Bước tới nội dung

Lý thuyết tiếp xúc có chọn lọc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Selective exposure theory)

Lý thuyết tiếp xúc có chọn lọc là một lý thuyết trong lĩnh vực tâm lý học, thường được sử dụng trong nghiên cứu truyền thônggiao tiếp, đề cập đến xu hướng con người ưu tiên tiếp nhận những thông tin củng cố các quan điểm sẵn có của mình đồng thời tránh né những thông tin mâu thuẫn với các quan điểm đó. Tiếp xúc có chọn lọc cũng từng được gọi là "thiên lệch thuận hợp" hoặc "thiên kiến xác nhận" trong nhiều tài liệu khác nhau qua các thời kỳ.[1]

Theo cách hiểu truyền thống của thuật ngữ này, con người có xu hướng lựa chọn những khía cạnh cụ thể của thông tin mà họ tiếp xúc để đưa vào hệ thống nhận thức của mình. Những sự lựa chọn này được hình thành dựa trên quan điểm, niềm tin, thái độ và quyết định của mỗi cá nhân.[2] Con người có thể phân tích và sàng lọc thông tin mà họ tiếp nhận, lựa chọn những bằng chứng có lợi cho quan điểm của mình trong khi bỏ qua các bằng chứng bất lợi. Nền tảng của lý thuyết này bắt nguồn từ thuyết bất hòa nhận thức (Festinger 1957),[3] cho rằng khi cá nhân đối mặt với những ý tưởng trái ngược, một số cơ chế phòng vệ tâm lý sẽ được kích hoạt nhằm tạo ra sự hài hòa giữa những ý tưởng mới và các niềm tin có sẵn, từ đó đưa nhận thức trở về trạng thái cân bằng.

Cân bằng nhận thức, được hiểu là trạng thái cân bằng giữa cách một cá nhân nhận thức về thế giới và môi trường xung quanh, là một khái niệm quan trọng để lý giải lý thuyết tiếp xúc có chọn lọc. Theo Jean Piaget, khi xuất hiện sự không tương thích giữa hai yếu tố này, con người thường cảm thấy đó là một trạng thái "vốn dĩ không thỏa mãn".[4]

Lý thuyết tiếp xúc có chọn lọc dựa trên giả định rằng một cá nhân sẽ tiếp tục tìm kiếm thông tin về một vấn đề ngay cả sau khi họ đã hình thành lập trường đối với vấn đề đó. Lập trường mà một người lựa chọn sẽ chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố liên quan đến vấn đề và được củng cố trong suốt quá trình ra quyết định. Theo Stroud (2008), về mặt lý thuyết, hiện tượng tiếp xúc có chọn lọc xảy ra khi niềm tin của con người định hướng việc lựa chọn các phương tiện truyền thông mà họ tiếp cận.[5]

Tiếp xúc có chọn lọc đã được ghi nhận trong nhiều bối cảnh khác nhau, chẳng hạn như các tình huống phục vụ lợi ích bản thân, các trường hợp cá nhân mang định kiến đối với nhóm trong và nhóm ngoài, các quan điểm cụ thể, cũng như những vấn đề liên quan đến cá nhân hoặc tập thể.[6] Tuy nhiên, nhận thức về tính hữu ích của thông tin, chuẩn mực về sự công bằng và sự tò mò đối với những thông tin có giá trị là ba yếu tố có thể làm giảm hoặc chống lại xu hướng tiếp xúc có chọn lọc.

Một lý thuyết khác có liên quan là Lý thuyết tham gia có chọn lọc, do Sir Godson David đề xuất vào năm 2024.

Lý thuyết này cho rằng các cá nhân có khả năng lựa chọn tham gia vào những khía cạnh của một sự kiện hoặc hoạt động mà họ cho là có ý nghĩa hoặc quan trọng nhất đối với bản thân, đồng thời nhận thức đầy đủ về những hệ quả có thể phát sinh khi bỏ qua các khía cạnh khác.

Theo lý thuyết này, con người có thể ưu tiên một số yếu tố nhất định của sự kiện dựa trên các giá trị, sở thích hoặc mục tiêu cá nhân, từ đó quyết định đầu tư thời gian, năng lượng và nguồn lực của mình vào các lĩnh vực đó. Đồng thời, họ cũng có thể chủ động hạn chế mức độ tham gia vào các khía cạnh khác, với nhận thức rằng không thể tham gia đầy đủ vào mọi mặt của một hoạt động cùng lúc.

Thông qua việc tham gia có chọn lọc, cá nhân có thể tập trung vào những điều mà họ coi trọng nhất, tối ưu hóa nguồn lực và nỗ lực dành cho các lĩnh vực đó, đồng thời bù đắp cho sự thiếu tham gia ở các lĩnh vực khác. Cách tiếp cận này có thể giúp cá nhân duy trì cảm giác kiểm soát, sự hài lòng và trạng thái an sinh trong quá trình tham gia vào những hoạt động hoặc sự kiện phức tạp.

Nhìn chung, Lý thuyết tham gia có chọn lọc nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ra quyết định có chủ đích và xác định thứ tự ưu tiên trong quá trình tham gia các sự kiện, đồng thời khẳng định rằng con người có quyền chủ động lựa chọn nơi phân bổ thời gian và sự chú ý của mình dựa trên các mục tiêu và sở thích cá nhân.

Ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định

Ra quyết định cá nhân và ra quyết định nhóm

Hình ảnh này có thể được nhìn nhận là một phụ nữ trẻ hoặc một phụ nữ lớn tuổi, là ví dụ cho thấy các cá nhân có thể lựa chọn diễn giải cùng một hình ảnh theo những cách khác nhau. Theo Lý thuyết tiếp xúc có chọn lọc, con người có xu hướng tìm kiếm phiên bản của một kích thích mà họ muốn tiếp xúc, chẳng hạn như dạng kích thích mà họ đã quen thuộc từ trước.

Tiếp xúc có chọn lọc thường ảnh hưởng đến các quyết định mà con người đưa ra với tư cách cá nhân hoặc thành viên của một nhóm, bởi họ có thể không sẵn sàng thay đổi quan điểm và niềm tin của mình, dù với tư cách tập thể hay cá nhân, ngay cả khi phải đối mặt với những thông tin đáng tin cậy nhưng trái ngược với nhận thức sẵn có.

Một ví dụ về tác động của tiếp xúc có chọn lọc là chuỗi sự kiện dẫn đến Sự kiện Vịnh Con Lợn năm 1961. Tổng thống John F. Kennedy đã nhận được sự ủng hộ từ các cố vấn của mình để phê chuẩn kế hoạch xâm lược Cuba do một lực lượng lưu vong được huấn luyện sơ sài thực hiện, mặc dù có rất nhiều bằng chứng cho thấy đây là một chiến lược thiếu thực tế và được chuẩn bị kém. Các cố vấn quá mong muốn làm hài lòng tổng thống đến mức họ củng cố thiên kiến nhận thức của chính mình đối với kế hoạch xâm lược thay vì thách thức hoặc phản biện kế hoạch sai lầm đó.[7]

Việc thay đổi niềm tin về bản thân, về người khác và về thế giới là ba yếu tố chính giải thích vì sao con người thường e ngại những thông tin mới.[8]

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hiệu ứng tiếp xúc có chọn lọc có thể xuất hiện trong cả bối cảnh ra quyết định cá nhân lẫn ra quyết định nhóm.[9] Nhiều biến số tình huống khác nhau đã được xác định là có khả năng làm gia tăng xu hướng tiếp xúc có chọn lọc.[10]

Trong tâm lý học xã hội, các nghiên cứu đã xem xét nhiều yếu tố tình huống khác nhau cùng với những quá trình tâm lý liên quan, vốn cuối cùng có thể thuyết phục một cá nhân đưa ra một quyết định được xem là hợp lý hoặc có chất lượng. Ngoài ra, từ góc độ tâm lý học, các tác động của tiếp xúc có chọn lọc có thể xuất phát từ cả những động cơ tâm lý lẫn các quá trình nhận thức.

