Quy hoạch bàn cờ (grid plan) hay Quy hoạch đường bàn cờ (Grid street plan) hoặc Quy hoạch dạng lưới (gridiron plan) là một loại hình thiết kế, quy hoạch đô thị dựa trên sơ đồ hệ thống các đường phố vận hành chạy vuông góc với nhau (tạo thành một góc 90 độ), từ đó kiến tạo nên các mạng lưới khối đa giác trông giống như một bàn cờ với các ô vuông liên kế.[1] Hai đặc trưng kết cấu cơ bản nội tại của quy hoạch bàn cờ là mật độ xuất hiện dày đặc của các nút giao (ngã tư, ngã ba) và tính chất hình học mang tính trực giao (orthogonal geometry) tạo ra các góc phố, hai nhân tố này bổ trợ tối đa giúp thúc đẩy dòng di chuyển tuần hoàn của đô thị. Cấu trúc hình học trực giao giúp người tham gia giao thông nâng cao năng lực định vị hướng và định vị, tìm đường (wayfinding), đồng thời, các nút giao cắt xuất hiện liên tục mang lại sự đa dạng trong việc lựa chọn các lộ trình di chuyển mang tính trực diện nhất để tiếp cận các đích đến mong muốn.

Quy hoạch bàn cờ (dạng lưới) của một thành phố nhìn từ trên cao

Lịch sử

Quy hoạch bàn cờ đã xuất hiện từ thời kỳ cổ đại và được manh nha khởi nguồn từ nhiều nền văn hóa riêng biệt khác nhau trong lịch sử nhân loại; trong đó, một vài đô thị được quy hoạch sơ khởi nhất dựa trên sơ đồ bàn cờ được xây dựng tại khu vực tiểu lục địa Ấn Độ. Vào khoảng năm 2600 TCN, hai thành phố lớn Mohenjo-daroHarappa thuộc Văn minh lưu vực sông Ấn đã được xây dựng hoàn chỉnh với các khối đô thị được chia cắt bằng một mạng lưới trực diện gồm các tuyến đường phố thẳng tắp chạy theo hai trục bắc–nam và đông–tây. Từ các khối đô thị lớn này, mạng lưới tiếp tục được chia nhỏ bởi hệ thống các con hẻm, lối đi nhỏ hẹp hơn.[2] Các đô thịtu viện cổ tại Sirkap, TaxilaThimi (tọa lạc tại các thung lũng sông Ấn và thung lũng Kathmandu), có niên đại kéo dài từ thiên niên kỷ I Trước CN cho đến thế kỷ XI Sau CN, cũng mang các cấu trúc thiết kế dựa trên sơ đồ bàn cờ.[3] Tuy nhiên, hệ thống bàn cờ nổi tiếng và có sức lan tỏa mạnh mẽ nhất trong lịch sử nhân loại chính là hệ thống được truyền bá thông qua các thuộc địa và vùng chiếm đóng của Đế quốc La Mã. Mô hình bàn cờ La Mã kiểu mẫu ban đầu được truyền bá vào nước Ý bởi người Hy Lạp, thông qua các kênh trao đổi thương mại và các chiến dịch chinh phạt quân sự.[4] Tại vùng La Mã cổ đại, phương thức đo đạc và quy hoạch chia cắt đất đai theo sơ đồ bàn cờ được gọi bằng thuật ngữ Phân chia đất đai La Mã.

Đánh giá

 
Diện mạo khu phố bàn cờ gọn gàng, vuông vức, quy củ

Yếu tố chiều rộng đường xá, hay quyền ưu tiên đường bộ (ROW), tạo ra ảnh hưởng quyết định đến tỷ lệ diện tích đất đai bắt buộc phải dành riêng cho đường giao thông, phần diện tích này sẽ không thể đưa vào khai thác phát triển bất động sản và do đó đại diện cho một khoản chi phí cơ hội lớn của dự án. Đường phố càng thiết kế rộng rãi bao nhiêu thì chi phí cơ hội càng tăng cao bấy nhiêu. Yếu tố chiều dài con đường tạo ra ảnh hưởng tỷ lệ thuận đến khối lượng các cấu phần hạ tầng bắt buộc phải đầu tư xây dựng, chẳng hạn như diện tích mặt đường lát đá, hệ thống vỉa hè, bó vỉa, mạng lưới cống rãnhhố ga thoát nước mưa, hệ thống cột đèn chiếu sángcây xanh cảnh quan. Tổng chiều dài đường phố của một khu vực phát triển nhất định phụ thuộc hoàn toàn vào mật độ xuất hiện của đường phố, nhân tố này lại bị chi phối trực tiếp do chiều dài và chiều rộng của một khối đô thị.

