Sergey Pavlovich Korolyov
Bản mẫu:Infobox person Sergei Pavlovich Korolev[lower-alpha 1][lower-alpha 2] (Bản mẫu:OldStyleDateDYBản mẫu:Snd14 tháng 1 năm 1966) là một kỹ sư tên lửa và nhà thiết kế tàu vũ trụ người Liên Xô, người đã lãnh đạo sự phát triển của chương trình vũ trụ Liên Xô trong những năm đầu của cuộc Chạy đua vào không gian.
Korolev đã chỉ đạo phát triển tên lửa R-7 Semyorka, tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) đầu tiên trên thế giới và là nhà lãnh đạo của chương trình vũ trụ Liên Xô sử dụng các phiên bản sửa đổi của R-7 cho nhiều thành tựu nổi bật. Dưới sự lãnh đạo của ông, Liên Xô đã phóng Sputnik 1, vệ tinh nhân tạo đầu tiên; Laika, sinh vật đầu tiên bay vào quỹ đạo Trái Đất; Luna 2, vật thể nhân tạo đầu tiên tiếp cận một thiên thể khác; và Belka và Strelka, những sinh vật đầu tiên sống sót trở về sau chuyến bay vào quỹ đạo. Ông cũng chỉ đạo các sứ mệnh đưa Yuri Gagarin vào không gian trên tàu Vostok 1, đưa Gagarin trở thành người đầu tiên bay vào vũ trụ, và tạo điều kiện cho chuyến đi bộ ngoài không gian của Alexei Leonov trong sứ mệnh Voskhod 2, hoạt động ngoài không gian đầu tiên của con người.[2]
Ban đầu được đào tạo như một nhà thiết kế máy bay, Korolev đã trở thành nhân vật hàng đầu trong ngành chế tạo tên lửa của Liên Xô. Năm 1938, ông bị bắt trong thời kỳ Đại thanh trừng với những cáo buộc mà sau này được chứng minh là sai sự thật và phải trải qua gần sáu năm trong tù và các trại lao động cải tạo, bao gồm vài tháng ở Kolyma. Sau khi được trả tự do, ông trở lại công việc kỹ thuật và trở thành nhân vật trung tâm trong các chương trình ICBM và vũ trụ của Liên Xô. Sự ra đi của ông vào năm 1966 đã chấm dứt sự tham gia trực tiếp của ông vào các nỗ lực của Liên Xô nhằm đưa phi hành đoàn lên Mặt Trăng trước Hoa Kỳ.[2]
Trong suốt cuộc đời mình, Korolev chỉ được công khai với tên gọi glavny konstruktor (главный конструктор; Bản mẫu:Lit), một phần nhằm bảo vệ ông khỏi các âm mưu ám sát có thể xảy ra trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.[3] Ngay cả một số phi hành gia từng làm việc với ông cũng không biết tên ông.[2] Danh tính của ông chỉ được tiết lộ công khai sau khi ông qua đời vào năm 1966, khi vai trò của ông trong các thành tựu vũ trụ của Liên Xô trở nên nổi tiếng rộng rãi.[4]
Đầu đời
Korolev sinh ra tại thành phố Zhytomyr, thủ phủ của Volhynia thuộc Đế quốc Nga (nay thuộc Ukraine). Cha của ông, Pavel Yakovlevich Korolev, sinh ra tại Mogilev trong một gia đình có cha là người lính Nga và mẹ là người Belarus.[5][6][7][8]
Mẹ của ông, Maria Nikolaevna Koroleva (họ gốc Moskalenko/Bulanina), là con gái của một thương gia giàu có từ thành phố Nizhyn, mang trong mình dòng máu người Cossack Zaporozhia, Hy Lạp và Ba Lan.[7][9]
Cha ông chuyển đến Zhytomyr để làm giáo viên dạy tiếng Nga.[10] Ba năm sau khi Sergei ra đời, hai vợ chồng ly thân do những khó khăn về tài chính. Mặc dù sau đó Pavel có viết thư cho Maria xin được gặp con trai, Sergei lại được mẹ cho biết rằng cha ông được cho là đã chết. Sergei không bao giờ gặp lại cha mình sau khi gia đình tan vỡ, và Pavel qua đời vào năm 1929 trước khi con trai ông biết được sự thật.[11]