Ảnh hưởng của lượng thông tin

Theo nghiên cứu của Fischer, Schulz-Hardt và cộng sự (2008), lượng thông tin liên quan đến quyết định mà người tham gia được tiếp xúc có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ tiếp xúc có chọn lọc của họ. Nhóm chỉ được cung cấp hai mẩu thông tin liên quan đến quyết định thể hiện mức độ tiếp xúc có chọn lọc thấp hơn so với nhóm được cung cấp mười mẩu thông tin để đánh giá. Nghiên cứu này đã thu hút sự chú ý nhiều hơn đến các quá trình nhận thức của cá nhân khi họ được cung cấp một lượng rất nhỏ thông tin phù hợp và không phù hợp với quyết định của mình.

Nghiên cứu cho thấy rằng trong những tình huống như vậy, cá nhân trở nên hoài nghi hơn đối với quyết định ban đầu của mình do sự thiếu hụt nguồn thông tin. Họ bắt đầu cho rằng không có đủ dữ liệu hoặc bằng chứng trong lĩnh vực mà họ được yêu cầu đưa ra quyết định. Vì vậy, đối tượng nghiên cứu trở nên phê phán hơn đối với quá trình suy nghĩ ban đầu của bản thân và chú ý đến cả các nguồn thông tin phù hợp lẫn không phù hợp với quyết định, từ đó làm giảm mức độ tiếp xúc có chọn lọc. Ngược lại, đối với nhóm được cung cấp nhiều thông tin, yếu tố này khiến họ tự tin hơn vào quyết định ban đầu vì họ cảm thấy quyết định của mình được hỗ trợ bởi một số lượng lớn nguồn thông tin.[11]

Do đó, sự sẵn có của các thông tin liên quan hoặc không liên quan đến quyết định có thể ảnh hưởng đến mức độ tiếp xúc có chọn lọc mà cá nhân trải nghiệm trong quá trình ra quyết định.

Tiếp xúc có chọn lọc phổ biến ở cả cấp độ cá nhân và nhóm, đồng thời có thể khiến con người bác bỏ những ý tưởng hoặc thông tin mới không phù hợp với quan điểm ban đầu của họ. Trong nghiên cứu thực nghiệm của Jonas và cộng sự (2001), bốn thí nghiệm khác nhau đã được tiến hành nhằm khảo sát quá trình ra quyết định của cá nhân và nhóm. Bài nghiên cứu này cho rằng thiên kiến xác nhận là hiện tượng phổ biến trong quá trình ra quyết định. Những người tiếp nhận thông tin mới thường có xu hướng tập trung vào các lĩnh vực mà họ có sự gắn bó hoặc quan tâm cá nhân. Do đó, con người bị thu hút bởi những thông tin phù hợp với kỳ vọng hoặc niềm tin của bản thân, minh họa cho sự vận hành của lý thuyết tiếp xúc có chọn lọc. Kết quả của bốn thí nghiệm cho thấy việc khái quát hóa vẫn có giá trị và thiên kiến xác nhận luôn hiện diện trong quá trình tìm kiếm thông tin mới và đưa ra quyết định.[9]

Động cơ chính xác và động cơ phòng vệ

Fischer và Greitemeyer (2010) đã nghiên cứu quá trình ra quyết định của con người dưới góc độ tiếp xúc có chọn lọc đối với các thông tin mang tính xác nhận.[12] Tiếp xúc có chọn lọc cho thấy con người có xu hướng đưa ra quyết định dựa trên những thông tin phù hợp với quyết định của mình hơn là những thông tin mâu thuẫn với quyết định đó.

Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng hiện tượng "tìm kiếm thông tin xác nhận" (confirmatory information search) là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của ngân hàng đầu tư Lehman Brothers vào năm 2008, qua đó góp phần kích hoạt khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008. Trong quá trình theo đuổi lợi nhuận và tăng trưởng kinh tế, các chính trị gia, nhà đầu tư và cố vấn tài chính đã bỏ qua những bằng chứng toán học dự báo sự sụp đổ của thị trường nhà đất, thay vào đó dựa vào những lập luận thiếu vững chắc nhằm duy trì hiện trạng.[12]

Các nhà nghiên cứu giải thích rằng đối tượng nghiên cứu có xu hướng tìm kiếm và lựa chọn thông tin thông qua một mô hình tích hợp. Hai động cơ chủ yếu của tiếp xúc có chọn lọc là động cơ chính xác và động cơ phòng vệ.

Động cơ chính xác giải thích rằng cá nhân được thúc đẩy bởi mong muốn đưa ra quyết định một cách chính xác. Trong khi đó, động cơ phòng vệ cho rằng con người tìm kiếm những thông tin xác nhận nhằm bảo vệ niềm tin và biện minh cho các quyết định của mình.

Tuy nhiên, động cơ chính xác không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả tích cực trong bối cảnh tiếp xúc có chọn lọc. Trong một số trường hợp, nó có thể phản tác dụng và làm gia tăng mức độ tiếp xúc có chọn lọc. Ngược lại, động cơ phòng vệ đôi khi lại có thể làm giảm mức độ tiếp xúc có chọn lọc.[12]

Đặc điểm cá nhân

Tiếp xúc có chọn lọc khiến con người tránh né những thông tin không phù hợp với niềm tin và thái độ của mình. Chẳng hạn, cựu Phó Tổng thống Hoa Kỳ Dick Cheney chỉ vào phòng khách sạn sau khi chiếc tivi trong phòng đã được bật và chuyển sang một kênh truyền hình bảo thủ.[1] Khi phân tích năng lực ra quyết định của một cá nhân, quá trình thu thập thông tin liên quan không phải là yếu tố duy nhất được xem xét. Fischer và cộng sự (2010) cho rằng bản thân nguồn thông tin, hay nói cách khác là người cung cấp thông tin cũng là một yếu tố quan trọng cần được tính đến.[10]

Nghiên cứu về tiếp xúc có chọn lọc thường bỏ qua ảnh hưởng của những thuộc tính gián tiếp liên quan đến quyết định, chẳng hạn như ngoại hình. Trong nghiên cứu của Fischer và cộng sự (2010), hai thí nghiệm đã giả thuyết rằng những nguồn thông tin có ngoại hình hấp dẫn sẽ khiến người ra quyết định trở nên chọn lọc hơn trong việc tìm kiếm và đánh giá các thông tin liên quan đến quyết định.[10] Các nhà nghiên cứu khảo sát tác động của thông tin xã hội và mức độ hấp dẫn về mặt thể chất của nguồn thông tin. Dữ liệu sau đó được phân tích và sử dụng để củng cố lập luận rằng hiện tượng tiếp xúc có chọn lọc thực sự tồn tại ở những người phải đưa ra quyết định.[10]

Kết quả cho thấy nguồn thông tin càng hấp dẫn thì đối tượng nghiên cứu càng có xu hướng đánh giá tích cực hơn và xem xét kỹ lưỡng hơn khi đưa ra quyết định. Sức hấp dẫn ngoại hình ảnh hưởng đến quyết định của cá nhân thông qua việc nâng cao nhận thức về chất lượng thông tin. Những nguồn thông tin hấp dẫn về mặt thể chất làm gia tăng giá trị của các thông tin phù hợp với quyết định, từ đó làm tăng mức độ tiếp xúc có chọn lọc đối với các thông tin liên quan đến quyết định, qua đó ủng hộ giả thuyết của các nhà nghiên cứu.[12] Cả hai nghiên cứu đều kết luận rằng sự hấp dẫn ngoại hình dẫn đến việc lựa chọn và đánh giá khác biệt đối với các thông tin phù hợp với quyết định. Do tác động của tiếp xúc có chọn lọc, người ra quyết định cho phép những yếu tố như ngoại hình ảnh hưởng đến các quyết định thường nhật của mình.