Các nút giao thông thông thường luôn tiêu tốn chi phí đầu tư cao hơn so với các đoạn đường thẳng thông thường do đòi hỏi nhiều nhân công xây dựng tinh xảo và bắt buộc phải trang bị hệ thống biển báo, đèn tín hiệu giao thông đồng bộ. Trong cả ba nhân tố ảnh hưởng đến chi phí tài chính kể trên gồm chiều rộng đường phố, chiều dài đường phố và chiều rộng mặt đường thì chỉ có chiều dài đường phố là nhân tố phụ thuộc trực tiếp vào mô hình cấu hình quy hoạch. Không chỉ các nhân tố kích thước đường phố này làm gia tăng chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng, kìm hãm hiệu suất khai thác sử dụng đất đai và hệ quả là kéo giảm khả năng chi trả nhà ở của người dân, mà chúng còn tạo ra tác động tiêu cực đến năng suất kinh tế của một thành phố. Chiều rộng đường phố đóng một vai trò tối quan trọng trong việc định hình nhận thức của con người về mặt tỷ lệ quy mô, gây ảnh hưởng đến cách thức các đích đến xuất hiện dưới mắt chúng ta là xa xôi hay dễ dàng tiếp cận.[5] Những tuyến đường thiết kế quá rộng sẽ làm sụt giảm diện tích đất có khả năng phát triển kinh tế bên trong một dặm vuông, từ đó làm suy giảm nguồn doanh thu thuế đổ về cho ngân sách, trong khi lại làm tăng mạnh các khoản chi phí hành chính bắt buộc phải bỏ ra để duy trì và bảo trì diện tích đường phố đó.[5]

Các mô hình bàn cờ trực giao truyền thống nhìn chung luôn sở hữu mật độ đường phố dày đặc hơn so với các mô hình cấu trúc không liên tục. Mật độ xuất hiện tương ứng của các tuyến đường đối với từng kích thước khối nhà này sẽ tạo ra ảnh hưởng quyết định đến tổng chiều dài đường phố. Các mô hình cấu trúc tích hợp các loại hình đường phố không liên tục như đường hình bán nguyệt và ngõ cụt (culs-de-sac) nhìn chung không xem dòng di chuyển của người đi bộ là ưu tiên chiến lược tối cao, mật độ xuất hiện của đường phố sụt giảm mạnh, kéo theo sự cắt giảm tổng chiều dài đường phố và giúp tối thiểu hóa chi phí đầu tư ban đầu. Một ưu điểm nội tại vượt trội của cấu trúc hình học trực giao thuộc một sơ đồ bàn cờ chính quy là năng lực tạo ra các lô đất có hình dáng đều đặn xếp thành các chuỗi nối tiếp nhau một cách vô cùng gọn gàng. Yếu tố này giúp tối ưu hóa hiệu suất khai thác sử dụng diện tích đất đai của khối đô thị. Cấu trúc hình học trực giao cũng giúp giảm thiểu các tranh chấp pháp lý liên quan đến ranh giới các lô đất, và tối đa hóa số lượng các lô đất có thể sở hữu mặt tiền hướng ra một con đường cụ thể. Nhà đo đạc John Randal từng nhận định rằng đồ án bàn cờ của Manhattan đã tạo điều kiện tối ưu giúp đẩy nhanh tiến trình "mua bán, trao đổi thương mại và cải tạo bất động sản".[6]

Một khía cạnh kỹ thuật tối quan trọng khác của mạng lưới bàn cờ và việc sử dụng các khối hình chữ nhật là tất cả các dòng giao thông của người đi bộ, xe hơi, hoặc cả hai, chỉ giao cắt nhau tại các góc vuông duy nhất (90 độ). Đây là một đặc trưng an toàn giao thông cốt lõi, bởi bất kỳ ai khi tiến vào nút giao đều hoàn toàn không cần phải thực hiện hành vi quay đầu nhìn qua vai để quan sát dòng phương tiện đang đi tới. Bất cứ khi nào các dòng giao thông gặp nhau tại một góc nhọn, tầm nhìn của người lái sẽ bị che khuất và họ không thể quan sát được phương tiện đang tiến lại gần mình. Do đó, sơ đồ bàn cờ chính là một giải pháp hình học hoàn hảo đáp ứng một cách khoa học cho các đặc điểm sinh lý học của con người. Các sơ đồ bàn cờ đồng bộ điển hình thường bộc lộ nhược điểm là hoàn toàn thờ ơ và không phản ứng thích ứng với đặc điểm địa hình tự nhiên của khu vực. Trong bối cảnh đô thị hiện đại, các độ dốc quá lớn sẽ làm kìm hãm nghiêm trọng khả năng tiếp cận của xe hơi, và thậm chí gây cản trở lớn hơn đối với người đi xe đạp, người đi bộ hoặc người sử dụng xe lăn, đặc biệt là tại các khu vực quốc gia sở hữu nền khí hậu lạnh giá.

