pokédex, một bách khoa toàn thư Pokémon toàn diện, bằng cách bắt giữ, tiến hóa và trao đổi để có được tất cả 151 sinh vật.[9]

Pokémon AkaAo cho phép người chơi trao đổi Pokémon giữa hai băng ROM thông qua Game Link Cable.[10] Phương pháp trao đổi này là cần thiết để hoàn thành trọn bộ Pokédex vì một số Pokémon chỉ tiến hóa khi được trao đổi và mỗi trò chơi đều có những Pokémon độc quyền theo phiên bản.[1] Cáp kết nối cũng cho phép chiến đấu với đội Pokémon của người chơi khác.[10] Khi chơi Aka hoặc Ao trên Game Boy Advance hoặc SP, cáp kết nối GBA/SP tiêu chuẩn sẽ không hoạt động; người chơi phải sử dụng Cáp kết nối trò chơi đa năng Nintendo (Nintendo Universal Game Link Cable).[11] Hơn nữa, các phiên bản tiếng Anh không tương thích với các phiên bản tiếng Nhật, và việc trao đổi như vậy sẽ làm hỏng các tập tin lưu trò chơi, vì hai trò chơi sử dụng các ngôn ngữ nên có các bộ ký tự khác nhau.[12]

Ngoài việc trao đổi Pokémon với nhau và với Pokémon Yellow, Pokémon AkaAo cũng có thể trao đổi Pokémon với thế hệ thứ hai của trò chơi Pokémon: Pokémon Gold, SilverCrystal. Tuy nhiên, có một số hạn chế: các trò chơi không thể liên kết nếu đội hình của một người chơi có Pokémon hoặc chiêu thức được giới thiệu trong các trò chơi thế hệ thứ hai.[13] Ngoài ra, bằng cách sử dụng Transfer Pak cho Nintendo 64, dữ liệu như Pokémon và vật phẩm từ Pokémon AkaAo có thể được sử dụng trong trò chơi Pokémon Stadium[14]Pokémon Stadium 2 trên hệ máy Nintendo 64.[15] AkaAo không tương thích với các trò chơi Pokémon thuộc "Thế hệ nâng cao" sau này dành cho Game Boy AdvanceGameCube.[16]

Lỗi và trục trặc

Pokémon AkaAo nổi bật với số lượng lớn các lỗi, có thể là do phạm vi của chúng so với kinh nghiệm phát triển của Game Freak vào thời điểm đó.[17] Một trong những lỗi phổ biến nhất trong AkaAo liên quan đến việc gặp phải Ketsuban (tiếng Anh: MissingNo., viết tắt của "Missing Number"), một Pokémon lỗi có nhiều hình dạng khác nhau xuất hiện khi thực hiện các lỗi khác nhau.[18] Ngoài ra, một số Pokémon khác có thể được tìm thấy bằng cách sử dụng các lỗi trò chơi, chẳng hạn như Pokémon huyền thoại Mew mà nếu không làm thì không thể có được. Một lỗi khác, được gọi là "lỗi tràn số liệu kinh nghiệm", cho phép người chơi thao tác các số nguyên không dấu trong mã game đối với Pokémon trong nhóm kinh nghiệm "trung bình chậm" để tối đa hóa cấp độ của bất kỳ Pokémon nào thuộc nhóm đó.[19]

Cốt truyện

Tóm tắt

Người chơi bắt đầu ở thị trấn Pallet, quê hương của họ ở vùng Kanto (lấy cảm hứng từ, nhưng không nên nhầm lẫn với vùng Kanto ngoài đời thực của Nhật Bản). Sau khi một mình mạo hiểm vào vùng cỏ cao, người chơi bị Giáo sư Oak, một nhà nghiên cứu Pokémon nổi tiếng, chặn lại. Giáo sư Oak giải thích với người chơi rằng có thể có Pokémon hoang dã sinh sống ở đó và việc chạm trán chúng một mình có thể rất nguy hiểm.[20] Ông đưa người chơi đến phòng thí nghiệm của ông và gặp cháu trai của Giáo sư Oak, một đối thủ đầy tham vọng trong vai trò Huấn luyện viên Pokémon. Cả người chơi và đối thủ đều được hướng dẫn chọn một Pokémon khởi đầu cho cuộc hành trình của mình trong số Fushigidane (Bulbasaur), Zenigame (Squirtle) và Hitokage (Charmander).[21] Cháu trai của Giáo sư Oak sẽ luôn chọn Pokémon mạnh hơn Pokémon khởi đầu của người chơi. Sau đó, cậu ta sẽ thách đấu người chơi bằng Pokémon mới nhận được và sẽ tiếp tục chiến đấu với người chơi ở một số thời điểm nhất định.[22]

Trong chuyến tham quan các thành phố trong khu vực, người chơi sẽ bắt gặp những cơ sở đặc biệt gọi là Phòng thi đấu (Gym). Bên trong những tòa nhà này là các Thủ lĩnh Phòng thi đấu (Gym Leader), người chơi phải đánh bại từng người trong một trận chiến Pokémon để thu được tổng cộng tám Huy hiệu Phòng thi đấu (Gym Badges). Sau khi có được các huy hiệu, người chơi sẽ được phép tham gia Liên minh Pokémon (Pokémon League) ở Cao nguyên Indigo, nơi quy tụ những Huấn luyện viên Pokémon giỏi nhất vùng Kanto. Tại đó, người chơi sẽ chiến đấu với Tứ Đại Thiên Vương (Elite Four) và cuối cùng là Nhà vô địch Liên minh Pokémon (Pokémon League Champion): đối thủ của người chơi.[23] Xuyên suốt trò chơi, người chơi sẽ chiến đấu với Team Rocket, một tổ chức tội phạm sử dụng Pokémon cho nhiều mục đích phạm tội khác nhau.[7] Chúng bày ra vô số kế hoạch để đánh cắp những Pokémon quý hiếm, và người chơi phải ngăn chặn chúng.[24][25]

Bối cảnh

Red, Green, và Blue lấy bối cảnh ở vùng Kanto, dựa trên vùng Kanto có thật của Nhật Bản..
Bản đồ vùng Kantō, Nhật Bản

Pokémon AkaAo diễn ra ở vùng Kanto, dựa trên vùng Kantō có thật ở Nhật Bản. Đây là một vùng riêng biệt, như được thể hiện trong các trò chơi sau này, với các môi trường sống địa lý khác nhau cho 151 loài Pokémon hiện có, cùng với các thị trấn và thành phố có người sinh sống và các tuyến đường kết nối các địa điểm với nhau. Một số khu vực chỉ có thể tiếp cận được khi người chơi học được một khả năng đặc biệt hoặc có được một vật phẩm đặc biệt.[26] Kanto có nhiều khu định cư: Thị trấn Pallet, Thành phố Viridian, Thành phố Pewter, Thành phố Cerulean, Thành phố Vermillion, Thị trấn Lavender, Thành phố Celadon, Thành phố Fuchsia, Thành phố Saffron, Đảo Cinnabar và Cao nguyên Indigo. Tất cả các thị trấn này, ngoại trừ Thị trấn Pallet, Thị trấn Lavender và Cao nguyên Indigo, đều có Phòng thi đấu với một thủ lĩnh đóng vai trò là trùm, và các trận chiến chống lại Tứ Đại Thiên Vương và trận chiến cuối cùng với đối thủ diễn ra tại Cao nguyên Indigo. Các khu vực người chơi có thể bắt Pokémon trải rộng từ hang động (như Núi Mặt Trăng, Đường hầm Đá, Đảo Bọt Biển và Hang Cerulean) đến biển, nơi các loại Pokémon có thể bắt được cũng khác nhau.