Trong một nghiên cứu khác, tiếp xúc có chọn lọc được giải thích thông qua mức độ tự tin của cá nhân. Con người có thể điều chỉnh mức độ tiếp xúc có chọn lọc tùy thuộc vào việc họ sở hữu lòng tự trọng thấp hay cao. Những cá nhân duy trì mức độ tự tin cao thường có xu hướng giảm mức độ tiếp xúc có chọn lọc.[13]

Albarracín và Mitchell (2004) giả thuyết rằng những người có mức độ tự tin cao sẽ sẵn sàng tìm kiếm cả những thông tin phù hợp lẫn không phù hợp với quan điểm của họ. Khái niệm "thông tin phù hợp với quyết định" đề cập đến xu hướng chủ động tìm kiếm các thông tin liên quan và ủng hộ quyết định đã được đưa ra. Tiếp xúc có chọn lọc xảy ra khi cá nhân tìm kiếm thông tin và thể hiện sự ưu tiên có hệ thống đối với các ý tưởng phù hợp với niềm tin của mình hơn là các ý tưởng trái ngược.[10]

Ngược lại, những người có mức độ tự tin thấp có xu hướng xem xét nhiều hơn các thông tin không đồng nhất với quan điểm của họ. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng trong ba trên năm nghiên cứu, những người tham gia thể hiện mức độ tự tin cao hơn và đạt điểm cao hơn trên Thang đo Tự tin phòng vệ ,[13] qua đó cung cấp bằng chứng hỗ trợ cho giả thuyết của họ.

Bozo và cộng sự (2009) đã nghiên cứu nỗi lo sợ về cái chết và so sánh hiện tượng này giữa các nhóm tuổi khác nhau trong mối liên hệ với các hành vi tăng cường sức khỏe. Các nhà nghiên cứu phân tích dữ liệu dựa trên thuyết quản lý nỗi sợ hãi và nhận thấy tuổi tác không có ảnh hưởng trực tiếp đến những hành vi cụ thể này. Họ cho rằng nỗi sợ cái chết có thể thúc đẩy các hành vi tăng cường sức khỏe ở người trẻ tuổi. Khi cá nhân được nhắc nhở về cái chết của chính mình, điều đó tạo ra căng thẳng và lo âu, nhưng cuối cùng lại dẫn đến những thay đổi tích cực trong hành vi chăm sóc sức khỏe.

Kết quả nghiên cứu cho thấy người lớn tuổi nhìn chung thực hiện và duy trì các hành vi tăng cường sức khỏe tốt hơn một cách ổn định mà không cần phải suy nghĩ đến cái chết, so với người trẻ tuổi.[14] Trong khi đó, người trẻ tuổi ít có động lực thay đổi và thực hành các hành vi có lợi cho sức khỏe hơn vì họ sử dụng tiếp xúc có chọn lọc để củng cố những niềm tin vốn có của mình. Do đó, tiếp xúc có chọn lọc tạo ra những rào cản hành vi giữa các nhóm tuổi khác nhau, mặc dù không tồn tại một độ tuổi cụ thể nào mà tại đó con người đột ngột thay đổi hành vi của mình.

Mặc dù ngoại hình có thể ảnh hưởng đến quyết định cá nhân đối với một ý tưởng được trình bày, nghiên cứu của Van Dillen, Papies và Hofmann (2013) đã đề xuất một cách thức nhằm làm giảm tác động của các đặc điểm cá nhân và hiện tượng tiếp xúc có chọn lọc trong ra quyết định.

Kết quả nghiên cứu cho thấy con người thực sự chú ý nhiều hơn đến các kích thích có ngoại hình hấp dẫn hoặc mang tính cám dỗ. Tuy nhiên, hiện tượng này có thể được giảm bớt bằng cách gia tăng gánh nặng nhận thức. Trong nghiên cứu này, việc tăng cường hoạt động nhận thức đã làm giảm ảnh hưởng của ngoại hình và tiếp xúc có chọn lọc đối với ấn tượng của cá nhân về ý tưởng được trình bày.

Điều này được giải thích bằng việc con người vốn có xu hướng bản năng bị thu hút bởi một số đặc điểm ngoại hình nhất định. Tuy nhiên, nếu các nguồn lực nhận thức cần thiết cho sự chú ý đó đang được sử dụng vào một nhiệm vụ khác, thì những đặc điểm này sẽ ít được chú ý hơn. Ví dụ, nếu một người đang đồng thời thực hiện một hoạt động đòi hỏi nỗ lực tư duy cao trong thời điểm tiếp xúc với thông tin, họ có khả năng sẽ ít chú ý đến ngoại hình hơn. Kết quả là ảnh hưởng của tiếp xúc có chọn lọc đối với ra quyết định cũng giảm xuống.[15]

Các lý thuyết giải thích hiện tượng tiếp xúc có chọn lọc

Thuyết bất hòa nhận thức

Leon Festinger được xem rộng rãi là cha đẻ của tâm lý học xã hội hiện đại và là một nhân vật có tầm ảnh hưởng đối với lĩnh vực này tương tự như vai trò của Freud đối với tâm lý học lâm sàng hay Piaget đối với tâm lý học phát triển.[16] Ông được coi là một trong những nhà tâm lý học xã hội quan trọng nhất của thế kỷ XX. Các công trình của ông chứng minh rằng có thể sử dụng phương pháp khoa học để nghiên cứu những hiện tượng xã hội phức tạp và có ý nghĩa mà không cần quy giản chúng thành các mối liên hệ cơ học giữa kích thích và phản ứng – nền tảng của thuyết hành vi.[16]

Festinger đã đề xuất thuyết bất hòa nhận thức mang tính đột phá, vốn ngày nay được xem là nền tảng của lý thuyết tiếp xúc có chọn lọc, mặc dù khi lần đầu đưa ra lý thuyết này vào năm 1957, ông từng bị xem là một nhà tâm lý học “tiên phong cấp tiến”.[17]

Trớ trêu thay, Festinger sau này nhận ra rằng chính ông cũng là nạn nhân của hiện tượng tiếp xúc có chọn lọc. Ông hút thuốc rất nhiều trong suốt cuộc đời, và khi được chẩn đoán mắc ung thư giai đoạn cuối vào năm 1989, ông được cho là đã đùa rằng: “Hãy đảm bảo mọi người biết rằng đó không phải là ung thư phổi!”.[16]

Thuyết bất hòa nhận thức giải thích rằng khi một cá nhân, dù có ý thức hay vô thức, nhận ra sự mâu thuẫn giữa các thái độ, suy nghĩ hoặc niềm tin của mình, họ sẽ trải qua trạng thái khó chịu về mặt tâm lý. Do đó, cá nhân sẽ có xu hướng tránh né những thông tin mâu thuẫn tương tự trong tương lai vì chúng tạo ra cảm giác khó chịu, đồng thời tìm đến những thông điệp phù hợp với các quan niệm mà họ vốn đã nắm giữ.[18]

Những người ra quyết định không thể đánh giá chất lượng thông tin một cách hoàn toàn độc lập (Fischer, Jonas, Frey & Kastenmüller, 2008).[19] Khi xuất hiện sự xung đột giữa quan điểm sẵn có và thông tin mới tiếp nhận, cá nhân sẽ trải nghiệm một trạng thái kích thích khó chịu và đe dọa đến bản thân, từ đó thúc đẩy họ giảm bớt cảm giác này thông qua tiếp xúc có chọn lọc. Họ sẽ bắt đầu ưu tiên các thông tin ủng hộ quyết định ban đầu của mình và bỏ qua các thông tin trái ngược. Sau đó, cá nhân sẽ tìm kiếm và sử dụng các thông tin mang tính xác nhận nhằm bảo vệ lập trường của bản thân và đạt được mục tiêu giảm thiểu bất hòa nhận thức.[20]

Thuyết bất hòa nhận thức cho rằng bất hòa là một trạng thái căng thẳng tâm lý mà con người có động lực giảm thiểu (Festinger 1957). Bất hòa tạo ra cảm giác không vui vẻ, khó chịu hoặc đau khổ. Festinger (1957, tr. 13) phát biểu rằng:

“Hai yếu tố này ở trong mối quan hệ bất hòa nếu, khi chỉ xét riêng chúng, sự phủ định của yếu tố này sẽ là hệ quả của yếu tố kia.”

