Bản mẫu:Other Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Format link' not found. Bản mẫu:Mô tả ngắn

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “ParameterAliasNormalizer”.


Sông Sài Gòn là một phụ lưu xuyên biên giới của sông Đồng Nai trong hệ thống sông Đồng Nai.[1] Thượng nguồn của sông nằm ở đông nam Campuchia; dòng chính chảy qua hồ Dầu TiếngThành phố Hồ Chí Minh, rồi hợp lưu với sông Đồng Nai tại Mũi Đèn Đỏ.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.[2] Phần lưu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam rộng 4.788 km².[1]

Hồ Dầu Tiếng điều tiết và duy trì dòng chảy hạ lưu, đồng thời cấp nước cho hệ thống tưới.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.[3] Đoạn hạ lưu chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Trong mùa khô, lưu lượng nước ngọt giảm làm tăng nguy cơ xâm nhập mặn tại các điểm lấy nước.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Sông là nguồn nước mặt của Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời phục vụ giao thông thủy và hoạt động cảng.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.[4] Trong khu vực đô thị, sông tiếp nhận nước từ mạng lưới kênh và hệ thống thoát nước.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Quần xã thực vật phù du thay đổi theo từng đoạn sông được khảo sát.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Các nghiên cứu trên tuyến sông – cửa sông ghi nhận tình trạng dư thừa chất dinh dưỡng, sự hiện diện của chất ô nhiễm vi lượng và rác nhựa.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Từ cuối thế kỷ XVIII, khu Bến Nghé – Sài Gòn ở hạ lưu phát triển thành một đô thị cảng.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Tháng 2 năm 1860, chính quyền Pháp chính thức mở sông và cảng Sài Gòn phục vụ thương mại quốc tế.[4]Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Năm 1900, nhà máy đóng tàu tại hợp lưu kênh Nhiêu Lộc và sông Sài Gòn có khả năng đóng và sửa chữa tàu bè, máy móc.[5] Năm 1914, thương cảng trở thành một cơ quan tự quản có tư cách pháp nhân.[4] Dưới triều Nguyễn, hình tượng sông Tân Bình được đúc trên Cao đỉnh; tên Sài Gòn và Bến Nghé còn xuất hiện trong thơ văn và ca dao về Gia Định.[6]

Tên gọi

Trong thư tịch về Gia Định, đoạn hạ lưu từng mang tên sông Tân Bình hoặc Tân Bình giang; tên gọi dân gian là sông Bến Nghé. Bến Nghé ban đầu chỉ một bến sông tại nơi kênh Chợ Lớn gặp sông Sài Gòn. Đến thế kỷ XVIII–XIX, tên này còn dùng để chỉ thành Gia Định hoặc vùng Sài Gòn nói chung.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Tên Bến Nghé hiện còn được dùng trong tên rạch Bến Nghé, tuyến nước nối sông Sài Gòn với khu vực Chợ Lớn.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Địa lý

Dòng chảy

Sông Sài Gòn có vùng thượng nguồn ở đông nam Campuchia và chảy qua hồ Dầu Tiếng.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Khảo sát năm 2011 về các nhánh sông, suối tại Bình Phước ghi nhận Tonlé Chàm và Tonlé Trou gặp nhau tại ngã ba Cần Lê Chàm.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Theo cách gọi trong khảo sát, Tonlé Chàm là sông Sài Gòn, Tonlé Trou là sông Cần Lê, còn Rạch Chàm là một điểm lấy mẫu riêng.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Rời hồ Dầu Tiếng, sông chảy qua Thành phố Hồ Chí Minh trước khi hợp lưu với sông Đồng Nai tại Mũi Đèn Đỏ.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.[2]

 
Sông Sài Gòn đoạn qua khu vực Thủ Dầu Một

Các nhánh trong phạm vi thượng nguồn thuộc Bình Phước gồm Tonlé Chàm, Prêk Kéa, Rạch Trou, suối Nron, sông Chà Là và suối Xa Cát.[7] Ở hạ lưu, sông nhận nước từ sông Thị TínhRạch Tra. Trong khu vực đô thị, sông nhận nước từ hệ thống Tham Lương – Vàm Thuật, kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Kênh Tàu Hủ – Bến Nghé, Kênh TẻKênh Đôi. Các hệ thống kênh này thoát nước cho nội đô, đồng thời tiếp nhận chất thải từ hộ gia đình, tàu thuyền và các cửa xả trước khi nhập vào sông Sài Gòn.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

 
Rạch Bến Nghé tại khu vực nội đô Thành phố Hồ Chí Minh

Lưu vực

Phần lưu vực sông Sài Gòn thuộc lãnh thổ Việt Nam rộng 4.788 km².[1] Hai nghiên cứu đều mô tả tuyến sông bắt đầu từ Campuchia, song ghi chiều dài khác nhau: nghiên cứu thủy văn năm 2021 ghi 225 km,Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. còn nghiên cứu ô nhiễm nhựa năm 2018 ghi khoảng 250 km.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Quyết định số 205/QĐ-TTg ghi 251 km và chú thích rằng số liệu chiều dài này chỉ tính phần thuộc lãnh thổ Việt Nam.[1] Số liệu 251 km trong quyết định có phạm vi được nêu khác với hai mô tả khoa học bắt đầu từ vùng nguồn Campuchia.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.[1]