Quá trình phát triển

Nhà phát triển trò chơi điện tử Tajiri Satoshi đã trình bày ý tưởng về Pokémon cho nhân viên của Nintendo vào năm 1990.[27] và vấp phải sự hoài nghi. Họ cho rằng ý tưởng của ông quá tham vọng và khó thấy được sức hấp dẫn của nó. Tuy nhiên Miyamoto Shigeru đã nhìn thấy tiềm năng lớn trong ý tưởng này và thuyết phục công ty tiếp tục dự án.[28]

Ý tưởng ban đầu cho Pokémon bắt nguồn từ sở thích sưu tầm côn trùng, một thú vui phổ biến mà Tajiri yêu thích khi còn nhỏ.[29] Tuy nhiên, khi lớn lên, ông nhận thấy quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ hơn ở thị trấn nơi ông sống và kết quả là số lượng côn trùng giảm đi. Tajiri nhận thấy trẻ em giờ đây thích chơi trong nhà hơn là ngoài trời, và ông đã nảy ra ý tưởng về một trò chơi điện tử, có những sinh vật giống côn trùng, được gọi là Pokémon. Ông nghĩ rằng trẻ em có thể đồng cảm với Pokémon bằng cách đặt tên cho từng con, và sau đó điều khiển chúng để thể hiện nỗi sợ hãi hoặc sự tức giận như một cách tốt để giải tỏa căng thẳng. Tuy nhiên, Pokémon không bao giờ chảy máu hay chết trong trận chiến, chỉ ngất xỉu – đây là một vấn đề rất nhạy cảm đối với Tajiri, vì ông muốn người chơi cần phải tôn trọng cái chết hơn.[30]

Ý tưởng trao đổi Pokémon được lấy cảm hứng từ một trải nghiệm khó chịu mà Tajiri gặp phải khi chơi Dragon Quest II: Luminaries of the Legendary Line. Khi Tajiri đang cố gắng có được một vật phẩm chỉ có thể nhận được bằng cách đánh bại kẻ thù, nhưng ông không thể có được nó. Sugimori Ken cũng đang chơi Dragon Quest II vào thời điểm đó và đã có được hai vật phẩm hiếm. Muốn có được bản sao dư của Sugimori, Tajiri đã cố gắng tìm hiểu xem liệu có thể trao đổi vật phẩm giữa các trò chơi hay không, nhưng nhận ra điều này là không thể làm được trên hệ máy Famicom.[31] Khi Game Boy được phát hành, Tajiri nghĩ rằng hệ máy này hoàn hảo cho ý tưởng của mình, đặc biệt là nhờ cáp kết nối, mà ông hình dung nó sẽ cho phép người chơi trao đổi Pokémon với nhau. Khái niệm trao đổi thông tin này còn mới mẻ đối với ngành công nghiệp trò chơi điện tử vì trước đây cáp kết nối chỉ được sử dụng cho mục đích thi đấu.[32] "Tôi đã tưởng tượng một lượng lớn thông tin được truyền tải bằng cách kết nối hai máy Game Boy với những sợi cáp đặc biệt, và tôi đã nghĩ, thật tuyệt vời, điều đó sẽ thực sự rất thú vị!" Tajiri nói.[33] Khi nghe về ý tưởng Pokémon, Miyamoto Shigeru đã đề xuất tạo ra nhiều băng trò chơi với các Pokémon khác nhau, nhấn mạnh rằng điều đó sẽ hỗ trợ khía cạnh trao đổi.[34] Tajiri cũng chịu ảnh hưởng bởi trò chơi "The Final Fantasy Legend" của Square trên máy Game Boy, và ông cho rằng trò chơi này đã cho ông ý tưởng rằng không chỉ có trò chơi hành động mới có thể phát triển cho Game Boy.[35]

Nhân vật chính có tên là Satoshi (hay Red trong bản tiếng Anh), được đặt theo tên của chính Tajiri. Theo Tajiri, "Về cơ bản, cậu ấy chính là tôi hồi nhỏ."[30] Nhân vật đối thủ, Shigeru (hay Blue trong bản tiếng Anh), được đặt theo tên của Miyamoto Shigeru, người mà Tajiri coi là người thầy và hình mẫu.[30][36] Sugimori Ken, một họa sĩ và cũng là bạn thân của Tajiri, đã dẫn đầu việc phát triển các bản vẽ và thiết kế của Pokémon, làm việc với một nhóm chưa đến mười người để tạo ra các thiết kế khác nhau cho tất cả 151 Pokémon. Nishida Atsuko phụ trách các thiết kế cho Pikachu, Fushigidane (Bulbasaur), Zenigame (Squirtle) và Hitokage (Charmander). và nhiều Pokémon khác.[37] Đến lượt mình, Sugimori đã hoàn thiện từng thiết kế, vẽ các Pokémon từ nhiều góc độ khác nhau để hỗ trợ bộ phận đồ họa của Game Freak trong việc tái hiện sinh vật một cách chính xác.[38][39]

Ban đầu có tên là "Capsule Monsters", trò chơi đã trải qua nhiều lần thay đổi do vấn đề bản quyền thương hiệu, trở thành "CapuMon" và "KapuMon" trước khi cuối cùng là "Pocket Monsters".[40][41] Tajiri luôn nghĩ rằng Nintendo sẽ từ chối trò chơi của ông, vì ban đầu công ty không thực sự hiểu ý tưởng. Tuy nhiên, trò chơi lại thành công vang dội, điều mà cả Tajiri lẫn Nintendo không bao giờ ngờ tới, đặc biệt là trong bối cảnh Game Boy đang dần mất đi sức hút.[30]

Tajiri cho biết ý tưởng về Poké Ball được lấy cảm hứng từ Capsule Monsters của Ultraseven trong loạt phim truyền hình tokusatsu superhero "Ultraseven" (1967–1968).[42] Nintendo đã chi 13 triệu đô la cho việc tiếp thị Pokémon Red và Blue tại Hoa Kỳ.[43]

Phát hành

Tại Nhật Bản, Poketto Monsutā AkaAo là những phiên bản đầu tiên được phát hành. Quá trình phát triển hoàn tất vào tháng 10 năm 1995 và ban đầu dự kiến ​​phát hành vào ngày 21 tháng 12 năm 1995[44] nhưng đã bị hoãn đến ngày 27 tháng 2 năm 1996[45][46] vì chưa sẵn sàng để bán các sản phẩm phái sinh.[47] Sau khởi đầu chậm chạp, doanh số bán hàng của họ dần có tiến triển tốt.[48] Vài tháng sau, Poketto Monsutā Midori được phát hành tại Nhật Bản dưới dạng phiên bản đặc biệt chỉ bán qua đặt hàng trực tuyến[49] cho độc giả đăng ký dài hạn tạp chí CoroCoro Comic vào ngày 15 tháng 10 năm 1996. Sau đó, nó được phát hành rộng rãi ra thị trường bán lẻ vào ngày 10 tháng 10 năm 1999.[50][51] Phiên bản này có đồ họa được cập nhật và lời thoại mới.[52] Sử dụng Blastoise làm linh vật, mã, kịch bản và hình ảnh minh họa cho Ao đã được sử dụng cho các phiên bản quốc tế của Aka và Ao, sau đó đổi tên thành Red và Blue.[49]

Để tạo thêm sự hứng thú, Tajiri đã tiết lộ thêm một Pokémon có tên là Mew được giấu bên trong, mà ông tin rằng "đã tạo ra rất nhiều tin đồn và huyền thoại về trò chơi" và "giữ cho sự quan tâm luôn hiện hữu".[30] Sinh vật này ban đầu được Morimoto Shigeki thêm vào như một trò đùa nội bộ và không nhằm mục đích tiết lộ cho người tiêu dùng.[53] Mãi sau này Nintendo mới quyết định phân phối Mew thông qua một sự kiện khuyến mãi của Nintendo. Tuy nhiên, vào năm 2003, một lỗi kỹ thuật đã được phát hiện cho phép người chơi có được Mew mà không cần dựa vào các sự kiện chính thức của Nintendo.[54]