Để giảm bất hòa, con người sẽ bổ sung những nhận thức phù hợp hoặc thay đổi cách đánh giá đối với một hoặc cả hai nhận thức liên quan nhằm khiến chúng trở nên nhất quán hơn về mặt tâm lý.[21] Trải nghiệm khó chịu về mặt tâm lý này đã được chứng minh là khiến cá nhân tránh né các thông tin trái ngược với thái độ của mình như một chiến lược nhằm giảm bất hòa.[3]

Trong lý thuyết của Festinger, có hai giả thuyết cơ bản:

  1. Sự tồn tại của bất hòa, vốn gây khó chịu về mặt tâm lý, sẽ thúc đẩy cá nhân cố gắng giảm thiểu bất hòa và đạt tới trạng thái hòa hợp nhận thức.
  2. Khi bất hòa tồn tại, ngoài việc cố gắng giảm bớt nó, cá nhân còn chủ động tránh những tình huống và thông tin có khả năng làm gia tăng bất hòa. (Festinger 1957, tr. 3)

Thuyết bất hòa nhận thức được phát triển vào giữa thập niên 1950 nhằm giải thích tại sao những người có niềm tin mạnh mẽ lại thường rất khó thay đổi quan điểm của mình ngay cả khi phải đối mặt với những bằng chứng trái ngược không thể phủ nhận. Hiện tượng này xảy ra khi con người cảm thấy gắn bó và có trách nhiệm đối với một quyết định, lập trường hoặc hành vi nào đó. Điều này làm gia tăng động lực biện minh cho quan điểm của họ thông qua việc tiếp xúc có chọn lọc với những thông tin mang tính xác nhận (Fischer, 2011).

Fischer cho rằng con người có một nhu cầu nội tại nhằm đảm bảo sự nhất quán giữa niềm tin và hành vi của bản thân. Trong một thí nghiệm sử dụng thao tác cam kết, mức độ chắc chắn của quyết định đã bị ảnh hưởng đáng kể. Những người tham gia được tự do lựa chọn thông tin phù hợp hoặc không phù hợp với thái độ của mình để viết một bài luận. Những người viết bài luận phù hợp với thái độ của mình thể hiện mức độ tìm kiếm thông tin xác nhận cao hơn (Fischer, 2011).[22]

Mức độ và cường độ của bất hòa nhận thức cũng đóng vai trò quan trọng. Việc tiếp xúc có chọn lọc với các thông tin phù hợp thường xảy ra ở những mức bất hòa nhất định. Tuy nhiên, khi mức độ bất hòa quá cao, cá nhân có thể lại tìm kiếm những thông tin làm gia tăng bất hòa bởi chiến lược hiệu quả nhất để giảm bất hòa lúc này là thay đổi thái độ hoặc quyết định của chính mình (Smith và cộng sự, 2008).[23] Những nghiên cứu tiếp theo về hiện tượng tiếp xúc có chọn lọc trong khuôn khổ thuyết bất hòa nhận thức chỉ nhận được sự ủng hộ thực nghiệm khá hạn chế cho đến khi lý thuyết bất hòa nhận thức được điều chỉnh và các phương pháp nghiên cứu mới, phù hợp hơn với việc đo lường tiếp xúc có chọn lọc được áp dụng.[24] Cho đến nay, các học giả vẫn tranh luận rằng các kết quả thực nghiệm ủng hộ giả thuyết tiếp xúc có chọn lọc vẫn còn chưa nhất quán. Điều này có thể bắt nguồn từ những hạn chế trong phương pháp của các nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành.[25] Một nguyên nhân khác có thể là việc các thí nghiệm chưa mô phỏng được một môi trường truyền thông chân thực.[26]

Theo Festinger, động cơ tìm kiếm hoặc tránh né thông tin phụ thuộc vào mức độ bất hòa nhận thức mà cá nhân trải nghiệm (Smith và cộng sự, 2008).[23] Người ta quan sát thấy rằng con người có xu hướng tìm kiếm thông tin mới hoặc lựa chọn những thông tin củng cố niềm tin của mình nhằm giảm bớt bất hòa nhận thức.

Festinger cho rằng có ba khả năng ảnh hưởng đến mức độ bất hòa nhận thức (Festinger 1957, tr. 127–131):

  • Sự vắng mặt tương đối của bất hòa nhận thức

Khi bất hòa nhận thức rất ít hoặc hoàn toàn không tồn tại, con người hầu như không có động lực tìm kiếm thông tin mới. Ví dụ, trong trường hợp không tồn tại bất hòa nhận thức, việc một người có tham dự hay tránh né một bài thuyết trình về “Ưu điểm của ô tô có động cơ công suất rất lớn” sẽ không phụ thuộc vào việc chiếc xe mà họ vừa mua có động cơ mạnh hay yếu.

Tuy nhiên, cần phân biệt giữa tình huống không có bất hòa nhận thức với tình huống thông tin không liên quan đến hành vi hiện tại hoặc tương lai của cá nhân. Trong trường hợp thứ hai, việc tiếp xúc ngẫu nhiên với thông tin mà chủ sở hữu chiếc xe mới không chủ động tránh né sẽ không tạo ra bất hòa nhận thức; còn trong trường hợp thứ nhất, mặc dù cá nhân cũng không tránh né thông tin, sự tiếp xúc ngẫu nhiên đó vẫn có thể làm phát sinh bất hòa nhận thức.

  • Sự hiện diện của mức độ bất hòa nhận thức vừa phải

Sự tồn tại của bất hòa nhận thức và áp lực phải giảm thiểu nó sẽ dẫn đến việc chủ động tìm kiếm thông tin. Kết quả là con người có xu hướng tránh các thông tin có khả năng làm gia tăng bất hòa nhận thức.

Tuy nhiên, khi đối mặt với một nguồn thông tin tiềm năng, cá nhân sẽ hình thành một nhận thức mơ hồ và phản ứng dựa trên kỳ vọng của mình về nguồn thông tin đó. Nếu họ cho rằng thông tin sẽ làm gia tăng bất hòa nhận thức, họ sẽ tránh tiếp xúc với nó. Nếu kỳ vọng đó không chính xác, nỗ lực giảm bất hòa nhận thức có thể vô tình làm gia tăng bất hòa nhận thức thay vì giảm nó. Điều này có thể dẫn đến trạng thái chủ động né tránh thông tin.

  • Sự hiện diện của mức độ bất hòa nhận thức rất cao

Khi hai yếu tố nhận thức tồn tại trong mối quan hệ bất hòa, mức độ bất hòa sẽ tỷ lệ với mức độ kháng cự đối với sự thay đổi. Nếu bất hòa nhận thức vượt quá mức kháng cự này, các yếu tố nhận thức ít bền vững hơn sẽ bị thay đổi nhằm giảm bất hòa nhận thức.