Korolev lớn lên ở Nizhyn,[4] dưới sự chăm sóc của ông bà ngoại: Nikolay Yakovlevich Moskalenko, một thương nhân thuộc Đoàn thứ hai, và Maria Matveevna Moskalenko (họ gốc Fursa), con gái của một lính Cossack địa phương. Mẹ của Korolev còn có một người chị gái tên Anna và hai người em trai là Yuri và Vasily. Maria Koroleva thường xuyên vắng nhà để tham dự các khóa học đại học dành cho phụ nữ ở Kiev, vì vậy Sergei thường ở một mình và lớn lên như một đứa trẻ cô đơn có ít bạn bè. Năm 1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ kéo theo tình trạng bất ổn xã hội ở khu vực Kiev. Không ai có thời gian dành cho cậu bé Korolev bảy tuổi trong giai đoạn này và ông được nhận xét là một đứa trẻ bướng bỉnh, kiên trì và thích tranh luận.[12] Korolev bắt đầu đọc sách từ khi còn nhỏ thông qua các tờ báo của ông ngoại, và giáo viên mầm non của ông nhận thấy ông có một trí nhớ tuyệt vời cùng năng khiếu về toán học, đọc và viết.[13] Mẹ ông ly hôn với Pavel vào năm 1915 và năm 1916 tái hôn với Grigory Mikhailovich Balanin, một kỹ sư điện từng học tập tại Đức nhưng phải theo học tại Đại học Bách khoa Kiev do bằng kỹ sư của Đức không được công nhận ở Nga. Grigory là một người cha dượng tuyệt vời, có ảnh hưởng tích cực đến tư cách đạo đức và thói quen học tập của Korolev.[12] Sau khi nhận công việc tại ngành đường sắt khu vực, Grigory đã chuyển gia đình đến Odessa[4] vào năm 1917, nơi họ cùng nhiều gia đình khác trải qua những gian khổ suốt những năm tháng biến động sau Cách mạng Nga và các cuộc tranh giành nội bộ kéo dài cho đến khi phe Bolshevik nắm quyền kiểm soát hoàn toàn vào năm 1920. Các trường học địa phương bị đóng cửa và cậu bé Korolev phải tiếp tục tự học ở nhà, nơi ông đã phải chịu đựng một đợt bệnh thương hàn trong đợt thiếu lương thực nghiêm trọng năm 1919.[4]
Giáo dục
Korolev đã nhận được sự đào tạo nghề về mộc và các môn văn hóa tại Trường Nghề Xây dựng Odessa (Stroyprofshkola Số 1). Sự thích thú từ một buổi triển lãm hàng không năm 1913 đã khơi dậy niềm đam mê của ông đối với kỹ thuật hàng không. Ông đã tự nghiên cứu lý thuyết bay và làm việc tại câu lạc bộ tàu lượn địa phương. Một phi đội thủy phi cơ quân sự khi đó đang đóng quân tại Odessa, và Korolev đã dành sự quan tâm đặc biệt đến các hoạt động của họ.[14]
Vào năm 1923, ông gia nhập Hội Hàng không và Hàng hải trên không Ukraine và Crimea (OAVUK). Ông có buổi học bay đầu tiên sau khi gia nhập phi đội thủy phi cơ Odessa và có nhiều cơ hội bay với tư cách là hành khách. Năm 1924, ông đã thiết kế một dự án tàu lượn chế tạo của OAVUK mang tên K-5 khi mới 17 tuổi.[15] Ông đã tập luyện thể dục dụng cụ trong một thời gian ngắn cho đến khi việc học tập bị ảnh hưởng. Korolev từng hy vọng được theo học tại Học viện Kỹ thuật Không quân Zhukovsky ở Moscow, nhưng ông không đáp ứng được các tiêu chuẩn của học viện. Ông theo học ngành hàng không tại Viện Bách khoa Kyiv vào năm 1924 trong thời gian sống cùng chú mình là Yuri, và kiếm tiền trang trải các khóa học bằng cách làm những công việc lặt vặt. Chương trình học của ông bao gồm các lớp kỹ thuật, vật lý và toán học. Ông đã gặp và phải lòng một bạn cùng lớp, Xenia Vincentini, người sau này trở thành người vợ đầu tiên của ông. Năm 1925, ông được nhận vào một lớp học giới hạn về chế tạo tàu lượn, và bị gãy hai xương sườn khi lái chiếc tàu lượn huấn luyện mà họ chế tạo. Ông tiếp tục các khóa học ở Kyiv cho đến khi được nhận vào Đại học Kỹ thuật Quốc gia Moskva Bauman (MVTU, BMSTU) vào tháng 7 năm 1926, với cố vấn là nhà thiết kế máy bay nổi tiếng Andrei Tupolev, người đang là giáo sư tại đây.[4][16]