 
Ảnh vệ tinh Thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương

Một phân tích ảnh vệ tinh khảo sát phạm vi 2.503 km², kéo dài từ hồ Dầu Tiếng đến trạm Phú An và bao gồm phần lớn khu vực phát triển của vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Trong phạm vi này, diện tích bề mặt không thấm tăng từ 67 km² năm 1990 lên 296 km² năm 2010, tương ứng từ 2,69% lên 11,80%. Khoảng 229 km² đất nông nghiệpđất ngập nước chuyển thành bề mặt đô thị, trong đó 44 km² là đất thấp dưới cao trình 1,3 m.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Địa chất và địa mạo

Khảo sát bằng phương pháp điện từ miền thời gian tại phần lưu vực có cao độ trên 15 m cho thấy cấu trúc dưới mặt đất ở độ sâu khoảng 0–150 m gồm các tầng chứa nước và những lớp trầm tích hạt mịn không liên tục. Kết quả còn cho thấy dấu tích của lòng sông cổ và bãi ngập lũ cổ, đồng thời liên hệ những dấu tích này với các đợt biển tiến trong kỷ Đệ Tứ.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Trong các tuyến khảo sát, đồng bằng ngập lũ ở bờ trái giàu sét, còn khu vực bờ phải không có lớp sét bề mặt bảo vệ tầng chứa nước khỏi chất ô nhiễm thấm xuống. Mức độ bảo vệ các tầng nước nông vì vậy thay đổi theo cấu trúc trầm tích tại từng khu vực khảo sát.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Ở thượng lưu và vùng tưới Dầu Tiếng, trầm tích Đệ Tứ gồm các bậc thềm phù sa cũ, có thành phần từ sét đến cát và sỏi, cùng những dải phù sa trẻ trong các thung lũng thấp. Các bậc thềm phù sa cũ thấp dần về phía tây nam. Phù sa Holocen trẻ chủ yếu là sét và kéo dài ngược lên theo sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông. Một số vùng phù sa trẻ có nguy cơ phát sinh đất phèn khi lớp đất chứa sulfide bị tháo khô và oxy hóa.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

 
Rừng ngập mặn Cần Giờ ở vùng cửa sông

Điểm khảo sát nằm tại cửa sông Đồng Tranh, thuộc khu vực cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai trong rừng ngập mặn Cần Giờ.[8] Tại đây, thủy triều và mưa cùng chi phối sự tái phân bố trầm tích. Khi mưa lớn xảy ra trong pha triều rút sau khi mặt đất rừng đã khô, trầm tích bị xói và được đưa ra khỏi bãi rừng. Trong phạm vi khảo sát, tốc độ luân chuyển trầm tích ước tính khoảng 0,20 cm/ngày vào mùa mưa và 0,15 cm/ngày vào mùa khô. Cân bằng trầm tích gần bằng không, nhưng lượng trầm tích luân chuyển vẫn có thể lớn.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Thủy văn

Tại hạ lưu hệ thống Sài Gòn – Đồng Nai, mùa mưa thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 và chiếm khoảng 85% lượng mưa năm. Lượng mưa năm trong khu vực nghiên cứu đạt khoảng 1.500 mm tại Nhà Bè và 1.850 mm tại Tân Sơn Nhất. Đoạn sông qua Thành phố Hồ Chí Minh có độ dốc khoảng 1,3‰ và rộng từ khoảng 50 đến 1.000 m. Một số vị trí sâu tới 20 m.[9]

 
Hồ Dầu Tiếng trên thượng lưu sông Sài Gòn

Lưu lượng

Hồ Dầu Tiếng có diện tích mặt nước khoảng 270 km² và dung tích 1,58 tỷ m³. Công trình điều tiết nước cho tưới tiêu và duy trì dòng chảy về hạ lưu.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Chuỗi dòng chảy tự nhiên theo tháng giai đoạn 1964–1984 bao quát phần lưu vực sông Sài Gòn ở thượng lưu Dầu Tiếng và lưu vực sông Thị Tính, với tổng diện tích 3.650 km².[10] Giá trị dòng chảy trung bình tháng của chuỗi như sau:

Lượng dòng chảy tự nhiên trung bình tháng trong chuỗi được xây dựng, 1964–1984
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Lượng nước (triệu m³) 147 71 49 43 63 109 246 336 435 579 465 262

Tại trạm Bạch Đằng ở hạ lưu, lưu lượng ròng trong giai đoạn 2012–2016 dao động từ 4,18 đến 222 m³/s, trung bình 50 m³/s. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm 73% tổng lượng dòng chảy năm.[11]