Khi bất hòa nhận thức tiến gần đến ngưỡng tối đa, cá nhân thậm chí có thể chủ động tìm kiếm và tiếp xúc với những thông tin làm gia tăng bất hòa nhận thức. Nếu bất hòa nhận thức được đẩy lên đến mức vượt quá khả năng kháng cự đối với thay đổi, cá nhân sẽ thay đổi các yếu tố nhận thức liên quan, từ đó làm giảm hoặc loại bỏ bất hòa nhận thức. Nói cách khác, khi bất hòa nhận thức đủ lớn, cá nhân có thể tự thúc đẩy bản thân thay đổi quan điểm hoặc niềm tin, qua đó xóa bỏ hoàn toàn trạng thái bất hòa nhận thức. (Festinger 1957, tr. 127–131)

Việc giảm bất hòa nhận thức sau khi đưa ra quyết định có thể đạt được bằng cách chủ động tìm kiếm các thông tin phù hợp với quyết định và tránh né các thông tin mâu thuẫn. Mục tiêu là giảm khoảng cách giữa các nhận thức, nhưng thuyết bất hòa nhận thức không chỉ rõ chiến lược nào sẽ được lựa chọn. Điều này phụ thuộc vào số lượng và chất lượng của các thông tin hiện có cả bên trong lẫn bên ngoài hệ thống nhận thức của cá nhân.[24]

Lý thuyết tiếp xúc có chọn lọc của Klapper

Vào đầu thập niên 1960, nhà nghiên cứu của Đại học Columbia Joseph T. Klapper đã lập luận trong cuốn The Effects of Mass Communication rằng công chúng không phải là những mục tiêu thụ động của tuyên truyền chính trịthương mại từ các phương tiện truyền thông đại chúng; thay vào đó, truyền thông đại chúng chủ yếu củng cố những niềm tin đã tồn tại từ trước. Trong suốt cuốn sách, ông cho rằng truyền thông chỉ có một mức độ ảnh hưởng hạn chế đối với con người và trong phần lớn trường hợp chỉ làm gia tăng sức mạnh của các thái độ và niềm tin sẵn có.

Ông lập luận rằng tác động của truyền thông trong việc truyền tải hoặc phổ biến những thông điệp và ý tưởng mới đến công chúng là tương đối nhỏ, bởi cá nhân có rất nhiều cách thức để sàng lọc nội dung truyền thông. Do xu hướng này, Klapper cho rằng nội dung truyền thông phải kích hoạt được một dạng hoạt động nhận thức nào đó ở cá nhân thì mới có thể truyền đạt hiệu quả thông điệp của mình.[27]

Trước nghiên cứu của Klapper, quan điểm phổ biến cho rằng truyền thông đại chúng có sức mạnh đáng kể trong việc định hướng dư luận và công chúng chỉ là những người tiếp nhận thụ động các thông điệp tuyên truyền của truyền thông. Tuy nhiên, vào thời điểm The Effects of Mass Communication được xuất bản, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng rất nhiều thông điệp được nhắm mục tiêu cụ thể hoàn toàn không đạt được hiệu quả như mong muốn.

Nghiên cứu của Klapper cho thấy con người có xu hướng tìm đến những thông điệp truyền thông củng cố các niềm tin đã được hình thành từ trước bởi nhóm bạn bè, môi trường xã hội và cấu trúc gia đình. Việc tiếp xúc lặp đi lặp lại với các thông điệp này theo thời gian không làm thay đổi những niềm tin đó, ngay cả khi xuất hiện những ảnh hưởng truyền thông mới hơn.

Klapper nhận định rằng, dựa trên tổng quan các nghiên cứu khoa học xã hội, trong bối cảnh truyền thông đại chúng cung cấp một lượng nội dung khổng lồ, công chúng có xu hướng lựa chọn những loại chương trình mà họ muốn tiếp nhận. Người trưởng thành thường tìm đến các nội dung phù hợp với đặc điểm nhân khẩu học của mình, trong khi trẻ em tránh xa những nội dung mà chúng cảm thấy nhàm chán. Do đó, cá nhân sẽ chấp nhận hoặc từ chối một thông điệp truyền thông đại chúng dựa trên những bộ lọc nội tại vốn có của mình.[27]

Sau đây là năm yếu tố và điều kiện trung gian mà Klapper cho rằng ảnh hưởng đến con người:[28]

  • Khuynh hướng sẵn có và các quá trình liên quan như tiếp xúc có chọn lọc, nhận thức có chọn lọc và ghi nhớ có chọn lọc.
  • Các nhóm xã hội và các chuẩn mực nhóm mà cá nhân thuộc về.
  • Sự lan truyền liên cá nhân của nội dung truyền thông.
  • Vai trò của thủ lĩnh dư luận.
  • Bản chất của truyền thông đại chúng trong một xã hội kinh tế thị trường tự do.

Ba khái niệm cơ bản:

  • Tiếp xúc có chọn lọc: Con người có xu hướng tránh xa những thông điệp mang quan điểm đối lập với mình.
  • Nhận thức có chọn lọc: Khi phải tiếp xúc với những nội dung không phù hợp với quan điểm của mình, con người hoặc không nhận thức đầy đủ về chúng, hoặc diễn giải chúng theo cách phù hợp với ý kiến sẵn có.
  • Ghi nhớ có chọn lọc Là quá trình phân loại và diễn giải thông tin theo cách ưu tiên một cách hiểu hoặc một nhóm thông tin nhất định hơn nhóm khác. Ngoài ra, con người cũng có xu hướng đơn giản là quên đi những nội dung không phù hợp với quan điểm của mình.

Các nhóm xã hội và chuẩn mực nhóm đóng vai trò như những biến trung gian. Ví dụ, một người có thể rất khó chuyển sang ủng hộ Đảng Dân chủ nếu gia đình họ đã bỏ phiếu cho Đảng Cộng hòa trong nhiều thế hệ. Trong trường hợp này, khuynh hướng chính trị của cá nhân đã được hình thành từ trước, khiến họ không tiếp nhận thông tin về Đảng Dân chủ hoặc không thay đổi hành vi bỏ phiếu chỉ vì tác động của truyền thông đại chúng.

Giả định thứ ba của Klapper liên quan đến sự lan truyền liên cá nhân của nội dung truyền thông đại chúng. Nếu một người đã bị ảnh hưởng bởi bạn bè thân thiết và hình thành khuynh hướng nhất định đối với một vấn đề, điều đó sẽ làm gia tăng mức độ tiếp xúc với các nội dung truyền thông đại chúng liên quan, từ đó tiếp tục củng cố quan điểm hiện có.

Vai trò của một thủ lĩnh dư luận cũng đặc biệt quan trọng trong việc hình thành khuynh hướng nhận thức của cá nhân và có thể dẫn dắt họ tiếp xúc với các nội dung truyền thông đại chúng nhất định. Cuối cùng, bản chất thương mại của truyền thông đại chúng cũng khiến công chúng lựa chọn một số loại nội dung truyền thông nhất định thay vì các loại khác.

Mô hình kinh tế nhận thức

Mô hình mới này kết hợp cả các quá trình động cơ và nhận thức của hiện tượng tiếp xúc có chọn lọc. Trước đây, tiếp xúc có chọn lọc chủ yếu được nghiên cứu từ góc độ động cơ. Chẳng hạn, người ta cho rằng hiện tượng này tồn tại vì con người có động cơ làm giảm mức độ bất hòa nhận thức mà họ cảm thấy khi gặp phải những thông tin không phù hợp với quan điểm của mình. Họ cũng có động cơ bảo vệ các quyết định và lập trường đã lựa chọn, do đó đạt được mục tiêu này bằng cách chỉ tiếp xúc với các thông tin phù hợp với niềm tin của bản thân.

Tuy nhiên, mô hình kinh tế nhận thức mới không chỉ xem xét các khía cạnh động cơ mà còn tập trung vào các quá trình nhận thức của từng cá nhân. Ví dụ, mô hình này cho rằng con người không thể đánh giá chất lượng của các thông tin trái ngược một cách hoàn toàn khách quan và công bằng, bởi họ có xu hướng lưu giữ nhiều thông tin phù hợp với quan điểm của mình hơn và sử dụng chúng làm điểm tham chiếu. Vì vậy, các thông tin không phù hợp thường bị xem xét dưới góc nhìn phê phán hơn so với các thông tin phù hợp.

