Bước tới nội dung

R-40

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bản mẫu:Infobox weapon

Bisnovat (sau này là Molniya rồi đến Vympel) R-40 (tên định danh NATO AA-6 Acrid) là một loại tên lửa không đối không tầm xa được phát triển vào thập niên 1960 bởi Liên Xô, đặc biệt dành cho máy bay tiêm kích đánh chặn MiG-25P, nhưng cũng có thể được mang bởi dòng MiG-31 đời sau. Đây là một trong những loại tên lửa không đối không lớn nhất từng được sản xuất hàng loạt.

Phát triển

Việc phát triển siêu máy bay ném bom Mach 3+ North American XB-70 Valkyrie đã đe dọa biến toàn bộ lực lượng đánh chặn và tên lửa của Voyska PVO thành lỗi thời chỉ trong chớp mắt, nhờ vào tốc độ và độ cao bay kinh ngạc của nó. Để đối phó với mối đe dọa mới này, máy bay MiG-25 đã được thiết kế, nhưng các loại tên lửa không đối không mới cũng được yêu cầu để cho phép MiG-25 tiêu diệt mục tiêu ở tốc độ và độ cao cực lớn theo yêu cầu. Phòng thiết kế Bisnovat bắt đầu phát triển loại tên lửa không đối không tầm xa này vào năm 1962. Kết quả là loại R-40 ban đầu được đồng bộ hóa với radar Smerch-A ("Tornado-A") của MiG-25. Nó được chế tạo với các biến thể: tự dẫn radar bán chủ động (R-40R), sử dụng một đầu dò đơn xung ngược cho phép tên lửa có khả năng tấn công mục tiêu ở mọi góc độ, và biến thể tự dẫn hồng ngoại (R-40T).[1]

Để đảm bảo tiêu diệt mục tiêu ở tốc độ cao trong môi trường không khí loãng, tên lửa cần một đầu đạn lớn để tạo ra hiệu ứng nổ mảnh đủ mạnh. Các cánh lái điều khiển lớn cũng được yêu cầu để cung cấp cho tên lửa khả năng cơ động đủ tốt ở độ cao lớn. Tất cả những yếu tố này dẫn đến việc tạo ra một loại tên lửa rất lớn. Nó có kích thước lớn hơn một chút so với tên lửa đất đối không MIM-23 Hawk.

Sau sự kiện đào tẩu của phi công Lực lượng Phòng không Liên Xô Viktor Belenko vào năm 1976, làm lộ lọt các hệ thống của MiG-25P và các tên lửa R-40 đi kèm, Vympel đã phát triển một phiên bản cải tiến của tên lửa với khả năng kháng biện pháp chế áp hồng ngoại (IRCM) tốt hơn và đầu dò nhạy hơn. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst”. Các tên lửa nâng cấp được định danh với hậu tố -D (viết tắt của 'dorabotannye', nghĩa là "đã hoàn thiện"). Sau đó, các phiên bản -D1 cũng đã được phát triển.

Việc sản xuất R-40 kết thúc vào năm 1991, nhưng nó vẫn còn phục vụ hạn chế trong biên chế các máy bay MiG-25 còn lại và một số máy bay đánh chặn MiG-31.

Lịch sử chiến đấu

Một chiếc MiG-25 đang mang các tên lửa R-40

Trong biên chế Liên Xô, R-40 chưa bao giờ được khai hỏa ngoài các buổi huấn luyện hoặc thử nghiệm. Quy trình tiêu chuẩn của PVO là phóng một loạt hai tên lửa vào mục tiêu: một quả R-40T tầm nhiệt đi trước, sau đó là một quả R-40R dẫn đường bằng radar, nhằm tránh khả năng tên lửa tầm nhiệt sẽ khóa nhầm vào luồng nhiệt từ động cơ của tên lửa dẫn đường bằng radar.

Vì MiG-25 đã được xuất khẩu sang nhiều quốc gia ở Trung Đông, R-40 đã được sử dụng trong chiến đấu bởi Iraq và có thể là cả Syria và Libya.

Trong cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, ngay đêm đầu tiên, một chiếc McDonnell Douglas F/A-18 Hornet của Hải quân Hoa Kỳ do phi công Scott Speicher thuộc phi đoàn VFA-81 điều khiển đã bị bắn hạ trên vùng trời miền Tây Iraq bởi một quả tên lửa R-40 phóng từ máy bay MiG-25 của Không quân Iraq do phi công Zuhair Dawood điều khiển.[1]

Quốc gia vận hành

Bản đồ với các quốc gia đang vận hành R-40 (màu xanh dương) và các quốc gia từng vận hành (màu đỏ)

Hiện tại

Trước đây

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  2. ^ a ă â b c Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  3. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  4. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Tài liệu

  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật

Liên kết ngoài

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Navbox”.