Pokémon Yellow

Hai năm sau AkaMidori, Nintendo đã phát hành Pokémon Yellow, một phiên bản nâng cấp của AkaAo, ra mắt tại Nhật Bản năm 1998[55][56] ở Bắc Mỹ và châu Âu vào năm 1999[57] và 2000.[58] Trò chơi được thiết kế để giống với loạt anime Pokémon, trong đó người chơi nhận được một Pikachu làm Pokémon khởi đầu và đối thủ của họ bắt đầu với một Eevee. Một số nhân vật không phải người chơi cũng giống với các nhân vật trong phim hoạt hình, bao gồm Jessie và James của Team Rocket.[59]

Pokémon Yellow đã thay đổi và nâng cao một số khía cạnh của các trò chơi gốc. Pikachu được cung cấp như Pokémon khởi đầu duy nhất của người chơi và có giọng nói (do Ōtani Ikue lồng tiếng) và tính cách độc đáo so với các Pokémon khác. Nó sẽ đi theo người chơi trên bản đồ thế giới và người chơi có thể nói chuyện với nó. Pikachu có thể yêu hoặc ghét người chơi dựa trên hành động của họ; lên cấp sẽ khiến Pikachu vui vẻ, trong khi thường xuyên bị ngất sẽ khiến nó buồn. Tính năng này đã được sử dụng lại trong Pokémon HeartGoldSoulSilver, phiên bản làm lại của Pokémon GoldSilver, và Pokémon: Let's Go, Pikachu!Let's Go, Eevee!, phiên bản làm lại của Pokémon Yellow.[60] Phiên bản Pokémon Yellow bao gồm trò chơi nhỏ "Pikachu's Beach" chỉ dành cho những người chơi đã thắng cuộc thi của Nintendo hoặc hoàn thành thử thách trong trò chơi khác, "Pocket Monsters Stadium" hoặc "Pokémon Stadium", và trao đổi dữ liệu giữa các trò chơi bằng cách sử dụng Transfer Pak.[61][62][63] Phiên bản Pokémon Yellow có đồ họa được cải thiện đôi chút và có thể in các mục trong Pokédex lên nhãn dán bằng Máy in Game Boy.[60][64]

Pokémon Yellow do Game Freak phát triển và bắt đầu sau khi hoàn thành phiên bản tiếng Nhật của Pokémon Ao. Nintendo có thể đã cân nhắc một phiên bản Pokémon Pink để đi kèm với Pokémon Yellow, dựa trên thông tin rò rỉ từ Nintendo.[65]

Việc phát hành Pokémon Yellow trùng với thời điểm phát hành Gekijōban Pocket Monsters: Mewtwo no Gyakushū (Pokémon: The First Movie) và lần đầu tiên được công bố là Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). ở Nhật Bản.[66] Sau này, Iwata Satoru, người sau này trở thành chủ tịch của Nintendo, cho biết mọi người có lẽ cảm thấy Pokémon Yellow là không cần thiết do sự ra mắt của Pokémon Gold và Silver vào cuối năm đó.[67] Phim được phát hành tại Nhật Bản vào ngày 12 tháng 9 năm 1998, và tại Úc vào ngày 3 tháng 9 năm 1999,[68] tại Bắc Mỹ vào ngày 19 tháng 10 năm 1999 và tại châu Âu vào ngày 16 tháng 6 năm 2000.[69] Một bộ sản phẩm Game Boy Color theo chủ đề Pikachu đã được phát hành tại Bắc Mỹ vào tháng 10 năm 1999.[70] Để quảng bá cho việc phát hành Pokémon Yellow, Volkswagen và Nintendo đã tạo ra một chiếc Volkswagen New Beetle màu vàng với các tính năng lấy cảm hứng từ Pikachu.[71] Tạp chí "Nintendo World Report" đã liệt kê Pokémon Yellow là một trong những tựa trò chơi cầm tay đáng chú ý ra mắt năm 1999.[72]

Phiên bản phát hành lại

Nhân kỷ niệm 20 năm ngày phát hành phiên bản tiếng Nhật của loạt Pokémon thế hệ đầu tiên, vào tháng 2 năm 2016, Nintendo đã phát hành lại Aka, AoPokémon Yellow cho dịch vụ Nintendo 3DS Virtual Console của họ. Các trò chơi này bao gồm một tính năng lần đầu tiên xuất hiện trên Virtual Console: chức năng mô phỏng Link Cable cho phép trao đổi và chiến đấu giữa các trò chơi.[73] Giống như lần phát hành ban đầu, Green chỉ được bán độc quyền cho người tiêu dùng Nhật Bản.[74] Các phiên bản này có thể chuyển Pokémon sang Pokémon SunMoon thông qua ứng dụng Pokémon Bank.[75]

Một bộ sản phẩm Nintendo 2DS đặc biệt đã được phát hành tại Nhật Bản, Châu Âu và Úc vào ngày 27 tháng 2 năm 2016, với mỗi máy có màu sắc tương ứng với phiên bản trò chơi.[76] Bắc Mỹ đã nhận được một gói New Nintendo 3DS đặc biệt với các tấm ốp được thiết kế theo hình ảnh bìa hộp của AkaAo.[77] Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2016, tổng doanh số của các phiên bản phát hành lại đạt 1,5 triệu bản, trong đó hơn một nửa được bán ở Bắc Mỹ.[78]

Đánh giá

Đánh giá cho Pokémon Red và Blue

Trò chơi nhận được hầu hết các đánh giá tích cực, đạt điểm tổng hợp 88% trên GameRankings.[79] Đặc biệt khen ngợi các tính năng nhiều người chơi: khả năng trao đổi và chiến đấu với Pokémon. Craig Harris của IGN đã chấm điểm "xuất sắc" 10/10 cho trò chơi, nhận xét rằng: "Ngay cả khi bạn hoàn thành nhiệm vụ, bạn vẫn có thể không thu thập được tất cả Pokémon trong trò chơi. Thử thách bắt hết chúng thực sự là điểm thu hút lớn nhất của trò chơi." Ông cũng bình luận về sự phổ biến, đặc biệt là trong giới trẻ, mô tả nó như một "cơn sốt".[1] Peter Bartholow của GameSpot, người đã chấm điểm "tuyệt vời" 8.8/10, nhận xét đồ họa và âm thanh hơi thô sơ nhưng cho rằng đó là những nhược điểm duy nhất. Ông khen ngợi giá trị chơi lại nhờ khả năng tùy chỉnh và sự đa dạng, đồng thời nhận xét về sức hấp dẫn toàn cầu của trò chơi: "Ẩn sau vẻ ngoài dễ thương, Pokémon là một trò chơi nhập vai nghiêm túc và độc đáo với nhiều chiều sâu và các tính năng mở rộng nhiều người chơi xuất sắc. Là một trò chơi nhập vai, nó đủ dễ tiếp cận cho người mới làm quen với thể loại này có thể thưởng thức, nhưng cũng sẽ làm hài lòng cả những người hâm mộ cuồng nhiệt. Rõ ràng là một trong những trò chơi Game Boy hay nhất cho đến nay."[7]

Thành công của những trò chơi này được cho là nhờ trải nghiệm chơi trò chơi sáng tạo hơn là hiệu ứng nghe nhìn. Các bài báo được xuất bản cho đến năm 1999 bởi Trường Kinh doanh Columbia chỉ ra rằng cả trẻ em Mỹ và Nhật Bản đều thích lối chơi thực tế của trò chơi hơn là các hiệu ứng âm thanh hoặc hình ảnh đặc biệt. Trong các trò chơi Pokémon, việc thiếu các hiệu ứng nhân tạo này thậm chí còn được cho là thúc đẩy trí tưởng tượng và sự sáng tạo của trẻ.[95] "Giữa những lời bàn tán về công nghệ đồ họa, kỹ thuật tạo họa tiết và vân vân, lối chơi xuất sắc này lại mang đến một cảm giác mới mẻ, khiến bạn bỏ qua đồ họa 8-bit dễ thương", tờ The Guardian bình luận.[96]