Theo mô hình này, mức độ tiếp xúc có chọn lọc trong quá trình ra quyết định còn phụ thuộc vào lượng năng lượng nhận thức mà mỗi người sẵn sàng đầu tư. Cũng như con người thường thận trọng trong việc sử dụng tiền bạc, họ cũng thận trọng với năng lượng nhận thức của mình, tức là lượng thời gian và công sức mà họ sẵn sàng bỏ ra để đánh giá toàn bộ bằng chứng liên quan đến một quyết định. Mọi người thường ngần ngại sử dụng nguồn năng lượng này và có xu hướng tiết kiệm để tránh lãng phí.

Do đó, mô hình này cho rằng tiếp xúc có chọn lọc không diễn ra theo những giai đoạn tách biệt. Thay vào đó, đây là một quá trình kết hợp giữa các động cơ nhất định của cá nhân và cách họ quản lý nguồn năng lượng nhận thức của mình.[11]

Hệ quả

Truyền thông

Các cá nhân điều chỉnh lựa chọn truyền thông của mình nhằm tránh bất hòa nhận thức và sự không nhất quán về mặt tinh thần.

Các nghiên cứu gần đây đã đưa ra bằng chứng thực nghiệm cho thấy ảnh hưởng sâu rộng của hiện tượng tiếp xúc có chọn lọc đối với công chúng thông qua truyền thông đại chúng. Các nhà nghiên cứu phát hiện rằng người tiêu dùng truyền thông thường tìm kiếm những chương trình phù hợp với nhu cầu cảm xúc và nhận thức của riêng họ. Trong các giai đoạn khủng hoảng kinh tế gần đây, cá nhân có xu hướng tìm đến các hình thức truyền thông mang tính xoa dịu nhằm đáp ứng “nhu cầu giám sát mạnh mẽ”, giảm sự bất mãn kéo dài đối với hoàn cảnh sống và thỏa mãn nhu cầu về sự đồng hành.[29]

Người tiêu dùng có xu hướng lựa chọn những nội dung truyền thông thể hiện và củng cố các ý tưởng của bản thân, đồng thời tránh né những thông tin phản bác quan điểm của họ. Một nghiên cứu được thực hiện năm 2012 cho thấy dạng tiếp xúc có chọn lọc này cũng ảnh hưởng đến việc tiêu thụ nội dung khiêu dâm. Những cá nhân có mức độ hài lòng với cuộc sống thấp có khả năng tham gia các mối quan hệ tình dục ngẫu nhiên cao hơn sau khi tiếp xúc với nội dung khiêu dâm phù hợp với thái độ của họ, đồng thời bỏ qua những nội dung thách thức quan điểm vốn có của họ về các mối quan hệ “không ràng buộc”.[30]

Việc lựa chọn âm nhạc cũng chịu ảnh hưởng của tiếp xúc có chọn lọc. Một nghiên cứu năm 2014 do Christa L. Taylor và Ronald S. Friedman tại Đại học Bang New YorkAlbany thực hiện cho thấy sự phù hợp giữa tâm trạng và âm nhạc chịu tác động của khả năng tự điều chỉnh trong việc lựa chọn âm nhạc theo tâm trạng. Những người tham gia nghiên cứu chọn nhạc vui khi cảm thấy tức giận hoặc trung tính, nhưng lại nghe nhạc buồn khi chính họ đang buồn. Việc lựa chọn nhạc buồn trong trạng thái buồn không đơn thuần xuất phát từ sự phản chiếu tâm trạng, mà chủ yếu vì họ có xu hướng tránh nghe nhạc vui do loại nhạc này không phù hợp với trạng thái cảm xúc hiện tại của họ về mặt nhận thức.[31]

Chính trị có khả năng thúc đẩy hiện tượng tiếp xúc có chọn lọc mạnh hơn so với các quyết định tiếp xúc thông thường. Chẳng hạn, trong một phân tích tổng hợp về lý thuyết tiếp xúc có chọn lọc năm 2009, Hart và cộng sự báo cáo rằng: “Một cuộc khảo sát năm 2004 của Trung tâm Nghiên cứu Pew về Công chúng và Báo chí (2006) cho thấy những người theo Đảng Cộng hòa có khả năng báo cáo việc thường xuyên xem Fox News cao hơn khoảng 1,5 lần so với những người theo Đảng Dân chủ (34% so với 20%). Ngược lại, những người theo Đảng Dân chủ có khả năng báo cáo việc thường xuyên xem CNN cao hơn khoảng 1,5 lần so với những người theo Đảng Cộng hòa (28% so với 19%). Đáng chú ý hơn, người theo Đảng Cộng hòa có khả năng báo cáo việc thường xuyên xem The O'Reilly Factor cao gấp khoảng năm lần và thường xuyên nghe Rush Limbaugh cao gấp khoảng bảy lần so với người theo Đảng Dân chủ.”[32]

Do đó, khi quan điểm của những người Cộng hòa chỉ theo dõi các cơ quan truyền thông bảo thủ được so sánh với những người bảo thủ khác trong nghiên cứu của Stroud (2010), niềm tin của họ được đánh giá là mang tính phân cực mạnh hơn. Kết quả tương tự cũng được ghi nhận đối với nhóm có khuynh hướng tự do.[33]

Do xu hướng tiếp xúc có chọn lọc ngày càng mạnh, các chiến dịch chính trị hiện đại thường mang tính đảng phái và phân cực cao. Như Bennett và Iyengar (2008) nhận xét: “Môi trường thông tin mới, đa dạng hơn không chỉ khiến việc người tiêu dùng tìm kiếm những tin tức phù hợp với quan điểm của mình trở nên dễ dàng hơn mà còn tạo ra động lực kinh tế mạnh mẽ để các tổ chức tin tức phục vụ sở thích chính trị của khán giả.”[33] Vì vậy, tiếp xúc có chọn lọc đóng vai trò quan trọng trong việc định hình và củng cố thái độ chính trị của cá nhân.

Trong bối cảnh này, Stroud (2008) cho rằng: “Những phát hiện được trình bày ở đây ít nhất cũng nên khiến những người quan tâm đến vai trò phi thương mại của báo chí trong hệ thống dân chủ phải suy nghĩ, đặc biệt là vai trò cung cấp cho công chúng các công cụ để trở thành những công dân có trách nhiệm.” Vai trò của phát thanh – truyền hình công cộng, thông qua tính chất phi thương mại của nó, là cân bằng ảnh hưởng của các cơ quan truyền thông cố tình định hướng nội dung theo một khuynh hướng chính trị nhất định, từ đó hạn chế tiếp xúc có chọn lọc và sự chia rẽ chính trị trong nền dân chủ.

Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu học thuật về tiếp xúc có chọn lọc được thực hiện dựa trên hệ thống bầu cử và hệ thống truyền thông của Hoa Kỳ. Trái lại, ở những quốc gia có hệ thống phát thanh công cộng mạnh như nhiều nước châu Âu, mức độ tiếp xúc có chọn lọc dựa trên ý thức hệ hoặc đảng phái chính trị thường thấp hơn.[34] Chẳng hạn, tại Thụy Điển, trong suốt 30 năm nghiên cứu, không ghi nhận sự khác biệt đáng kể giữa cánh tả và cánh hữu trong mức độ tiếp xúc có chọn lọc đối với tin tức từ các cơ quan truyền thông công cộng.[35]

Truyền hình là phương tiện lan truyền hiện tượng tiếp xúc có chọn lọc phổ biến nhất trong xã hội hiện đại.