Korolev đã nghiên cứu các chủ đề chuyên sâu về hàng không cho đến năm 1929, trong khi sống cùng gia đình trong điều kiện chật chội điển hình ở Moscow. Korolev tận hưởng các cơ hội điều khiển tàu lượn và máy bay có động cơ trong giai đoạn giáo dục này. Ông đã thiết kế một chiếc tàu lượn vào năm 1928 và lái nó trong một cuộc thi vào năm sau đó. Đảng Cộng sản đã đẩy nhanh quá trình đào tạo kỹ sư vào năm 1929 để đáp ứng nhu cầu cấp thiết về trình độ chuyên môn của họ đối với đất nước. Korolev đã nhận bằng tốt nghiệp bằng cách hoàn thành một bản thiết kế máy bay thực tế vào cuối năm đó.[17]
Sự nghiệp ban đầu
Sau khi tốt nghiệp, Korolev làm việc cùng một số nhà thiết kế giỏi nhất của Liên Xô tại Phòng Thiết kế Máy bay thuộc Bộ phận Thử nghiệm số 4 (OPO-4) do Paul Aimé Richard [fr] (người di cư từ Pháp sang Liên Xô vào những năm 1920) đứng đầu.[18] Ông không thực sự nổi bật trong nhóm này, nhưng trong thời gian làm việc tại đây, ông cũng độc lập thiết kế một tàu lượn có khả năng thực hiện các động tác nhào lộn trên không. Năm 1930, ông bắt đầu quan tâm đến khả năng sử dụng động cơ tên lửa nhiên liệu lỏng để đẩy máy bay, khi đang làm việc tại Viện Khí động thủy lực Trung ương (TsAGI) với tư cách là kỹ sư trưởng cho dự án máy bay ném bom hạng nặng Tupolev TB-3.[19] Korolev nhận bằng lái máy bay vào năm 1930 và đã khám phá các giới hạn hoạt động của những chiếc máy bay do ông điều khiển, tự hỏi điều gì nằm ngoài giới hạn độ cao của máy bay và làm thế nào ông có thể tới đó. Nhiều người tin rằng đây là khởi đầu cho niềm đam mê không gian của ông.[20]
Korolev kết hôn với Xenia Vincentini vào ngày 6 tháng 8 năm 1931. Ông từng cầu hôn bà lần đầu vào năm 1924, nhưng khi đó bà đã từ chối để có thể tiếp tục học lên cao. Năm 1931, Korolev cùng người đam mê du hành vũ trụ Friedrich Zander đã tham gia thành lập Nhóm Nghiên cứu Chuyển động Động lực (GIRD), một trong những trung tâm phát triển tên lửa sớm nhất do nhà nước tài trợ ở Liên Xô. Tại đây, ông đã gặp Mikhail Tikhonravov, một phi công tàu lượn kiêm kỹ sư hàng không vũ trụ, người sau này làm việc dưới quyền Korolev trong nhóm Sputnik.[21] Tháng 5 năm 1932, Korolev được bổ nhiệm làm người đứng đầu nhóm; và sự quan tâm từ phía quân đội đã thúc đẩy việc tài trợ cho các dự án của nhóm. Ngày 18 tháng 8 năm 1933, GIRD đã phóng quả tên lửa sử dụng nhiên liệu hỗn hợp đầu tiên, chiếc GIRD-09,[22] và vào ngày 25 tháng 11 năm 1933 là quả tên lửa nhiên liệu lỏng đầu tiên của Liên Xô, chiếc GIRD-X.[23]
Mối quan tâm ngày càng tăng của quân đội đối với công nghệ mới này đã khiến GIRD hợp nhất với Phòng Thí nghiệm Khí động lực (GDL) tại Leningrad vào năm 1933 để thành lập Viện Nghiên cứu Khoa học Phản lực (RNII), nơi quy tụ những tài năng tên lửa xuất sắc nhất của Liên Xô, bao gồm Korolev, Georgy Langemak, và cựu nhà thiết kế động cơ GDL Valentin Glushko.[24][25] Korolev được bổ nhiệm làm phó giám đốc dưới quyền Ivan Kleymyonov, tuy nhiên vào năm 1934, sau một bất đồng về định hướng của RNII, Korolev bị hạ chức xuống làm trưởng bộ phận tên lửa có cánh và người thay thế ông là Georgy Langemak.[24][lower-alpha 3] Korolev đã giám sát quá trình phát triển tên lửa hành trình và một chiếc tàu lượn chạy bằng động cơ tên lửa có người lái. Cuốn sách "Chuyến bay Tên lửa trong Tầng bình lưu" được Korolev xuất bản vào năm 1934.[26] Ngày 10 tháng 4 năm 1935, vợ của Korolev sinh con gái Natalya; và họ chuyển khỏi nhà cha mẹ Sergei để sang sống tại căn hộ riêng vào năm 1936. Cả Korolev và vợ đều có sự nghiệp riêng, và Sergei luôn dành nhiều giờ làm việc tại phòng thiết kế của mình.