Trong chuỗi số liệu của toàn lưu vực Đồng Nai, các trận nghiêm trọng xảy ra vào các năm 1932, 1952, 1964 và 1978. Trận lớn nhất kéo dài từ ngày 18 đến 24 tháng 10 năm 1952, với lưu lượng đỉnh khoảng 12.000 m³/s tại Biên Hòa.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Riêng chuỗi quan trắc lịch sử của lưu vực hồ Dầu Tiếng cũng ghi nhận đỉnh lũ lớn nhất vào năm 1952, khoảng 2.300 m³/s.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Do dữ liệu lịch sử về lưu lượng đỉnh không đủ cho phân tích tần suất, quy hoạch năm 1996 sử dụng mô hình dòng chảy lũ để xác định lưu lượng theo chu kỳ lặp. Tại Dầu Tiếng, lưu lượng tính toán là 2.351 m³/s cho chu kỳ 20 năm và 3.197 m³/s cho chu kỳ 100 năm. Ở hợp lưu sông Sài Gòn – Thị Tính, hai giá trị tương ứng xấp xỉ 3.000 và 4.000 m³/s.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Thủy triều và xâm nhập mặn

 
Sông Sài Gòn tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh

Hạ lưu sông chịu chế độ bán nhật triều.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Lưu lượng tức thời biến đổi mạnh theo chu kỳ triều, trong khi lưu lượng ròng tương đối thấp. Mực nước và lưu lượng tại các trạm ở trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh và Phú Cường còn chịu tác động của trao đổi với nước dưới đất, mạng lưới sông – kênh và vùng nước ven biển. Tại hai trạm này, bộ số liệu không cho thấy tác động rõ và trực tiếp của lượng mưa đến mực nước hoặc lưu lượng.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Chuỗi mực nước tại trạm triều Vũng Tàu giai đoạn 1991–2009 được đối chiếu với số liệu tại điểm khảo sát Cần Giờ. Chênh lệch theo mùa giữa giá trị cao nhất và thấp nhất của mực nước triều cao trung bình (MHHW) và mực nước triều thấp trung bình (MLLW) lần lượt khoảng 45 cm và 53 cm.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Trong mùa khô, lưu lượng giảm có thể khiến nước mặn tiến sâu tới khu vực lấy nước. Nồng độ clorua tại nguồn nước thô của Nhà máy nước Tân Hiệp tăng trong mùa khô.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Quy trình xử lý thông thường không loại bỏ được muối; khi nồng độ clorua trong nước thô tăng, SAWACO đề nghị tăng lượng xả từ hồ Dầu Tiếng.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Trước khi hồ Dầu Tiếng và hồ Trị An vận hành, độ mặn trên 4‰ trong mùa kiệt có thể tiến đến gần cửa lấy nước Rạch Tra. Báo cáo đánh giá tác động môi trường tiểu dự án Dầu Tiếng năm 2003 cho rằng hoạt động xả nước mùa khô từ hai hồ làm ranh mặn lùi khoảng 20 km về khu vực Phú An.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Nước dưới đất và lún nền

Mô hình MODFLOW cho một phần lưu vực cho thấy tầng chứa nước bổ sung nước cho các đoạn thượng lưu được khảo sát, còn nước sông thấm xuống dưới đất tại một số mặt cắt hạ lưu. Theo kịch bản mô phỏng, khai thác nước dưới đất có thể làm tăng lượng nước sông thấm xuống tại các mặt cắt hạ lưu. Kết quả chỉ áp dụng cho phạm vi nghiên cứu và giai đoạn 2000–2007.[12]

Phân tích ảnh radar giao thoa giai đoạn 2006–2010 ghi nhận lún đất tập trung ở các vùng trầm tích Holocen dọc sông Sài Gòn và phía tây nam Thành phố Hồ Chí Minh. Tốc độ lún trung bình khoảng 8,0 mm/năm, với mức cực đại cục bộ 70 mm/năm; sau bốn năm, một số khu vực dọc sông lún tới 12 cm. Kết quả phân tích xác định khai thác nước dưới đất gia tăng do đô thị hóa là nguyên nhân chính. Nghiên cứu còn đánh giá rằng ảnh hưởng của lún nền đối với ngập tại Thành phố Hồ Chí Minh lớn hơn ảnh hưởng của nước biển dâng.[13]

Ổn định bờ

Tại các điểm khảo sát và mô phỏng, mực nước hạ nhanh làm giảm lực thủy lực cân bằng phía ngoài mái bờ và có thể làm bờ mất ổn định.[14]

Các mô phỏng MIKE 11 và MIKE 21 trên đoạn sông đô thị cho thấy vận tốc giữa dòng thường lớn gấp khoảng ba đến bốn lần vận tốc ở hai bờ. Khi triều chuyển pha, dòng ven bờ có thể nhanh hơn dòng chính, nhất là tại các đoạn cong. Trong phần lớn trường hợp mô phỏng, vận tốc vượt ngưỡng không gây xói của vật liệu lòng và bờ. Nghiên cứu dự báo xói lở có thể diễn ra thường xuyên trong phạm vi khảo sát. Khi cống chống ngập vận hành, vận tốc dòng chính chỉ giảm nhẹ và các xoáy vận tốc thấp xuất hiện trước cống.[15]