Trong các nghiên cứu ban đầu, tiếp xúc có chọn lọc được sử dụng để giải thích cho hiệu ứng hạn chế của truyền thông. Mô hình truyền thông “hiệu ứng hạn chế” xuất hiện vào những năm 1940 cùng với sự thay đổi trong cách nhìn nhận về tác động của truyền thông. Sự thay đổi này cho rằng mặc dù truyền thông có ảnh hưởng đến hành vi của người tiếp nhận, chẳng hạn như hành vi bỏ phiếu, nhưng những ảnh hưởng đó mang tính hạn chế và chịu tác động gián tiếp từ các cuộc thảo luận giữa các cá nhân cũng như ảnh hưởng của các thủ lĩnh dư luận. Tiếp xúc có chọn lọc được xem là một trong những cơ chế cần thiết trong các nghiên cứu ban đầu về quyền lực hạn chế của truyền thông đối với thái độ và hành vi của công dân.[36]

Quảng cáo chính trị cũng liên quan đến hiện tượng tiếp xúc có chọn lọc, bởi mọi người có xu hướng ủng hộ những chính trị gia có quan điểm phù hợp với niềm tin của bản thân. Một ảnh hưởng quan trọng khác của tiếp xúc có chọn lọc được Stroud (2010) chỉ ra khi phân tích mối quan hệ giữa tiếp xúc có chọn lọc theo khuynh hướng đảng phái và sự phân cực chính trị. Sử dụng dữ liệu từ Khảo sát Bầu cử Quốc gia Annenberg năm 2004, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng theo thời gian, việc tiếp xúc có chọn lọc theo đảng phái dẫn đến sự phân cực chính trị ngày càng gia tăng.[37][5]

Quá trình này hoàn toàn khả thi vì con người có thể dễ dàng tạo lập hoặc tiếp cận các blog, trang web, phòng trò chuyện và diễn đàn trực tuyến, nơi những người có cùng quan điểm và hệ tư tưởng chính trị tập hợp lại với nhau. Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các cuộc tương tác chính trị trên mạng có xu hướng mang tính phân cực. Bằng chứng bổ sung cho hiện tượng phân cực trong không gian blog chính trị được tìm thấy trong nghiên cứu của Lawrence và cộng sự (2010),[38] cho thấy mọi người có xu hướng đọc các blog củng cố niềm tin chính trị của họ hơn là những blog thách thức các niềm tin đó.

Theo cuốn Republic.com của Cass Sunstein, sự tồn tại của tiếp xúc có chọn lọc trên Internet tạo ra một môi trường nuôi dưỡng sự phân cực và cực đoan hóa chính trị. Nhờ khả năng tiếp cận dễ dàng với mạng xã hội và các nguồn tài nguyên trực tuyến khác, con người “có xu hướng giữ những quan điểm còn mạnh mẽ hơn cả những quan điểm ban đầu của mình; và khi những quan điểm đó mang tính tiêu cực, chúng sẽ dẫn đến sự thù ghét ngày càng gia tăng đối với những người có niềm tin trái ngược”.[39] Điều này cho thấy tiếp xúc có chọn lọc có thể ảnh hưởng đến niềm tin chính trị của cá nhân và từ đó tác động đến sự tham gia của họ trong hệ thống chính trị.

Một trong những cuộc tranh luận học thuật lớn liên quan đến khái niệm tiếp xúc có chọn lọc là liệu hiện tượng này có làm gia tăng việc tiếp xúc với các quan điểm đa dạng hay ngược lại, góp phần thúc đẩy sự phân cực. Scheufele và Nisbet (2012)[40] đã thảo luận về tác động của việc tiếp xúc với các quan điểm bất đồng đối với quyền công dân trong nền dân chủ.

Về lý tưởng, một cuộc thảo luận dân sự thực sự giữa các công dân phải là sự trao đổi hợp lý giữa những quan điểm khác biệt hoặc đối lập. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều người thường tránh né sự bất đồng vì họ không muốn đối mặt với những người có quan điểm hoàn toàn trái ngược với mình. Do đó, các tác giả đặt câu hỏi liệu việc tiếp xúc với thông tin không cùng quan điểm sẽ mang lại tác động tích cực hay tiêu cực đối với quyền công dân dân chủ.

Mặc dù các kết quả nghiên cứu về mức độ sẵn sàng tham gia vào các tiến trình chính trị khi gặp phải sự bất đồng vẫn còn trái chiều, các tác giả cho rằng vấn đề tính chọn lọc cần được nghiên cứu sâu hơn để xác định liệu môi trường truyền thông trực tuyến hiện nay có thực sự tạo điều kiện cho một diễn ngôn mang tính thảo luận và tranh luận dân chủ hay không.