Pokémon Yellow

Pokémon Yellow đã nhận được sự đón nhận tích cực từ giới phê bình, đạt điểm tổng hợp 85% từ GameRankings và đứng thứ năm trong danh sách các trò chơi Game Boy được đánh giá cao nhất mọi thời đại.[81] Sarasota Herald-Tribune đã đề xuất Yellow là một trò chơi hay dành cho trẻ em.[97] RPGFan gọi trò chơi này là "gây nghiện đến mức người chơi nào cũng không còn lựa chọn nào khác ngoài việc 'thu thập hết tất cả'". Họ cũng gọi phiên bản Yellow là "xúc phạm" vì những bổ sung so với RedBlue quá hạn chế.[98] Craig Harris của IGN đã chấm điểm tuyệt đối cho trò chơi, ca ngợi cơ chế chơi, nhận xét Pokémon Yellow là trò chơi hay nhất trong cả ba.[64]

Pokémon Yellow nhận được hai đề cử, "Trò chơi của năm" và "Trò chơi console của năm", tại lễ trao giải D.I.C.E. Awards lần thứ 3.[99][100]

Doanh số bán hàng

Doanh số của Pokémon Red và Blue

Pokémon RedBlue đã đặt nền móng cho một thương hiệu bom tấn, thu về hàng tỷ đô la.[101] Ở Nhật Bản Aka, Midori, và Ao đã bán được tổng cộng 1,04 triệu bản trong năm 1996, và thêm 3,65 triệu bản nữa vào năm 1997. Thành tích này đã giúp Pokémon trở thành trò chơi bán chạy nhất năm tại quốc gia này, vượt qua Final Fantasy VII.[102] Năm 1997, khoảng 7 triệu bản đã được bán tại Nhật Bản.[103] Năm 1998, Aka, MidoriAo bán ra với tổng cộng 1.739.391 bản tại Nhật Bản.[104] Đến năm 1998, 10 triệu bản đã được bán ra tại Nhật Bản.[105] Pokémon Aka, MidoriAo đã bán tổng 10,23 triệu bản tại Nhật Bản[106] và cho đến tháng 11 năm 2022, đây là trò chơi điện tử bán chạy nhất nước này.[107] Các trò chơi điện tử này đi kèm với Pokémon Trading Card Game; cả trò chơi điện tử và trò chơi thẻ bài đã thu về doanh thu bán hàng kết hợp hơn 4 tỷ đô la Mỹ tại Nhật Bản, tính đến năm 2000.[108]

Doanh số bán ra trên toàn thế giới đã đạt hơn 31 triệu bản.[109] Theo Joseph Tobin năm 2004, đây là "trò chơi điện tử thành công nhất mọi thời đại".[110] Năm 2009, IGN đã vinh danh Pokémon Red và Blue là "Trò chơi nhập vai bán chạy nhất trên Game Boy" và "Trò chơi nhập vai bán chạy nhất mọi thời đại".[111] Trong khi đó, vào năm 2017, Kỷ lục Guinness Thế giới đã tuyên bố trò chơi này là "Trò chơi điện tử bán chạy nhất (không tính các gói bán kèm)."[112]

Doanh số bán hàng của Pokémon Yellow

Tại Nhật Bản, trò chơi này đã bán được 1.549.000 bản vào năm 1998, trở thành trò chơi bán chạy thứ ba của năm 1998 tại Nhật Bản.[113]

Trước khi phát hành tại Bắc Mỹ, Nintendo dự đoán trò chơi này sẽ mang về cho họ 75 triệu đô la trong mùa lễ hội năm 1999.[114] Bộ sản phẩm Pokémon Yellow Game Boy Color được dự đoán sẽ là món đồ chơi phổ biến thứ hai trong mùa lễ hội.[115] Tại Bắc Mỹ, trò chơi này đã nhận được khoảng 150.000 đơn đặt trước.[116] Gói sản phẩm này ra mắt ở vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng doanh số trò chơi điện tử và nhanh chóng chiếm vị trí số 1 một tuần sau đó.[117] Phiên bản băng trò chơi tiêu chuẩn đã bán được hơn 600.000 bản trong tuần đầu tiên và một triệu bản trong vòng mười ngày, trở thành trò chơi cầm tay bán chạy nhất mọi thời đại khi được phát hành.[118] Pokémon: The First Movie, một bộ phim được phát hành cùng thời điểm với Yellow được kỳ vọng sẽ giúp tăng doanh thu cho trò chơi này.[119][120] Một phát ngôn viên của Nintendo cho rằng nhu cầu cao về Game Boy Color trong mùa Giáng sinh năm 1999 là do sức hút của Yellow.[121]

Để ra mắt tại châu Âu, 2 triệu bản đã được vận chuyển khắp lục địa trong tháng 6 năm 2000, bao gồm 500.000 bản tại Vương quốc Anh.[122] Yellow đã trở thành tựa Pokémon bán chạy nhất tại Vương quốc Anh,[123] và nó đã nhận được giải thưởng Bạch kim kép từ ELSPA với hơn 600.000 lượt bán,[124] thu về hơn 20 triệu bảng Anh.[125] Tại Đức, Yellow đã nhận giải thưởng Bạch kim đôi từ Verband der Unterhaltungssoftware Deutschland (VUD) với doanh số trên 400.000 bản vào đầu năm 2001.[126]

Kế thừa

Tập tin:Stockholms Spelmuseum by BugWarp (17).jpg
Mô hình Poketto Monsutā Midori (ngoài cùng bên phải) trong hộp đóng gói nguyên bản được trưng bày tại Bảo tàng trò chơi điện tử Stockholm

Trang web trò chơi điện tử 1UP.com đã lập danh sách "Top 5 trò chơi 'ra mắt muộn'" bao gồm những trò chơi được chọn lọc "chứng minh tiềm năng chưa được khai thác của một hệ máy" và là một trong những trò chơi cuối cùng được phát hành cho hệ máy tương ứng. RedBlue được xếp hạng đầu tiên và được gọi là "vũ khí bí mật" của Nintendo khi chúng được phát hành cho Game Boy vào cuối những năm 1990.[33] Thành công này đã hồi sinh Game Boy vào cuối những năm 1990.[110] Nintendo Power đã xếp cả phiên bản RedBlue cùng nhau là trò chơi điện tử hay thứ ba dành cho Game Boy và Game Boy Color, cho rằng có điều gì đó đã khiến họ chơi cho đến khi bắt được tất cả Pokémon.[127] Ben Reeves của tạp chí Game Informer đã ca ngợi những trò chơi này (cùng với Pokémon Yellow, Gold, Silver, và Crystal) là tựa trò chơi Game Boy hay thứ hai và được đánh giá là có chiều sâu hơn vẻ bề ngoài.[128] Official Nintendo Magazine đã xếp phiên bản RedBlue ở vị trí thứ 52 trong danh sách 100 trò chơi Nintendo hay nhất mọi thời đại.[129] Năm 2019, tạp chí PCMag đã xếp chúng vào danh sách "10 tựa trò chơi Game Boy hay nhất".[130] Năm 2023, Time Extension đã đưa chúng vào danh sách "Những tựa trò chơi nhập vai Nhật Bản hay nhất mọi thời đại" vì đã trở thành một hiện tượng quốc tế và phổ biến thể loại trò chơi thuần hóa quái vật.[131] RedBlue đứng thứ 72 trong danh sách "Top 100 trò chơi hay nhất mọi thời đại" của IGN năm 2003, trong đó các nhà phê bình nhận xét rằng cặp trò chơi này "đã khởi đầu một cuộc cách mạng", ca ngợi thiết kế trò chơi sâu sắc và chiến lược phức tạp, cũng như tùy chọn trao đổi giữa các trò chơi khác.[132] Hai năm sau, nó leo lên vị trí thứ 70 trong danh sách cập nhật, và một lần nữa, di sản của trò chơi được ghi nhận là đã truyền cảm hứng cho nhiều phần tiếp theo của trò chơi điện tử, phim ảnh, chương trình truyền hình và các sản phẩm thương mại khác, khẳng định vị thế vững chắc của nó trong văn hóa đại chúng.[133] Năm 2007, RedBlue được xếp hạng thứ 37 trong danh sách, và các nhà phê bình đã nhận xét về sức sống lâu dài của chúng:

Tất cả những gì đã xuất hiện trong thập kỷ qua, tất cả đều bắt đầu từ đây với "Pokémon Red"/"Blue". Sự kết hợp độc đáo giữa khám phá, huấn luyện, chiến đấu và trao đổi đã tạo ra một trò chơi có chiều sâu hơn nhiều so với vẻ ngoài ban đầu và thực sự buộc người chơi phải tương tác với những người khác để trải nghiệm trọn vẹn tất cả những gì nó mang lại. Trò chơi dài, hấp dẫn và tỏa sáng với sự gây nghiện khó tả mà chỉ những tựa trò chơi hay nhất mới có thể đạt được. Dù bạn nói gì về trò chơi này, nhưng ít thương hiệu trò chơi nào có thể tự hào về sự nổi tiếng này tận mười năm sau khi ra mắt.[36]

Các trò chơi này được ghi nhận rộng rãi là khởi đầu và góp phần mở đường cho loạt game thành công trị giá hàng tỷ đô la.[33] Năm năm sau khi RedBlue được phát hành lần đầu, Nintendo đã kỷ niệm "Ngày kỷ niệm Pokémon". George Harrison, phó chủ tịch cấp cao phụ trách tiếp thị và truyền thông doanh nghiệp của Nintendo of America, tuyên bố "những viên ngọc quý [Pokémon RedBlue] đã tiến hóa thành RubySapphire. Việc phát hành Pokémon Pinball mở đầu cho một loạt các cuộc phiêu lưu Pokémon mới tuyệt vời sẽ được giới thiệu trong những tháng tới".[134] Kể từ đó, loạt này đã bán được hơn 300 triệu bản, tất cả đều nhờ vào sự thành công vang dội của các phiên bản RedBlue ban đầu.[33][135]

Do cách miêu tả loài Pokémon Jynx, Pokémon RedBlue đã được Complex Networks xếp hạng thứ 9 trong danh sách trò chơi điện tử phân biệt chủng tộc nhất mọi thời đại.[136]

Vào ngày 12 tháng 2 năm 2014, một lập trình viên người Úc giấu tên đã khởi động Twitch Plays Pokémon, một "thí nghiệm xã hội" trên trang web phát trực tuyến video Twitch. Dự án này là một nỗ lực crowdsourced nhằm chơi một phiên bản đã được chỉnh sửa của "Pokémon Red" bằng cách nhập các lệnh vào nhật ký trò chuyện của kênh, với trung bình 50.000 người xem tham gia cùng một lúc. Kết quả được so sánh với "xem một tai nạn xe hơi ở chế độ quay chậm".[137] Trò chơi đã hoàn thành vào ngày 1 tháng 3 năm 2014, với tổng cộng 390 giờ chơi liên tục do nhiều người chơi điều khiển.[138]

Năm 2017, Bảo tàng Trò chơi Quốc gia Strong đã vinh danh Pokémon Aka và Midori vào Đại sảnh Danh vọng Trò chơi Điện tử Thế giới của họ.[139] Vào tháng 10 năm 2021, Hiệp hội Sumo Nhật Bản đã hợp tác với The Pokémon Company để kỷ niệm 25 năm ngày ra mắt Pokémon Aka và Ao, và các trọng tài sumo chuyên nghiệp (gyōji) đã được nhìn thấy mặc kimono lấy cảm hứng từ Poké Ball trong giải đấu sumo tháng 1 năm 2022.[140][141]

Bản làm lại

Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). là những phiên bản làm lại được nâng cấp của Pokémon Red vàBlue. Các trò chơi mới do Game Freak phát triển và Nintendo phát hành cho Game Boy Advance và tương thích với Bộ chuyển đổi không dây Game Boy Advance, vốn được bán kèm với trò chơi ban đầu. Tuy nhiên, do các biến số mới được thêm vào FireRedLeafGreen (chẳng hạn như thay đổi chỉ số "Đặc biệt" thành hai chỉ số riêng biệt "Tấn công đặc biệt" và "Phòng thủ đặc biệt"), các trò chơi này không tương thích với các phiên bản cũ hơn ngoài thế hệ thứ ba của Pokémon. FireRedLeafGreen được phát hành lần đầu tại Nhật Bản vào ngày 29 tháng 1 năm 200,.[142][143] tại Bắc Mỹ và Châu Âu vào ngày 9 tháng 9,[144] và ngày 1 tháng 10 năm 2004.[145] Gần hai năm sau khi phát hành lần đầu, Nintendo đã tái tiếp thị chúng với tên gọi "Player's Choice".[146]

Trò chơi nhận được sự đánh giá cao từ giới phê bình, đạt điểm tổng cộng 81% trên Metacritic.[147] Hầu hết các nhà phê bình đều khen ngợi việc họ đã giới thiệu những tính năng mới trong khi vẫn duy trì lối chơi truyền thống của loạt. Đồ họa và âm thanh nhận được nhiều ý kiến ​​trái chiều hơn, một số nhà phê bình phàn nàn rằng chúng quá đơn giản và không có nhiều cải tiến so với các phiên bản trước đó, Pokémon RubySapphire. FireRedLeafGreen là những thành công về mặt thương mại, bán được tổng cộng khoảng 12 triệu bản trên toàn thế giới.[148]

Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). là phiên bản làm lại được nâng cấp của "Pokémon Yellow Version", phát hành vào tháng 11 năm 2018 cho Nintendo Switch. Chúng hướng đến những người chơi mới của loạt Pokémon và tích hợp các cơ chế từ Pokémon Go.[149] Trò chơi diễn ra ở vùng Kanto và chỉ bao gồm 151 Pokémon gốc từ thế hệ đầu tiên của Pokémon. Khả năng cho phép Pokémon đồng hành cùng nhân vật chính trong thế giới mở quay trở lại, một tính năng lần cuối xuất hiện trong Pokémon HeartGoldSoulSilver trên Nintendo DS. Tuy nhiên, trong khi trước đây chỉ có thể chọn một Pokémon để đi theo nhân vật chính, thì trong Let's Go, Pikachu! hoặc Let's Go, Eevee!, người chơi sẽ được đồng hành cùng Pokémon khởi đầu là Pikachu hoặc Eevee.[150]

Tổng doanh số bán hàng toàn cầu của các sản phẩm này đã vượt quá 13 triệu bản.[151]

Trò chơi liên quan

Một trò chơi Nintendo 64, Pocket Monsters Stadium, được Nintendo phát hành vào năm 1998 độc quyền tại Nhật Bản. Trò chơi xoay quanh hệ thống chiến đấu theo lượt 3D với 40 trong số 151 Pokémon xuất hiện trong Aka, Ao và Yellow. Một phần tiếp theo được phát hành vào năm 1999 ở cả Nhật Bản và phương Tây, bao gồm tất cả 151 Pokémon.[152]