Sinh thái

Cá và động vật đáy

Trong giai đoạn 2008–2010, 576 mẫu cá được thu tại các nhánh sông, suối thượng lưu và phân loại thành 59 loài, 40 chi, 20 họ và 8 bộ.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Khảo sát tại 16 điểm trên dòng chính và phụ lưu trong giai đoạn 2007–2010 cùng năm 2015 ghi nhận 49 đơn vị phân loại động vật không xương sống đáy, gồm giun nhiều tơ, giun ít tơ, chân bụng, hai mảnh vỏ, đuôi rắn, giáp xáccôn trùng.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Ở từng điểm, số đơn vị phân loại dao động từ 0 tại một số kênh đô thị đến 15 ở thượng lưu.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Côn trùng là nhóm có độ giàu loài cao nhất và xuất hiện tại phần lớn điểm lấy mẫu. Dọc tuyến từ thượng lưu đến các kênh và đoạn sông chịu triều, những đơn vị có nguồn gốc cửa sông hoặc ven biển cùng xuất hiện với các loài chịu được ô nhiễm hữu cơ.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Các chỉ số đa dạng sinh vật đáy thấp hơn tại nhóm điểm đô thị và công nghiệp. Độ giàu loài, chỉ số Shannon–Wiener (H′) và chỉ số Simpson (1−DS) tương quan mạnh và có ý nghĩa thống kê với oxy hòa tan, BOD5, tổng nitơ và tổng phosphor.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Tổng số cá thể không có quan hệ có ý nghĩa thống kê với các biến chất lượng nước.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Khảo sát tuyến trùng sống tự do trong trầm tích tại 11 bến cảng và một điểm ở Củ Chi năm 2014 ghi nhận hình thái và sinh khối cá thể khác nhau giữa mùa khô và mùa mưa. Trong mùa mưa, một số chỉ tiêu hình thái và sinh khối có tương quan với MBT, DBT và tổng butyltin. Do chưa loại trừ ảnh hưởng của cỡ hạt và điều kiện oxy hóa–khử, nghiên cứu không kết luận rằng các hợp chất butyltin gây ra những khác biệt này.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Thực vật phù du và chỉ thị sinh học

 
Hình minh họa một loài thuộc chi Microcystis dưới kính hiển vi

Hai đợt khảo sát bao phủ 18 điểm dọc hơn 60 km sông. Các đợt quan trắc diễn ra hai tuần một lần từ tháng 12 năm 2016 đến tháng 11 năm 2017. Ba nhóm thực vật phù du chính là tảo silic, vi khuẩn lam và tảo mắt. Thành phần gồm các loài nước ngọt và một số loài nước lợ; mật độ thực vật phù du biến động mạnh theo mùa và theo vị trí, với giá trị đặc biệt cao tại đoạn đô thị trong mùa khô.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Quần xã ở đoạn đô thị có cấu trúc khác với thượng lưu và hạ lưu, tương ứng với sự thay đổi về chất dinh dưỡng, độ mặn và điều kiện môi trường dọc sông. Tại một số đoạn, các chi vi khuẩn lam có khả năng sinh độc tố chiếm ưu thế. Nghiên cứu về thực vật phù du trên sông Sài Gòn cảnh báo nguy cơ đối với sức khỏe nếu nhiệt độ và tải lượng dinh dưỡng tăng.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Tại bảy vị trí được khảo sát trong cả mùa khô và mùa mưa, quần xã tảo silic đáy khác biệt rõ hơn giữa thượng lưu và hạ lưu so với giữa hai mùa. Thành phần quần xã tảo silic được dùng cùng các chỉ số tổng nitơ, tổng phosphat, COD và BOD5 để nhận diện sự suy giảm chất lượng nước về phía hạ lưu.[16]

Lịch sử

 
Sông và kênh rạch quanh Gia Định vào đầu thế kỷ XIX

Trước năm 1698

Các di tích tiền sử và sơ sử ở Thành phố Hồ Chí Minh phân bố dọc hai bờ sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, các rạch chi lưu và tại vùng cửa biển Cần Giờ – Đồng Tranh – Soài Rạp.[17] Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, khi đó là Phó Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, nhận định rằng vài nghìn năm trước, vùng trũng phèn rộng ngăn cách lưu vực Đồng Nai và Vàm Cỏ, nên tuyến sông Sài Gòn/Đồng Nai – Nhà Bè – Soài Rạp – hệ thống Vàm Cỏ là con đường giao lưu thuận tiện nhất giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ.[18]Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Năm 1623, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đề nghị triều đình Chân Lạp cho lập một trạm thu thuế tại Prây Kor để quản lý lưu dân. Trong giai đoạn khai khẩn ban đầu, người Việt thường di chuyển theo cửa biển và các dòng sông. Bến Nghé và khu vực quanh Thủ Dầu Một đều nằm gần sông Sài Gòn và sông Đồng Nai, trở thành những điểm dừng chân sớm của lưu dân.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Cảng thị Bến Nghé – Sài Gòn, 1698–1859

Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh tổ chức phủ Gia Định, lập huyện Tân Bình và dinh Phiên Trấn. Bến Nghé nằm tại đầu mối giữa kênh Chợ Lớn và sông Sài Gòn. Từ cuối thế kỷ XVIII, khu Bến Nghé – Sài Gòn phát triển thành đô thị cảng và dần tiếp nhận vai trò trung tâm thương mại từ Cù lao Phố.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Phần lớn làng và chợ ở Sài Gòn – Gia Định hình thành ven sông, kênh rạch; Chợ Bến Thành, Thị Nghè và Chợ Lớn thuộc hệ thống này.[19] Người Hoa chuyển hoạt động về Phiên Trấn, còn cộng đồng Minh Hương lập chợ Sài Gòn.[20]

Năm 1772, Nguyễn Cửu Đàm cho đào kênh Ruột Ngựa, nối Sài Gòn với miền Tây.[21] Tuyến kênh chạy từ cửa Rạch Cát đến Lò Gốm. Trước khi đào kênh, đoạn nước này bị đọng và ghe thuyền không thể qua lại. Tuyến kênh thẳng hơn giúp hành trình đường thủy giữa Sài Gòn và miền Tây thuận tiện hơn.[22]

Kiến trúc sư Phù Văn Toàn mô tả Sài Gòn trước năm 1859 là một đô thị "vừa làng vừa cảng", với mạng lưới làng, xóm, chợ và đầu mối giao thông đường thủy đan xen. Ông cho rằng các cụm cư trú ven kênh rạch gồm nhà ở, vườn tược, bến nước và đình chùa, đồng thời gắn với buôn bán và vận chuyển bằng ghe thuyền, tạo nên dạng văn hóa "làng - phố - bến".[23]

Trong nửa đầu thế kỷ XIX, Bến Nghé – Sài Gòn tiếp nhận thuyền buôn trong nước và nước ngoài, đồng thời nối Cần Giờ, hệ thống sông Đồng Nai và các tuyến về đồng bằng sông Cửu Long.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Xưởng Thủy, nằm bên sông Tân Bình và rạch Thị Nghè, là cơ sở đóng, sửa chiến thuyền và đúc súng; khu vực này về sau gắn với Ba Son.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Cảng và đô thị thuộc địa, 1859–1914

Đầu tháng 2 năm 1859, hải đoàn Pháp – Tây Ban Nha tập trung ở cửa sông Sài Gòn. Ngày 10 tháng 2, hai đồn tại Cap Saint-Jacques (Vũng Tàu) bị tấn công và phá hủy; sau đó đồn Cần Giờ cũng bị phá hủy.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Tháng 2 năm 1860, chính quyền Pháp chính thức mở sông và cảng Sài Gòn phục vụ thương mại quốc tế.[4] Từ tháng 2 năm 1860, cảng tiếp nhận tàu vận chuyển và hàng xuất nhập khẩu; lúa gạo là mặt hàng chính.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Quy định ngày 11 tháng 4 năm 1861 dùng rạch Thị Nghè, rạch Bến Nghé và sông Sài Gòn làm các mốc ranh giới của thành phố.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Trong mô tả địa giới thành phố thời thuộc địa, sông Sài Gòn là ranh giới phía đông.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.[24] Một tư liệu đương thời được dẫn lại trong sách Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu mô tả thành phố khi đó kéo dài khoảng 2 km dọc bờ sông Sài Gòn và được sông ngòi bao quanh ba phía.[25]

Bản quy hoạch năm 1862 thể hiện các trục giao thông chính của đô thị.[26] Hãng vận tải Messageries Impériales xây trụ sở bên bờ sông từ giữa năm 1862 và hoàn thành công trình năm 1863. Công trình về sau mang tên Nhà Rồng, còn bến cảng phía trước được gọi là Bến cảng Nhà Rồng.[27] Đến năm 1863, các cầu tàu, bến bãi và nhà kho đã được xây dựng dọc bờ Bến Nghé và Khánh Hội.[28] Từ năm 1863 trở đi, một số tòa nhà thương mại bắt đầu xuất hiện tại khu bến cảng ở góc sông Sài Gòn và rạch Bến Nghé, gần đầu đại lộ Hàm Nghi ngày nay.[29] Quy hoạch đô thị đầu thời thuộc địa đặt khu hành chính gần Đồn Đất, khu quân sự ở phía sau và các kho hải quân hướng ra sông Sài Gòn. Bến cảng cùng kho bãi cũng được hình thành trong quá trình này.[30]

Bản vẽ năm 1881 thể hiện thuyền bè nhỏ qua lại đông đúc trên các kênh Thị Nghè và Bến Nghé, còn tàu thuyền lớn hoạt động trên sông Sài Gòn.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Chợ Bến Thành cũ nằm hai bên sông Sa Ngư, một nhánh chảy ra sông Sài Gòn.[31] Năm 1887, chính quyền thuộc địa lấp ngòi này để hình thành đường Charner, nay là đường Nguyễn Huệ.[32]