Bị cầm tù
Cuộc Đại thanh trừng của Joseph Stalin đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho RNII, khi Giám đốc Kleymyonov và Kỹ sư trưởng Langemak bị bắt vào tháng 11 năm 1937, bị tra tấn, bị ép ký vào các bản tự thú man trá và bị hành quyết vào tháng 1 năm 1938. Glushko bị bắt vào tháng 3 năm 1938 và cùng nhiều kỹ sư hàng đầu khác bị giam giữ tại hệ thống Gulag. Korolev bị NKVD bắt giữ vào ngày 27 tháng 6 năm 1938 sau khi bị buộc nhiều tội danh khác nhau, bao gồm cả những lời buộc tội sai sự thật do Kleymyonov, Langemak và Glushko bị khai ra dưới áp lực. Ông bị tra tấn tại nhà tù Lubyanka nhằm ép cung. Glushko và Korolev được cho là đã bị Andrei Kostikov – người lên nắm quyền lãnh đạo RNII sau khi các cấp lãnh đạo bị bắt – tố giác.[27][25]
Korolev bị đưa vào tù, nơi ông đã viết nhiều đơn kháng án gửi tới các cấp thẩm quyền, bao gồm chính Stalin. Sau khi người đứng đầu NKVD là Nikolai Yezhov bị phế truất, tân lãnh đạo Lavrentiy Beria đã chọn xét xử lại Korolev với các tội danh giảm nhẹ vào năm 1939; nhưng vào thời điểm đó Korolev đang trên đường di chuyển từ nhà tù tới trại lao động cưỡng bức ở Kolyma thuộc vùng Viễn Đông Siberia, nơi ông đã trải qua nhiều tháng làm việc tại một mỏ vàng trước khi tin tức về phiên tòa xét xử lại đến được với ông. Điều kiện sống khốc liệt tại trại lao động do thiếu hụt lương thực, chỗ ở và quần áo đã cướp đi sinh mạng của hàng ngàn tù nhân mỗi tháng.[20] Korolev gặp phải nhiều chấn thương, bao gồm khả năng lên cơn đau tim[28] và rụng hầu hết răng do bệnh scorbut trước khi được đưa trở lại Moskva vào cuối năm 1939. Khi về đến Moskva, án phạt của Korolev được giảm xuống còn tám năm.[29] Tuy nhiên, nhờ sự can thiệp của người thầy cũ Andrei Tupolev, ông được chuyển tới một nhà tù dành cho các nhà khoa học và kỹ sư (sharashka) vào tháng 9 năm 1940.[30] Đây là các trại lao động nơi giới khoa học và kỹ sư thực hiện các dự án do lãnh đạo Đảng Cộng sản giao phó. Phòng Thiết kế Trung ương 29 (CKB-29, ЦКБ-29) thuộc NKVD đóng vai trò là cơ sở kỹ thuật của Tupolev, và Korolev được đưa đến đây làm việc. Trong Thế chiến II, sharashka này đã thiết kế các máy bay ném bom Tupolev Tu-2 và máy bay ném bom bổ nhào Petlyakov Pe-2. Nhóm nghiên cứu đã phải di chuyển nhiều lần trong chiến tranh, lần đầu tiên là nhằm tránh bị quân Đức đang tiến quân bắt giữ. Korolev được chuyển đến sharashka thuộc OKB-16 ở Kazan dưới quyền Glushko vào năm 1942. Korolev và Glushko đã thiết kế động cơ tên lửa phụ trợ RD-1 KhZ[31] từng được thử nghiệm thất bại trên mẫu máy bay leo cao nhanh Lavochkin La-7R. Korolev bị cách ly khỏi gia đình cho đến ngày 27 tháng 6 năm 1944, khi ôngBản mẫu:Em dashcùng với Tupolev, Glushko và những người khácBản mẫu:Em dashcuối cùng được trả tự do theo sắc lệnh đặc biệt của chính phủ, mặc dù các cáo buộc chống lại ông mãi đến năm 1957 mới được hủy bỏ.[32]