Chú thích

  1. ^ Hay thường gọi là Pokémon Yellow

Tham khảo

  1. ^ a b c d Harris, Craig (ngày 23 tháng 6 năm 1999). "Pokemon Red Version Review". IGN. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2008.
  2. ^ Ryan, Craddock (ngày 13 tháng 11 năm 2018). "Review: Pokémon: Let's Go, Pikachu! & Let's Go, Eevee! (Switch) - The Perfect Entry Point For Newcomers, A Nostalgia Trip For Veterans". Nintendo Life (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2026.
  3. ^ Game Freak (ngày 9 tháng 12 năm 1997). Pokémon Red and Blue, Instruction manual. Nintendo. tr. 8.
  4. ^ a b Game Freak (ngày 30 tháng 9 năm 1998). Pokémon Red and Blue, Instruction manual. Nintendo. tr. 17.
  5. ^ Game Freak (ngày 30 tháng 9 năm 1998). Pokémon Red and Blue, Instruction manual. Nintendo. tr. 10.
  6. ^ MacDonald, Mark; Brokaw, Brian; Arnold; J. Douglas; Elies, Mark (1999). Pokémon Trainer's Guide. Sandwich Islands Publishing. tr. 73. ISBN 0-439-15404-9.
  7. ^ a b c d Bartholow, Peter (ngày 28 tháng 1 năm 2000). "GameSpot review". GameSpot. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2008.
  8. ^ Game Freak (ngày 30 tháng 9 năm 1998). Pokémon Red and Blue, Instruction manual. Nintendo. tr. 21.
  9. ^ Game Freak (ngày 30 tháng 9 năm 1998). Pokémon Red and Blue, Instruction manual. Nintendo. tr. 7.
  10. ^ a b Game Freak (ngày 30 tháng 9 năm 1991). Pokémon Red and Blue, Instruction manual. Nintendo. tr. 36.
  11. ^ "nintendo.com.au – GBC – Frequently Asked Questions". Nintendo. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2001. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2008.
  12. ^ "Problems with a Specific Game Pak". Nintendo services. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2026.
  13. ^ "Pokemon Gold and Silver Strategy Guide: Trading". IGN. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2008.
  14. ^ Gerstmann, Jeff (ngày 29 tháng 2 năm 2000). "Pokemon Stadium for Nintendo 64 Review". GameSpot. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2008.
  15. ^ Villoria, Gerald (ngày 26 tháng 3 năm 2001). "Pokemon Stadium 2 for Nintendo 64 Review". GameSpot. tr. 2. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2008.
  16. ^ Harris, Craig (ngày 17 tháng 3 năm 2003). "IGN: Pokemon Ruby Version Review". IGN. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2008.
  17. ^ bitmob (ngày 8 tháng 12 năm 2011). "The 7 Freakiest Pokemon Red/Blue/Yellow Glitches". VentureBeat (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2022.
  18. ^ Preskey, Natasha (ngày 18 tháng 2 năm 2019). "The mythos and meaning behind Pokémon's most famous glitch". Ars Technica (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2022.
  19. ^ Hernandez, Patricia (ngày 11 tháng 3 năm 2014). "Two Incredible Glitches Make The First Pokémon Games Way Easier". Kotaku (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2022.
  20. ^ Game Freak (ngày 30 tháng 9 năm 1998). Pokémon Red and Blue, Instruction manual. Nintendo. tr. 2.
  21. ^ Game Freak (ngày 30 tháng 9 năm 1998). Pokémon Red and Blue, Instruction manual. Nintendo. tr. 3.
  22. ^ IGN Staff. "Guides: Pokemon: Blue and Red". IGN. tr. 113. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2008.
  23. ^ IGN Staff. "Guides: Pokemon: Blue and Red". IGN. tr. 67. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2008.
  24. ^ IGN Staff. "Guides: Pokemon: Blue and Red". IGN. tr. 99. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2009.
  25. ^ IGN Staff. "Guides: Pokemon: Blue and Red". IGN. tr. 165. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2009.
  26. ^ Game Freak (ngày 30 tháng 9 năm 1998). Pokémon Red and Blue, Instruction manual. Nintendo. tr. 20.
  27. ^ Godfrey, Chris (ngày 9 tháng 5 năm 2019). "Detective Pikachu and the case of the highest grossing media franchise of all time". The Guardian (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2022.
  28. ^ Harding, Alex. "Satoshi Tajiri: The Man Behind Pokémon". Switchaboo. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2022.
  29. ^ Plaza, Amadeo (ngày 6 tháng 2 năm 2006). "A Salute to Japanese Game Designers". Amped IGO. tr. 2. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2006.
  30. ^ a b c d e Larimer, Time (ngày 22 tháng 11 năm 1999). "The Ultimate Game Freak". TIME Asia. tr. 2. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2008.
  31. ^ Baird, Scott (ngày 9 tháng 1 năm 2021). "This Annoying Dragon Quest Monster Inspired Pokemon Trading". TheGamer. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2023.
  32. ^ Larimer, Time (ngày 22 tháng 11 năm 1999). "The Ultimate Game Freak". TIME Asia. tr. 1. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2008.
  33. ^ a b c d 1UP Staff. "Best Games to Come Out Late in a System's Life". 1UP. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2008.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  34. ^ Nutt, Christian (ngày 3 tháng 4 năm 2009). "The Art of Balance: Pokémon's Masuda on Complexity and Simplicity". Gamasutra. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009.
  35. ^ "Pokémon interview" (bằng tiếng Nhật). Nintendo. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2009.
  36. ^ a b "IGN's Top 100 Games 2007 | 37 Pokemon Blue Version". IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2008.
  37. ^ "Creator Profile: The Creators of Pikachu | Pokemon.com". www.pokemon.com. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2020.
  38. ^ Staff. "2. 一新されたポケモンの世界". Nintendo.com (bằng tiếng Nhật). Nintendo. tr. 2. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2010.
  39. ^ Kohler, Chris (2004). Power-Up: How Japanese Video Games Gave the World an Extra Life (ấn bản thứ 1). BradyGames. tr. 237–250. ISBN 0-7440-0424-1.
  40. ^ Staff (ngày 18 tháng 2 năm 2004). 写真で綴るレベルX~完全保存版! (bằng tiếng Nhật). AllAbout.co.jp. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2010.
  41. ^ Tomisawa, Akihito (tháng 8 năm 2000). ゲームフリーク 遊びの世界標準を塗り替えるクリエイティブ集団 (bằng tiếng Nhật). メディアファクトリー. ISBN 4-8401-0118-3.
  42. ^ 大月隆寛+ポケモン事件緊急取材班 (1998). ポケモンの魔力. Mainichi Newspaper Co. Ltd. ISBN 4-620-31218-5.
  43. ^ "Pokemon to get big rollout". The Cincinnati Enquirer. ngày 29 tháng 8 năm 1998. tr. 22. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2021 – qua Newspapers.com.
  44. ^ Baird, Scott (ngày 31 tháng 1 năm 2021). "Why The Pokémon Red & Blue Intros Have The Wrong Date". ScreenRant (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2023.
  45. ^ "ポケットモンスター 赤・緑". The Pokémon Company. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013.
  46. ^ "ポケットモンスター赤・緑". Nintendo. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013.
  47. ^ Iwata, Satoru. "Iwata Asks – Pokémon HeartGold Version & Pokémon SoulSilver Version – Page 1". Nintendo (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2023.
  48. ^ "Iwata Asks – Pokémon HeartGold Version & SoulSilver Version". Nintendo of Europe GmbH (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2022.
  49. ^ a b Staff (tháng 11 năm 1999). "What's the Deal with Pokémon?". Electronic Gaming Monthly. Số 124. tr. 216.
  50. ^ "ポケットモンスター 青". The Pokémon Company. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013.
  51. ^ "ポケットモンスター青". Nintendo. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013.
  52. ^ Chen, Charlotte (tháng 12 năm 1999). "Pokémon Report". Tips & Tricks. Larry Flynt Publications: 111.
  53. ^ "Iwata Asks – Pokémon HeartGold Version & SoulSilver Version". Nintendo.com. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2012.
  54. ^ DeVries, Jack (ngày 24 tháng 11 năm 2008). "IGN: Pokemon Report: OMG Hacks". IGN. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2009.
  55. ^ "ポケットモンスター ピカチュウ". The Pokémon Company. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013.