Các nguồn dùng những mốc khác nhau cho các giai đoạn hình thành cơ sở hải quân tại Ba Son. Đại tá Phan Văn Bình, khi đó là Bí thư Đảng ủy và Chủ tịch Tổng công ty Ba Son, cho biết người Pháp xây Arsenal de Saigon trên khu đất Xưởng Thủy cũ ngày 28 tháng 4 năm 1863.[33] Hoàng Hằng và Đỗ Huyền Trang ghi cơ xưởng hải quân Ba Son ra đời năm 1884.[34] Về công trình sửa tàu, hai tác giả này ghi một bể dài 150 m được xây năm 1884.[34] Một tư liệu khác của Trung tâm Lưu trữ quốc gia I ghi ụ cạn dài 168 m, khởi công năm 1884 và khánh thành năm 1888.[5] Đến năm 1905, Sài Gòn có xưởng đóng tàu Ba Son và một số xưởng sửa chữa, đóng xà lan quy mô nhỏ.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Cảng tự quản và mạng giao thông vùng, 1914–1954

 
Bến Sài Gòn năm 1926

Ngày 2 tháng 1 năm 1914, thương cảng Sài Gòn trở thành một cơ quan tự quản có tư cách pháp nhân, do hội đồng quản trị điều hành. Hội đồng quản lý tàu bè, hàng hóa, trang thiết bị và nhân sự, đồng thời quyết định việc bảo trì, nâng cấp và mở rộng cảng.[4]

Cảng Sài Gòn có 707 lượt tàu vào và 709 lượt tàu rời năm 1913; đến năm 1922, các số liệu tương ứng là 775 và 776.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Tổng lượng hàng hóa đường dài vào và ra cảng đạt 1.714 nghìn tấn năm 1917, giảm còn 946 nghìn tấn năm 1918 và tăng lên 1.721 nghìn tấn năm 1922.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Trong thập niên 1920, hội đồng quản trị triển khai chương trình xây dựng bằng kinh phí thường xuyên và khoản vay 2 triệu đồng bạc. Chương trình gồm mở rộng và quy hoạch bờ kè, bến tàu; nối đường ray ra bến; xây kho, tổng kho và kho than; lắp máy bốc dỡ cùng cẩu quay. Cảng còn dự kiến mở dịch vụ xà lan vận chuyển gạo giữa Chợ Lớn và Sài Gòn.[4]

Địa chí Bình Dương xếp sông Sài Gòn trong ba tuyến giao thông thủy chính của tỉnh và đánh giá đây là tuyến có giá trị bậc nhất nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, đồng thời nối trực tiếp Thủ Dầu Một với Sài Gòn, trung tâm kinh tế – văn hóa của miền Nam thời bấy giờ.[35] Đầu thế kỷ XX, tuyến có chuyến sa-lúp hằng ngày từ Thủ Dầu Một đến Sài Gòn và dịch vụ vận tải đường thủy chuyên chở nông sản.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Đến năm 1914, toàn Nam Kỳ có 1.745 km đường thủy có tàu hơi nước hoạt động. Số liệu này áp dụng cho toàn Nam Kỳ, không riêng sông Sài Gòn.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Từ năm 1955

Năm 1955, thương cảng Sài Gòn, trong đó có Nhà Rồng, được chuyển giao cho chính quyền miền Nam Việt Nam quản lý.[27]

Trong nửa sau thập niên 1960, một cảng quân sự mới được xây ở thượng lưu thành phố để bổ sung năng lực tiếp nhận hàng hóa.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Cuối năm 1966, toàn bộ 5.000 công nhân bốc xếp Sài Gòn đình công trong tranh chấp việc làm tại Newport. Trong thời gian đình công, binh sĩ Hoa Kỳ chỉ dỡ vật tư quân sự thiết yếu, khiến tàu chở hàng dân sự và hàng USAID ùn lại trên sông. Tổng thư ký Nghiệp đoàn Công nhân bốc xếp Sài Gòn Nguyễn Hoàng Tân cho rằng các cảng trên sông Sài Gòn thuộc về công nhân bốc xếp Việt Nam; sau khi hợp đồng tạm thời bốn tháng hết hạn, nghiệp đoàn quyết giữ lại các việc làm này.[36] Cảng Newport hoàn thành năm 1967.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

 
Xưởng hải quân Sài Gòn bên sông Sài Gòn, khoảng năm 1968

Năm 1975, thương cảng được đổi tên thành Cảng Sài Gòn.[37] Nhà Rồng thuộc Cục đường biển Việt Nam quản lý và được giữ lại làm di tích lưu niệm theo quyết định của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh năm 1979.[27]

Khai thác và quản lý

Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Format link' not found.