Tham khảo

  1. ^ a b Hart, William; Albarracín, Dolores; Eagly, Alice H.; Brechan, Inge; Lindberg, Matthew J.; Merrill, Lisa (2009). "Feeling validated versus being correct: A meta-analysis of selective exposure to information". Psychological Bulletin. 135 (4): 555–588. doi:10.1037/a0015701. PMC 4797953. PMID 19586162.
  2. ^ Sullivan, Larry E., biên tập (2009). "Selective Exposure". The SAGE Glossary of the Social and Behavioral Sciences. SAGE Publications. tr. 465. ISBN 978-1-4129-5143-2.
  3. ^ a b Tsang, Stephanie Jean (ngày 4 tháng 5 năm 2019). "Cognitive Discrepancy, Dissonance, and Selective Exposure". Media Psychology. 22 (3): 394–417. doi:10.1080/15213269.2017.1282873. ISSN 1521-3269. S2CID 220378435.
  4. ^ Beauchamp, Anne S. (2005). "Cognitive equilibrium". Trong Salkind, Neil J. (biên tập). Encyclopedia of Human Development. SAGE Publications. tr. 281–282. ISBN 978-1-4522-6539-1.
  5. ^ a b Stroud, Natalie Jomini (2008). "Media Use and Political Predispositions: Revisiting the Concept of Selective Exposure". Political Behavior. 30 (3): 341–366. doi:10.1007/s11109-007-9050-9. S2CID 44007990.
  6. ^ Kastenmüller, Andreas; Greitemeyer, Tobias; Jonas, Eva; Fischer, Peter; Frey, Dieter (2010). "Selective exposure: The impact of collectivism and individualism". British Journal of Social Psychology. 49 (4): 745–763. doi:10.1348/014466609X478988. PMID 20100393. S2CID 21510878.
  7. ^ Kastenmüller, Andreas; Greitemeyer, Tobias; Zehl, Stefanie; Tattersall, Andrew J.; George, Helen; Frey, Dieter; Fischer, Peter (2014). "Leadership and Information Processing: The influence of transformational and transactional leadership on selective information search, evaluation, and conveying". Social Psychology. 45 (5): 357–370. doi:10.1027/1864-9335/a000177.
  8. ^ Sweeny, Kate; Melnyk, Darya; Miller, Wendi; Shepperd, James A. (2010). "Information avoidance: Who, what, when, and why". Review of General Psychology. 14 (4): 340–353. doi:10.1037/a0021288. S2CID 144896702.
  9. ^ a b Jonas, Eva; Schulz-Hardt, Stefan; Frey, Dieter; Thelen, Norman (2001). "Confirmation bias in sequential information search after preliminary decisions: An expansion of dissonance theoretical research on selective exposure to information". Journal of Personality and Social Psychology. 80 (4): 557–571. doi:10.1037/0022-3514.80.4.557. PMID 11316221. S2CID 15295254.
  10. ^ a b c d e Fischer, Peter; Fischer, Julia K.; Aydin, Nilüfer; Frey, Dieter (2010). "Physically Attractive Social Information Sources Lead to Increased Selective Exposure to Information". Basic and Applied Social Psychology. 32 (4): 340–347. doi:10.1080/01973533.2010.519208. S2CID 143133082.
  11. ^ a b Krueger, J. I. (Ed.). (2012). Social judgment and decision making. New York, NY: Psychology Press.
  12. ^ a b c d Fischer, Peter; Kastenmüller, Andreas; Greitemeyer, Tobias; Fischer, Julia; Frey, Dieter; Crelley, David (2011). "Threat and selective exposure: The moderating role of threat and decision context on confirmatory information search after decisions". Journal of Experimental Psychology: General. 140 (1): 51–62. doi:10.1037/a0021595. PMID 21171802.
  13. ^ a b Albarracin, D. (2004). "The Role of Defensive Confidence in Preference for Proattitudinal Information: How Believing That One Is Strong Can Sometimes Be a Defensive Weakness". Personality and Social Psychology Bulletin. 30 (12): 1565–1584. doi:10.1177/0146167204271180. PMC 4803283. PMID 15536240.
  14. ^ Bozo, Özlem; Tunca, Ayča; Šimšek, Yeliz (2009). "The Effect of Death Anxiety and Age on Health-Promoting Behaviors: A Terror-Management Theory Perspective". The Journal of Psychology. 143 (4): 377–389. doi:10.3200/JRLP.143.4.377-389. hdl:11511/48109. PMID 19606644. S2CID 9927722.
  15. ^ Van Dillen, Lotte F.; Papies, Esther K.; Hofmann, Wilhelm (2013). "Turning a blind eye to temptation: How cognitive load can facilitate self-regulation" (PDF). Journal of Personality and Social Psychology. 104 (3): 427–443. doi:10.1037/a0031262. PMID 23276276. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2016.
  16. ^ a b c Zajonc, R. B. (1990). "Obituary: Leon Festinger (1919–1989)". American Psychologist. 45 (5): 661–662. doi:10.1037/h0091620.
  17. ^ Donsbach, Wolfgang (2008). "Festinger, Leon". Trong Donsbach, Wolfgang (biên tập). The International Encyclopedia of Communication. Quyển 4. Blackwell. tr. 1801–1803. ISBN 978-1-4051-3199-5.
  18. ^ Bryant, Jennings; Davies, John (2008). "Selective Exposure". Trong Donsbach, Wolfgang (biên tập). The International Encyclopedia of Communication. Quyển 10. Blackwell. tr. 4544–4550. ISBN 978-1-4051-3199-5.
  19. ^ Fischer, Peter; Jonas, Eva; Frey, Dieter; Kastenmüller, Andreas (2008). "Selective exposure and decision framing: The impact of gain and loss framing on confirmatory information search after decisions" (PDF). Journal of Experimental Social Psychology. 44 (2): 312–320. doi:10.1016/j.jesp.2007.06.001.
  20. ^ Fischer, Peter; Lea, Stephen; Kastenmüller, Andreas; Greitemeyer, Tobias; Fischer, Julia; Frey, Dieter (2011). "The process of selective exposure: Why confirmatory information search weakens over time". Organizational Behavior and Human Decision Processes. 114 (1): 37–48. doi:10.1016/j.obhdp.2010.09.001. hdl:10871/17050.
  21. ^ Matsumoto, Takao (2014). "Connectionist interpretation of the association between cognitive dissonance and attention switching". Neural Networks. 60: 119–132. doi:10.1016/j.neunet.2014.08.002. PMID 25213757.
  22. ^ Fischer, Peter (2011). "Selective Exposure, Decision Uncertainty, and Cognitive Economy: A New Theoretical Perspective on Confirmatory Information Search". Social and Personality Psychology Compass. 5 (10): 751–762. doi:10.1111/j.1751-9004.2011.00386.x.
  23. ^ a b Smith, Steven M.; Fabrigar, Leandre R.; Norris, Meghan E. (2008). "Reflecting on Six Decades of Selective Exposure Research: Progress, Challenges, and Opportunities". Social and Personality Psychology Compass. 2 (1): 464–493. doi:10.1111/j.1751-9004.2007.00060.x.
  24. ^ a b Frey, D (1986). Recent research on selective exposure to information. Quyển 19. tr. 41–80. doi:10.1016/S0065-2601(08)60212-9. ISBN 978-0-12-015219-3. {{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua |journal= (trợ giúp)
  25. ^ Taber, Charles S.; Lodge, Milton (2006). "Motivated Skepticism in the Evaluation of Political Beliefs". American Journal of Political Science. 50 (3): 755–769. CiteSeerX 10.1.1.472.7064. doi:10.1111/j.1540-5907.2006.00214.x.
  26. ^ Knobloch-Westerwick, S.; Meng, Jingbo (ngày 16 tháng 3 năm 2009). "Looking the Other Way: Selective Exposure to Attitude-Consistent and Counterattitudinal Political Information". Communication Research. 36 (3): 426–448. doi:10.1177/0093650209333030. S2CID 26354296.
  27. ^ a b Heath, Robert L. (2004). "Reinforcement Theory". Trong Heath, Robert L. (biên tập). Encyclopedia of Public Relations. Quyển 2. SAGE Publications. tr. 738–740. ISBN 978-1-4522-6545-2.
  28. ^ Klapper, Joseph T. (1960). The effects of mass communication. Free Press. tr. 19. LCCN 60014402.
  29. ^ Kim, Jinhee; Kim, Jung-Hyun; Seo, Mihye (2014). "Toward a Person × Situation Model of Selective Exposure: Repressors, Sensitizers, and Choice of Online News on Financial Crisis". Journal of Media Psychology. 26 (2): 59–69. doi:10.1027/1864-1105/a000111.
  30. ^ Wright, Paul J. (2012). "A Longitudinal Analysis of US Adults' Pornography Exposure". Journal of Media Psychology. 24 (2): 67–76. doi:10.1027/1864-1105/a000063.
  31. ^ Taylor, Christa L.; Friedman, Ronald S. (2014). "Differential influence of sadness and disgust on music preference". Psychology of Popular Media Culture. 3 (4): 195–205. doi:10.1037/ppm0000045.
  32. ^ Hart, William; Albarracín, Dolores; Eagly, Alice H.; Brechan, Inge; Lindberg, Matthew J.; Merrill, Lisa (2009). "Feeling validated versus being correct: A meta-analysis of selective exposure to information" (PDF). Psychological Bulletin. 135 (4): 555–588. doi:10.1037/a0015701. PMC 4797953. PMID 19586162. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 11 năm 2014.
  33. ^ a b Perloff, R. M. (2013). Political persuasion. In James Price Dillard and Lijiang Shen (Eds.), The SAGE Handbook of Persuasion: Developments in Theory and Practice. Retrieved from the Gale Virtual Reference Library database.
  34. ^ Bos, Linda; Kruikemeier, Sanne; de Vreese, Claes (2016). "Nation Binding: How Public Service Broadcasting Mitigates Political Selective Exposure". PLOS ONE. 11 (5) e0155112. Bibcode:2016PLoSO..1155112B. doi:10.1371/journal.pone.0155112. PMC 4878755. PMID 27218659.
  35. ^ Dahlgren, Peter M. (2019). "Selective Exposure to Public Service News Over Thirty Years: The Role of Ideological Leaning, Party Support, and Political Interest". The International Journal of Press/Politics. 24 (3): 293–314. doi:10.1177/1940161219836223. S2CID 151113750.
  36. ^ Lazarsfeld, Paul Felix; Berelson, Bernard; Gaudet, Hazel (1948). The People's Choice: How the Voter Makes Up His Mind in a Presidential Campaign (ấn bản thứ 2). Columbia University Press. tr. 164. LCCN 48008605. OCLC 2168461.
  37. ^ Stroud, Natalie Jomini (2010). "Polarization and Partisan Selective Exposure". Journal of Communication. 60 (3): 556–576. doi:10.1111/j.1460-2466.2010.01497.x.
  38. ^ Lawrence, Eric; Sides, John; Farrell, Henry (2010). "Self-Segregation or Deliberation? Blog Readership, Participation, and Polarization in American Politics". Perspectives on Politics. 8 (1): 141. doi:10.1017/S1537592709992714.
  39. ^ Stavrositu, Carmen (2014). "Selective Exposure". In Harvey, Kerric (Ed.), Encyclopedia of Social Media and Politics. SAGE Publications. pp. 1117–1119. ISBN 978-1-4522-9026-3.
  40. ^ Scheufele, D.A; Nisbet, M. C. (2012). "Commentary—Online News and the Demise of Political Disagreement". Trong Salmon, Charles T. (biên tập). Communication Yearbook 36. Routledge. ISBN 978-0-415-52548-0.

Thư mục tài liệu