  56. ^ "ポケットモンスター ピカチュウ". Nintendo. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013.
  57. ^ "Pokémon Yellow Special Pikachu Edition". The Pokémon Company International. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013.
  58. ^ "Pokémon Yellow Special Pikachu Edition". The Pokémon Company International. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013.
  59. ^ Searle, Tyler B. (ngày 15 tháng 9 năm 2022). "10 Best Characters From the Pokémon Anime Who Aren't In the Games". Collider (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2023.
  60. ^ a b "Pokémon Yellow Special Pikachu Edition". Pokémon/Nintendo. ngày 10 tháng 3 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2014.
  61. ^ Uwaaman (ngày 1 tháng 8 năm 2023). "『ポケモンスタジアム』が発売された日。初めてポケモンが3Dで表現されたことに感激。なみのりピカチュウも育てられた対戦用ソフト【今日は何の日?】" [Ngày "Pokemon Stadium" được phát hành. Tôi rất hào hứng khi lần đầu tiên được thấy Pokemon ở dạng 3D. Phần mềm chiến đấu này cũng đã nuôi dưỡng Pikachu lướt sóng. [Hôm nay là ngày gì?]]. Famitsu (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2024.
  62. ^ "Get The Surf Riding Pikachu". The 64Dream (bằng tiếng Nhật). Số 25. Mainichi Communications. tháng 10 năm 1998. tr. 72.
  63. ^ "Snag a Surfing Pikachu". IGN. ngày 7 tháng 3 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2021.
  64. ^ a b c Harris, Craig (ngày 19 tháng 10 năm 1999). "Pokemon Yellow: Special Pikachu Edition". IGN. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2021.
  65. ^ "Fans think Nintendo originally planned a Pokémon Pink". Eurogamer. ngày 14 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2020.
  66. ^ "「ポケットモンスター黄(仮)」映画にあわせて夏発売!!". The 64Dream. Mycom. ngày 21 tháng 4 năm 1998. tr. 100, 102.
  67. ^ "Iwata Asks – Pokémon HeartGold Version & SoulSilver Version". Nintendo. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2010.
  68. ^ "Pikachu Down Under". IGN. ngày 31 tháng 8 năm 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2010.
  69. ^ "List of Release Dates for Pokémon Yellow: Special Pikachu Edition". Gamewise. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2013.
  70. ^ "Special Edition Pokemon GBC Revealed". IGN. ngày 14 tháng 7 năm 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2010.
  71. ^ "Nintendo Feature: History Of Pokémon Part 2". Official Nintendo Magazine. ngày 17 tháng 5 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2010.
  72. ^ "1999: The Year in Review". Nintendo World Report. ngày 7 tháng 3 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2020.
  73. ^ "Nintendo Direct – 11 December 2015". Nintendo. ngày 12 tháng 11 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2015.
  74. ^ "Nintendo Direct 2015.5.31 プレゼンテーション映像". Nintendo. ngày 12 tháng 11 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2015.
  75. ^ Conditt, Jessica (ngày 26 tháng 2 năm 2016). "Pokemon Sun And Moon Hit The Nintendo 3DS This Holiday". Engadget. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2016.
  76. ^ Kamen, Matt (ngày 12 tháng 1 năm 2016). "Pokémon marks 20th birthday with retro 2DS bundles". Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016.
  77. ^ Farokhmanesh, Megan (ngày 12 tháng 1 năm 2016). "Pokémon celebrates its 20th anniversary with a New Nintendo 3DS bundle this February". Polygon. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016.
  78. ^ "Financial Results Briefing for Fiscal Year Ended March 2016". Nintendo. ngày 28 tháng 4 năm 2016. tr. 3. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2016.
  79. ^ a b "Pokemon Red Version for Game Boy". GameRankings. CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2019.
  80. ^ "Pokemon Blue Version for Game Boy". GameRankings. CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2019.
  81. ^ a b "Pokemon Yellow Version: Special Pikachu Edition for Game Boy". GameRankings. CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2019.
  82. ^ McCaul, Scott. "Pokemon Blue Version - Review". Allgame. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012.
  83. ^ Cook, Brad. "Pokémon: Yellow Version – Special Pikachu Edition – Review". Allgame. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2010.
  84. ^ Ricciardi, John; Davison, John; Boyer, Crispin; Sushi-X (tháng 12 năm 1998). "Review Crew: Pokémon". Electronic Gaming Monthly. Số 113. Ziff Davis. tr. 265.
  85. ^ Johnston, Chris "C.J."; Boyer, Crispin; Chou, Che; Hsu, Dan "Shoe" (tháng 12 năm 1999). "Review Crew: Pokemon Yellow". Electronic Gaming Monthly. Số 125. Ziff Davis. tr. 290.
  86. ^ Tsūshin, Hamamura; Hada, Takayuki; Watanabe, Miki; Uchisawa, Goro (ngày 8 tháng 3 năm 1996). "New Game Cross Review". Weekly Famitsu (bằng tiếng Japanese). Số 377. ASCII Corporation. tr. 29.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  87. ^ "At a Glance: Pokemon". Game Informer. Sunrise Publications. tháng 10 năm 1998. tr. 71.
  88. ^ Fitzloff, Jay; Anderson, Paul; Reiner, Andrew. "Game Boy Color Review: Pokemon Yellow". Game Informer. Số 79. Sunrise Publications. tr. 74.
  89. ^ Davis, Cameron (ngày 19 tháng 10 năm 1999). "Pokemon Yellow Version: Special Pikachu Edition Review for Game Boy". GameSpot. CNET Networks. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2010.
  90. ^ Slo Mo (tháng 11 năm 1998). "ProReview: Pokemon" (PDF). GamePro. Số 122. IDG Communications. tr. 184.
  91. ^ "Now Playing: Pokémon". Nintendo Power. Số 113. Nintendo of America. tháng 10 năm 1998. tr. 112.
  92. ^ "Now Playing: Pokemon Yellow". Nintendo Power. Số 125. Nintendo of America. tháng 10 năm 1999. tr. 128.
  93. ^ "Pokémon Yellow: Special Pikachu Edition". Game Boy Official Magazine. Số 1. tr. 2–9. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2021.
  94. ^ "Second Interactive Achievement Awards – Craft Award". Academy of Interactive Arts & Sciences. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 1999. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2023.
  95. ^ Safier, Joshua; Nakaya, Sumie (ngày 7 tháng 2 năm 2000). Safier, Joshua; Nakaya, Sumie (biên tập). "Pokemania: Secrets Behind the International Phenomenon". Columbia Business School. doi:10.7916/D8V12CPD. hdl:10022/AC:P:28. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2011.
  96. ^ Bodle, Andy and Greg Howson (ngày 30 tháng 9 năm 1999). "Monsters to the rescue". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2009.
  97. ^ "'Donkey Kong', Dreamcast dominate". Google News. Sarasota Herald-Tribune. ngày 16 tháng 11 năm 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2022.
  98. ^ "RPGFan Reviews – Pokémon Yellow". Rpgfan.com. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2010.
  99. ^ "Third Interactive Achievement Awards – Game of the Year". Academy of Interactive Arts & Sciences. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2000. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2023.
  100. ^ "Third Interactive Achievement Awards – Console". Academy of Interactive Arts & Sciences. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2000. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2023.
  101. ^ "Pokemon Franchise Approaches 150 Million Games Sold". Nintendo. PR Newswire. ngày 4 tháng 10 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2007.
  102. ^ Ohbuchi, Yutaka (ngày 5 tháng 2 năm 1998). "Japan's Top Ten of '97". GameSpot. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2000.
  103. ^ Rothstein, Edward (ngày 8 tháng 12 năm 1997). "Nintendo's Game Boy lives as nostalgia for simpler computer games catches on". The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2021.
  104. ^ "1998 Top 30 Best Selling Japanese Console Games". The Magic Box. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2021.