Cấp nước và thủy lợi

Sông Sài Gòn là một nguồn nước mặt của Thành phố Hồ Chí Minh; nhà máy nước Sài Gòn tại Bến Than, Củ Chi lấy nước thô từ dòng sông.[38] Hồ Dầu Tiếng và hệ thống kênh tưới cung cấp nước cho nông nghiệp.[3] Việc lấy nước ở hạ lưu được phối hợp với vận hành hồ Dầu Tiếng.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Các nguồn ghi khác nhau về năm hồ bắt đầu vận hành. Đánh giá tác động môi trường do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố năm 2003 ghi mốc 1985.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Báo cáo cấp nước của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản năm 2013 ghi mốc 1987.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Dự án Dầu Tiếng là dự án tài nguyên nước đầu tiên tại Việt Nam nhận tài trợ của Hiệp hội Phát triển Quốc tế thuộc Ngân hàng Thế giới. Ban đầu, hồ cấp nước tưới, nước cho đô thị và công nghiệp tại Tây Ninh, đồng thời hạn chế xâm nhập mặn trên sông Sài Gòn. Đến năm 1993, phạm vi phân bổ nước tưới được điều chỉnh để bao gồm các vùng thuộc Tây Ninh, Củ Chi, Long An và Bình Dương.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Khi ở mực nước bình thường, hồ có dung tích hữu ích khoảng 1,11 tỷ m³ trên tổng dung tích 1,58 tỷ m³. Nước được phân phối qua kênh Đông, kênh Tây, kênh Tân Hưng và cửa xả về sông Sài Gòn.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Kênh Tân Hưng bắt đầu hoạt động năm 1998, chủ yếu cấp nước cho công nghiệp và tưới tối đa 10.000 ha. Chương nghiên cứu năm 2002 về phân bổ và sử dụng nước trong lưu vực Đồng Nai nhận xét rằng cạnh tranh sử dụng nước đã xuất hiện rõ giữa khu vực công nghiệp và các khu vực khác.[39]

Quản lý nguồn nước

Sông Sài Gòn nằm trong phạm vi Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Đồng Nai thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Quy hoạch này được phê duyệt năm 2024 và xác định các chức năng của nguồn nước trên lưu vực gồm cấp nước sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp; giao thông thủy; thoát lũ; duy trì cảnh quan, hệ sinh thái thủy sinh và đa dạng sinh học.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Quy hoạch đặt mục tiêu hoàn thiện hành lang bảo vệ nguồn nước, duy trì dòng chảy, phòng chống xói lở bờ và phục hồi các đoạn sông bị suy thoái hoặc ô nhiễm. Văn bản cũng yêu cầu kiểm soát cao độ đáy sông cùng hoạt động khai thác cát, sỏi. Các mục tiêu này áp dụng cho toàn lưu vực Đồng Nai.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Cảng và đường thủy

 
Tàu container trên sông Sài Gòn

Năm 2008, khu bến Cảng Sài Gòn trên sông gồm Nhà Rồng, Khánh Hội, Tân Thuận và Tân Thuận 2. Cảng container quốc tế Việt Nam (VICT) là bến container chuyên dụng trên sông Sài Gòn.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Kế hoạch lúc đó dự kiến chuyển phần lớn chức năng hàng hóa của khu bến trung tâm về Hiệp Phước và cụm Cái Mép – Thị Vải, đồng thời giữ lại bến hành khách.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Tàu biển tiếp cận các bến trên sông chủ yếu qua luồng Lòng Tàu. Năm 2010, tuyến luồng dài khoảng 85 km và có độ sâu công bố 8,5 m.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Quy hoạch năm 2008 đề xuất cải tạo đoạn Sài Gòn – Bến Súc dài 89 km lên đường thủy nội địa cấp III.[40]

Công trình vượt sông

Bản đồ vùng phụ cận Sài Gòn năm 1895 thể hiện bến phà Thủ Thiêm. Trên bản đồ năm 1911, một bến phà khác được đánh dấu ở phía bắc vị trí cũ. Các tuyến này nối trung tâm Sài Gòn với đường đi Thủ Đức và Biên Hòa.[41]

 
Cầu Sài Gòn năm 2006

Cầu Sài Gòn hoàn thành năm 1961, dài 986,12 m và sử dụng dầm thép ở các nhịp chính.[42]

Cầu Thủ Thiêm hoàn thành năm 2008.[43] Cầu Phú Mỹ hoàn thành năm 2009, vượt sông Sài Gòn trên tuyến Vành đai 2.[44] Hầm Thủ Thiêm là hạng mục vượt sông thuộc dự án Đại lộ Đông – Tây. Công trình dài khoảng 1,49 km, có sáu làn xe và hoàn thành năm 2011.[45] Phần vượt sông sử dụng kết cấu hầm dìm.[46]

Môi trường

Chất lượng nước

Trong giai đoạn 2015–2017, đoạn sông qua trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh có dư thừa chất dinh dưỡng, sinh khối tảo rất cao và những đợt thiếu oxy hòa tan vào mùa khô. Tác động phú dưỡng chưa biểu hiện rõ ở hạ lưu vì khối nước sông Sài Gòn được pha trộn với nước sông Đồng Nai và nước biển trong các chu kỳ bán nhật triều.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Trong mùa khô, mô hình C-GEM tái hiện một khối nước ô nhiễm kéo dài khoảng 30 km, có nồng độ chất dinh dưỡng cao và oxy hòa tan thấp. Khối nước này hình thành do tác động kết hợp của thủy triều và khả năng trao đổi nước thấp.[47]

Mô phỏng MIKE 21FM cho thấy chất lượng nước tại các trạm trên sông Đồng Nai tốt hơn trạm Hòa Phú trên sông Sài Gòn. Hòa Phú có BOD5 cao và oxy hòa tan thấp. Hóa An đạt cột A2 của QCVN 08-MT:2015/BTNMT; Bình An nhìn chung đạt mức này nhưng không đạt vào mùa khô.[48]