Korolev hiếm khi nhắc về khoảng thời gian bị giam giữ tại Gulag, và luôn sống trong nỗi sợ hãi bị xử tử vì những bí mật quân sự mà ông nắm giữ. Khoảng thời gian ở trong trại đã ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý, khiến ông trở nên trầm lặng và cẩn trọng. Sau này ông mới biết Glushko chính là một trong những người tố giác mình, và đây có thể là nguyên nhân dẫn đến sự hằn học kéo dài suốt đời giữa hai người. Phòng thiết kế sau đó được chuyển giao từ sự quản lý của NKVD sang Ủy ban Công nghiệp Hàng không Quốc gia. Korolev tiếp tục công tác tại phòng thiết kế thêm một năm dưới vai trò phó thiết kế trưởng dưới quyền Glushko và tiến hành nghiên cứu nhiều thiết kế tên lửa khác nhau.[33]
Tên lửa đạn đạo
Korolev gia nhập Hồng quân vào năm 1945 với quân hàm đại tá; huân chương đâu tiên mà ông được nhận là Huân chương Danh dự, được trao vào năm 1945 vì công sức của ông trong việc phát triển động cơ tên lửa cho máy bay quân sự. Vào ngày 8 tháng 9 năm 1945, Korolev được đưa tới Đức với nhiều chuyên gia khác để tập trung và nghiên cứu công nghệ tên lửa V-2 của Đức Quốc xã.[20] Liên Xô đã làm việc với các chuyên gia Đức nhằm hiểu và sao chép công nghệ tên lửa, với ưu tiên tái tạo lại được toàn bộ tên lửa V-2. Vào tháng 2 năm 1946, Viện nghiên cứu Nordhausen được thành lập, với Korolev làm tổng công trình sư, Glusko làm trưởng bộ phận lắp ráp động cơ và hệ thống đẩy và nhà khoa học Đức Helmut Gröttrup, người trước đó đã làm việc Wernher von Braun làm Tổng Giám đốc.[34] Công việc được tiếp tục tại Đông Đức cho đến cuối năm 1946, khi hơn 2.000 nhà khoa học Đức được đưa sang Liên Xô trong chiến dịch Osoaviakhim. Phần lớn chuyên gia Đức, với Gröttrup là một ngoại lệ, chưa từng làm việc trực tiếp với Wernher von Braun. Nhiều nhà khoa học tên lửa hàng đầu của Đức bao gồm tiến sĩ von Braun, đã đầu hàng quân Mỹ và được đưa tới mỹ trong chiến dịch Paperclip.[35]
Stalin đưa việc phát triển tên lửa thành ưu tiên quốc gia khi kí sắc lệnh vào ngày 13 tháng 5 năm 1946,[20] và một viện nghiên cứu mới là Viện nghiên cứu Khoa học số 88 (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). - NII-88) được tạo ra nhằm phục vụ mục đích đó tại ngoại ô Moscow. Việc phát triển tên lửa đạn đạo được đặt dưới quyền điều hành của Dmitriy Ustinov thông qua một sắc lệnh kí bởi Stalin, và Ustinov chỉ định Korolev làm thiết kế trưởng cho tên lửa tầm xa tại tại Cục số 3 trực thuộc NII-88.[36] Trong thời kì này, Korolev đã thể hiện khả năng quản lí và tổ chức bằng cách thành lập "Hội đồng Tổng công trình sư", giúp lách qua được sự quản lí quan liệu của ngành công nghiệp tên lửa Liên Xô. Nhóm này về sau cũng nắm quyền kiểm soát kĩ thuật với chương trình vũ trụ non trẻ của đất nước này.[37]