  105. ^ "Pokemon phenomenon invades West: Game is part TV show, part comic book". Calgary Herald. ngày 16 tháng 10 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2021.
  106. ^ "Japan Platinum Game Chart". The Magic Box. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 12 năm 2007.
  107. ^ "Animal Crossing: New Horizons 'is now Japan's best-selling game of all-time'". ngày 9 tháng 11 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2024.
  108. ^ "Geller sues Nintendo over Pokémon". BBC News. BBC. ngày 2 tháng 11 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2021.
  109. ^ "50 Most Popular Video Games of All Time". 247wallst.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2018.
  110. ^ a b Dewinter, Jennifer (ngày 1 tháng 5 năm 2015). "Japan". Trong Wolf, Mark J. P. (biên tập). Video Games Around the World. MIT Press. tr. 325. ISBN 978-0-262-52716-3. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2021.
  111. ^ DeVries, Jack (ngày 16 tháng 1 năm 2009). "IGN: Pokemon Report: World Records Edition". IGN. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2009.
  112. ^ "Best-selling videogame (excluding bundle sales)". Guinness World Records. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2021. Tính đến ngày 28 tháng 11 năm 2017, "Pokémon Red" và "Pokémon Blue"... là những trò chơi điện tử bán chạy nhất không được bán kèm với máy chơi trò chơi điện tử.
  113. ^ "1998年のコンシューマーゲームソフトの売上Top100" [1998 Consumer Game Software Sales: Top 100]. Dengeki Oh (bằng tiếng Nhật). MediaWorks. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2001. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2021.
  114. ^ Schoolman, Judith (ngày 22 tháng 11 năm 1999). "Furby, Pokemon Rule Yule Big Sellers, But Toys Could Be Touth To Find". New York: Nydailynews.com. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2010.
  115. ^ "The Holidays' Top 10 Toys". NewsBank. York Daily Record. ngày 8 tháng 11 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2012.
  116. ^ IGN Staff (ngày 29 tháng 8 năm 2000). "Huge Pokémon Numbers". IGN. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2009.
  117. ^ "Pokémon Yellow: Special Pikachu Edition". IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2007.
  118. ^ Records, Guinness World (2000). "Fastest-Selling Computer Game". Guinness World Records 2001. Mint Publishers, Incorporated. tr. 121. ISBN 978-1-892051-01-1.
  119. ^ "Pokémon Movie Draws a Crowd". NewsBank. Bradenton Herald. ngày 11 tháng 11 năm 1999. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2022.
  120. ^ Pack, Todd (ngày 7 tháng 11 năm 1999). "Marketing Keeps the Craze Going". Orlando Sentinel. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2010.
  121. ^ Wasserman, Joanne (ngày 22 tháng 12 năm 1999). "Game Boy Color frenzy Hot Christmas gift selling out all over town". New York Daily News. New York. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2010.
  122. ^ "Game over" (PDF). Edge. Số 94 (February 2001). ngày 30 tháng 1 năm 2001. tr. 71–81. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2018.
  123. ^ Jenkins, David (ngày 31 tháng 7 năm 2007). "Pokemania Transforms UK Chart In Nintendo's Favor". Gamasutra. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2010.
  124. ^ "Sales Awards: Double Platinum". ELSPA. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2021.
  125. ^ Purchese, Robert (ngày 30 tháng 7 năm 2012). "Can you guess the top 10 UK games brands from 1996 to 2012?". Eurogamer. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2021.
  126. ^ "DOPPEL-PLATIN-Award: Nintendo". Verband der Unterhaltungssoftware Deutschland (VUD). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2001. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2021.
  127. ^ "Best of the Best: Game Boy & Game Boy Color". Nintendo Power – The 20th Anniversary Issue! (Magazine). Nintendo Power. Quyển 231 số 231. San Francisco, California: Future US. tháng 8 năm 2008. tr. 72.
  128. ^ Reeves, Ben (ngày 24 tháng 6 năm 2011). "The 25 Best Game Boy Games Of All Time". Game Informer. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2013.
  129. ^ East, Tom (ngày 2 tháng 3 năm 2009). "Feature: 100 Best Nintendo Games". Official Nintendo Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2009.
  130. ^ Edwards, Benji (ngày 17 tháng 10 năm 2019). "The 10 Best Game Boy Games". PCMAG (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2022.
  131. ^ Bell, Lowell (ngày 25 tháng 2 năm 2023). "Best JRPGs Of All Time". Time Extension. Hookshot Media. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2023.
  132. ^ Staff (ngày 30 tháng 4 năm 2003). "The Top 100: 71–80". IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2008.
  133. ^ "IGN's Top 100 Games 061–070". IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2008.
  134. ^ Harris, Craig (ngày 29 tháng 8 năm 2003). "IGN: Nintendo Celebrates Pokemoniversary". IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2008.
  135. ^ Makuch, Eddie (ngày 27 tháng 11 năm 2017). "Pokemon Game Sales Pass 300 Million Units". GameSpot (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2018.
  136. ^ Hester, Larry (ngày 25 tháng 6 năm 2012). "The 10 Most Racist Video Games". Complex (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2026.
  137. ^ "Twitch plays Pokémon: The largest 'massively multiplayer' Pokémon game is beautiful chaos". The Independent. ngày 20 tháng 2 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2015.
  138. ^ "Twitch Plays Pokemon conquers Elite Four, beating game after 390 hours". CNET. CBS Interactive. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2015.
  139. ^ "Pokémon Red and Green". The Strong National Museum of Play. The Strong. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2022.
  140. ^ "ポケモンの行司装束も 大相撲初場所、9日初日". Sankei Shimbun (bằng tiếng Nhật). ngày 7 tháng 1 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2023.
  141. ^ "大相撲とポケモンが異色タッグ 懸賞旗から行事の装束まで". Mainichi Shimbun. ngày 11 tháng 1 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2023.
  142. ^ "ポケットモンスター ファイアレッド・リーフグリーン". The Pokémon Company. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013.
  143. ^ "ポケットモンスター ファイアレッド・リーフグリーン". Nintendo. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013.
  144. ^ "Pokémon FireRed Version and Pokémon LeafGreen Version". The Pokémon Company International. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013.
  145. ^ "Pokémon FireRed Version and Pokémon LeafGreen Version". The Pokémon Company International. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013.
  146. ^ Harris, Craig (ngày 26 tháng 7 năm 2006). "IGN: Player's Choice, Round Two". IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2009.
  147. ^ "Pokemon FireRed (gba: 2004): Reviews". Metacritic. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2009.
  148. ^ "Financial Results Briefing for Fiscal Year Ended March 2008" (PDF). Nintendo. ngày 25 tháng 4 năm 2008. tr. 6. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2009.
  149. ^ Frank, Allegra (ngày 29 tháng 5 năm 2018). "Pokémon: Let's Go! is the series' big Switch debut, and it's targeting newcomers". Polygon. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2019.
  150. ^ Farokhmanesh, Megan (ngày 12 tháng 6 năm 2018). "Pokémon: Let's Go is a simple game improved by its pricey pokéball controller". The Verge. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2024.
  151. ^ "IR Information: Financial Data – Top Selling Title Sales Units". Nintendo. ngày 31 tháng 3 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2019.
  152. ^ IGN Staff (ngày 23 tháng 4 năm 1999). "Pokemon Stadium 2 Garners Praise". IGN. News Corporation. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2024.

Liên kết ngoài

Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).