Trầm tích và chất ô nhiễm

Tại đoạn hạ lưu được khảo sát, tổng nồng độ của 11 kim loạiá kim trong phân đoạn trao đổi của trầm tích mặt cao hơn vào mùa mưa và ở phần thượng lưu của đoạn nghiên cứu. Phân tích đa biến nhận diện ba nhóm nguồn đóng góp.[49] Hai cơ chế làm tăng sắtmangan gồm rửa trôi trong môi trường axit từ đất phèn ở phần giữa lưu vực, cùng quá trình hòa tan mangan và khử sắt từ trầm tích hạ lưu. Nồng độ cao của hai nguyên tố này gây khó khăn cho hoạt động cấp nước tại Thành phố Hồ Chí Minh.[50]

Trong khảo sát năm 2014 tại 12 điểm dọc sông, trầm tích ở tất cả điểm lấy mẫu đều chứa hợp chất butyltin ở các mức khác nhau; TBT không được phát hiện hoặc ở mức rất thấp tại ba điểm SG10–SG12.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found. Một khảo sát khác phân tích 17 mẫu trầm tích lấy từ dòng chính và cửa các kênh đô thị để xác định hydrocarbon thơm đa vòng, PCB, một số thuốc trừ sâu, PBDE và PFAS. Trầm tích sông nhìn chung có nồng độ chất ô nhiễm hữu cơ bền thấp. Trầm tích cửa kênh có xu hướng ô nhiễm hơn, nhưng khác biệt so với dòng chính không có ý nghĩa thống kê.[51]

Trên tuyến sông – cửa sông dài khoảng 140 km, 120 trong số 217 chất ô nhiễm vi lượng mục tiêu được phát hiện. Tổng nồng độ và các đáp ứng sinh học thay đổi dọc tuyến, nhìn chung giảm về phía cửa sông. Các kênh đô thị là nguồn đóng góp lớn vào đoạn sông qua thành phố.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Một nghiên cứu tại Cần Giờ đối chiếu phép định tuổi trầm tích bằng 210Pb với dấu mốc dioxin ở một lõi lân cận. Hai cách định tuổi cho kết quả chênh lệch đáng kể, trong khi các tín hiệu 137Cs và 241Am không đủ để kiểm chứng độc lập. Nghiên cứu kết luận không nên áp dụng phương pháp 210Pb tại địa điểm khảo sát.[52]

Rác thải nhựa

 
Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè năm 2020

Một khảo sát công bố năm 2018 đồng thời lấy mẫu rác nhựa cỡ lớn và vi nhựa trên sông cùng bốn kênh đô thị. Tại kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, nhựa chiếm 11–43% khối lượng rác nổi được thu gom hằng ngày. Số liệu chỉ phản ánh rác nổi tại điểm khảo sát trên kênh, không phải toàn bộ sông.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Sợi nhân tạo và mảnh vi nhựa được thu bằng các phương pháp khác nhau. Trong mẫu nước mặt, mật độ sợi cao hơn nhiều so với mật độ mảnh vi nhựa. Các mảnh nhựa chủ yếu là polyethylenepolypropylene, còn sợi nhân tạo chủ yếu là polyester.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Footnotes/anchor_id_list' not found.

Tại 11 vị trí được khảo sát trong nghiên cứu công bố năm 2024, mật độ vi nhựa dao động từ 140 đến 1.200 hạt/kg trầm tích khô. Mật độ thay đổi theo mùa và giữa dòng chính với phụ lưu, trong đó trầm tích phụ lưu có mức cao hơn vào mùa khô.[53]

Trong văn hóa

 
Hình tượng sông Tân Bình được đúc trên Cao đỉnh tại Hoàng thành Huế dưới triều Minh Mạng.

Dưới triều Nguyễn, hình tượng sông Tân Bình được đúc trên Cao đỉnh thuộc Cửu Đỉnh vào năm Minh Mạng thứ 17. Đến năm Tự Đức thứ 3, dòng sông được đưa vào điển thờ.[6]

Tên Sài Gòn và Bến Nghé xuất hiện trong thơ văn về Gia Định, gồm các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, Gia Định thất thủ vịnhKim Gia Định phong cảnh vịnh. Ca dao cùng còn lưu lại hình ảnh bến sông, con nước, ghe thuyền và hoạt động mua bán trên tuyến Bến Nghé – Chợ Lớn.[6]

Hình ảnh

Xem thêm

Thư mục

  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).

Chú thích

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ a ă â b c Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  2. ^ a ă Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  3. ^ a ă Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  4. ^ a ă â b c d Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  5. ^ a ă Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  6. ^ a ă â Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  7. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  8. ^
    1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  9. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  10. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  11. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  12. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  13. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  14. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  15. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  16. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  17. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  18. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  19. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  20. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  21. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  22. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  23. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  24. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  25. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  26. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  27. ^ a ă â Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  28. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  29. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  30. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  31. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  32. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  33. ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  34. ^ a ă Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  35. ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  36. ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  37. ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  38. ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  39. ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  40. ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  41. ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  42. ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  43. ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  44. ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  45. ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  46. ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  47. ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  48. ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  49. ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  50. ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  51. ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  52. ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
  53. ^ Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.

Liên kết ngoài

Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.