Korolev trở về từ Đức vào tháng 2 năm 1947 và đảm nhận nhiệm vụ Tổng công trình sư kiêm Cục trưởng Cục số 3 của NII-88, với nhiệm vụ ban đầu là sao chép V-2. Phía Liên Xô chỉ thu gom đủ linh kiện để lắp ráp khoảng một tá tên lửa V-2, vì vậy họ quyết định chế tạo một phiên bản riêng của Liên Xô với tên gọi R-1. Ban đầu Korolev phản đối quyết định này vì cho rằng việc đó làm mất thời gian và họ nên chuyển ngay sang sản xuất một phiên bản cải tiến hơn mang tên R-2. Tuy nhiên, ý kiến của Korolev bị bác bỏ và ông được lệnh phải lắp ráp số tên lửa V-2 hiện có để thử nghiệm bay, sau đó mới chế tạo R-1 bằng cơ sở hạ tầng và vật liệu của Liên Xô. NII-88 cũng tiếp nhận hơn 170 chuyên gia ĐứcBản mẫu:Sndbao gồm Helmut Gröttrup và Fritz Karl PreikschatBản mẫu:Sndvới khoảng một nửa số đó làm việc tại Chi nhánh 1 của NII-88 trên đảo Gorodomlya thuộc hồ Seliger, cách Moskva khoảng 200 kilômét (120 mi). Người Đức đã hỗ trợ rất nhiều cho các nỗ lực của Liên Xô, đặc biệt là trong việc lắp ráp V-2 và tạo ra R-1.[38]
Các đợt thử nghiệm tên lửa V-2 đầu tiên của Liên Xô diễn ra vào tháng 10 năm 1947 tại Kapustin Yar, do Korolev làm trưởng ban quản lý dự án. Nhiều kỹ sư Đức cũng tham gia vào các cuộc thử nghiệm này. Tổng cộng có 11 quả tên lửa V-2 được phóng, trong đó có 5 quả trúng mục tiêu chỉ định.[39][40] Tháng 9 năm 1948, đợt thử nghiệm R-1 bắt đầu tại Kapustin Yar, nơi Korolev là thành viên chính thức của "Ủy ban Nhà nước về thử nghiệm R-1". Không có người Đức nào tham gia vào các cuộc thử nghiệm này, nơi có 9 quả tên lửa đã được phóng từ tháng 9 đến tháng 11 năm 1948.[41]
Korolev tiếp tục vận động cho việc thiết kế và chế tạo R-2, bao gồm cả cuộc gặp với Stalin vào tháng 4 năm 1947, nhưng vấp phải sự cạnh tranh với từ phía Đức với tên lửa có tên là G-1. Mặc dù đề xuất của Đức ban đầu nhận được sự ủng hộ từ giới lãnh đạo Liên Xô, Korolev đã phản đối việc sử dụng các chuyên gia Đức vì lý do cá nhân và hầu như phớt lờ các gợi ý cũng như lời khuyên của họ. Do những lo ngại về chính trị và an ninh, các chuyên gia Đức không được phép biết hoặc tiếp cận bất kỳ thiết kế tên lửa nào của Liên Xô[42] và đến tháng 12 năm 1948, công việc dựa trên đề xuất G-1 đã bị chấm dứt.[43] Bộ Quốc phòng quyết định giải tán nhóm nghiên cứu người Đức vào năm 1950 và đã đưa các kỹ sư Đức cùng gia đình họ hồi hương trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 1951 đến tháng 11 năm 1953.[44]
Tháng 4 năm 1948, "công tác khoa học và thực nghiệm" chính thức được phê duyệt, tạo tiền đề cho sự ra đời của R-2. Tên lửa R-2 đã tăng gấp đôi tầm bắn so với V-2 và là thiết kế đầu tiên sử dụng đầu đạn tách rời. Tiếp theo đó là R-3, dòng tên lửa có tầm bắn 3.000 kilômét (1.900 mi), đủ sức vươn tới nước Anh.[45]