Một đặc trưng nội tại của sơ đồ bàn cờ là bất kỳ và tất cả các tuyến đường phố đều sở hữu khả năng tiếp cận giao thông hoàn toàn bình đẳng như nhau (tính chất phi cấp bậc) và có thể được các tài xế tự do lựa chọn làm lộ trình thay thế để tiến tới một đích đến khác. Hành vi lái xe cắt ngang qua khu dân cư luôn vấp phải sự phản kháng quyết liệt từ phía cư dân bản địa.[7] Để giải quyết bài toán này, các thành phố đã phải thực hiện các biện pháp cải biên quy hoạch nhằm ngăn chặn nó. Các thực hành thiết kế đô thị hiện đại khuyến nghị việc ưu tiên áp dụng cấu trúc nút giao 3 hướng (ngã ba) nhằm giảm thiểu tối đa hiện tượng này.[8] Rõ ràng, cấu trúc hình học mở của một sơ đồ bàn cờ thông thường hoàn toàn không phù hợp để che chở hoặc nâng cao môi trường xã hội của một con phố trước các tác động tiêu cực của dòng giao thông cơ giới.[9] Hàng loạt các công trình nghiên cứu hiện đại đã chứng minh một thực trạng đáng báo động đó là tỷ lệ tử vong do tai nạn giao thông tại các khu vực ngoại ô rìa ngoài luôn cao hơn một cách đáng kể so với khu vực trung tâm nội đô và các vùng ngoại ô nội đô cũ vốn là những nơi có kích thước khối nhà nhỏ mịn hơn và mạng lưới đường phố có tính kết nối cao hơn.[10] Do sơ đồ bàn cờ mang tính chất phi cấp bậc và các nút giao cắt xuất hiện liên tục, tất cả các tuyến đường phố đều có thể rơi vào tình trạng bị kéo giảm vận tốc trung bình này, dẫn đến việc sản sinh ra một khối lượng khổng lồ các chất thải.

Chú thích

  1. ^ Chenary, Kimia; Soltani, Ali; Sharifi, Ayyoob (2023). "Street network patterns for mitigating urban heat islands in arid climates". International Journal of Digital Earth. 16 (1): 3145–3161. Bibcode:2023IJDE...16.3145C. doi:10.1080/17538947.2023.2243901.
  2. ^ Jane McIntosh, The Ancient Indus Valley: New Perspectives; ABC-CLIO, 2008; ISBN 978-1-57607-907-2; pp. 231, 346.
  3. ^ Pant, Mohan; Fumo, Shjui (tháng 5 năm 2005). "The Grid and Modular Measures in The Town Planning of Mohenjodaro and Kathmandu Valley: A Study on Modular Measures in Block and Plot Divisions in the Planning of Mohenjodaro and Sirkap (Pakistan), and Thimi (Kathmandu Valley)". Journal of Asian Architecture and Building Engineering. 4 (1): 51–59. doi:10.3130/jaabe.4.51. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2019.
  4. ^ Stanislawski, Dan (1946). "The Grid-Pattern Town", Geog. Rev., xxxvi, pp. 105–120, p. 116.
  5. ^ a b "Some Thoughts on Narrow Streets". Strong Towns (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2025.
  6. ^ ExplorePaHistory.com
  7. ^ Philip Langdon, 2006: Seaside Stews Over Street Connections. New Urban News, September 2006
  8. ^ "Traditional Neighborhood Development Street Design Guidelines" (PDF). Washington, DC: Institute of Transportation Engineers. tháng 10 năm 1999. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017.
  9. ^ "small blocks". npl.wiki. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2025.
  10. ^ Ewing, R; Schieber, RA; Zegeer, CV (2003). "Urban sprawl as a risk factor in motor vehicle occupant and pedestrian fatalities". Am J Public Health. 93 (9): 1541–5. doi:10.2105/ajph.93.9.1541. PMC 1448007. PMID 12948977.

Liên kết ngoài