Glushko không thể chế tạo được động cơ đủ mạnh cho R-3, khiến dự án bị hủy bỏ vào năm 1952. Korolev gia nhập Đảng Cộng sản Liên Xô vào năm đó để xin ngân sách chính phủ cho các dự án tương lai, bao gồm R-5 với tầm bắn khiêm tốn hơn là 1.200 kilômét (750 mi). Nó hoàn thành chuyến bay thử nghiệm thành công đầu tiên vào năm 1953. Tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) đích thực đầu tiên trên thế giới chính là R-7 Semyorka. Đây là loại tên lửa hai tầng với tải trọng tối đa 5,4 tấn, đủ để mang quả bom hạt nhân cồng kềnh của Liên Xô đi một khoảng cách ấn tượng lên tới 7.000 kilômét (4.300 mi). Trong mùa hè năm 1957, cả ba lần phóng đầu tiên của R-7 đều thất bại, khiến Korolev và các đồng nghiệp rơi vào khủng hoảng tinh thần nghiêm trọng. Thất bại này cũng đe dọa đến vị trí của ông lẫn ước mơ dùng R-7 để phóng vệ tinh nhân tạo trong tương lai. Đợt thử nghiệm thứ tư diễn ra vào ngày 21 tháng 8 năm 1957 cuối cùng đã đưa được một đầu đạn giả tới bán đảo Kamchatka. Hãng thông tấn Liên Xô TASS đưa bản tin ngắn về thành công của ICBM, nhưng phần lớn công chúng và truyền thông Mỹ đều phớt lờ hoặc hoài nghi. Nhờ thành công của Korolev với R-7 và việc Liên Xô chế tạo thành công ICBM trước Mỹ, ông đã được toàn thể Liên Xô công nhận, dù danh tính của ông vẫn được giữ bí mật. Tuy nhiên, bất chấp thành công ban đầu của R-7, nó vẫn gặp phải những thất bại về sau do không được thiết kế để trở thành một loại vũ khí có tính thực tiễn cao.[20] Ngày 19 tháng 4 năm 1957, Korolev chính thức được tuyên bố "phục hồi nhân phẩm" hoàn toàn, sau khi chính phủ công nhận án phạt dành cho ông trước đây là bất công.[46][4]
Chương trình vũ trụ
Korolev hoàn toàn nhận thức được khả năng đưa vật thể vào quỹ đạo trái đất của các tên lửa được thiết kế cho vai trò tên lửa đạn đạo liên lục địa, điều này cũng được Tikhonravov lúc ấy đang làm việc tại NII-4 nhận ra.[21] Vào ngày 26 tháng 5 năm 1954, sáu ngày sau khi được giao chỉ đạo dự án tên lửa đạn đạo R-7On 26 May 1954, Korolev đề xuất giải pháp sử dụng R-7 để phóng vệ tinh vào vũ trụ,trích dẫn một báo cáo kĩ thuật từ Tikhonravov và nói rằng người Mỹ cũng đang sử dụng giải pháp tương tự.[20] Sau khi nhận được sự ủng hộ không mấy nhiệt tình từ giới lãnh đạo Liên Xô, Korolev bắt đầu triển khai một dự án nghiên cứu vệ tinh quy mô nhỏ phối hợp cùng Tikhonravov.[21] Để đẩy mạnh các nỗ lực vận động hành lang, Korolev cùng các kỹ sư có chung ý tưởng đã bắt đầu viết nhiều bài báo có tính chất dự đoán cho các tờ báo Liên Xô về các chuyến bay vào vũ trụ. Báo chí Mỹ và CIA đã chú ý đến các bài viết này, từ đó tác động tới chính quyền Mỹ để họ khởi động chương trình vệ tinh của riêng mình. Ngày 29 tháng 7 năm 1955, chính quyền Eisenhower tuyên bố ý định của Hoa Kỳ về việc phóng "các vệ tinh nhỏ quay quanh Trái Đất" phục vụ cho Năm Địa vật lý Quốc tế.[21] Trong khi Chính phủ Mỹ còn đang tranh luận về việc chi hàng triệu đô la cho ý tưởng này, Korolev đã nhấn mạnh với cấp trên về uy tín quốc tế nếu Liên Xô phóng vệ tinh trước nước Mỹ. Ngày 5 tháng 8, ông gửi thêm một đề xuất khác kèm theo các bài báo Mỹ viết về chương trình của họ. Ba ngày sau, giới lãnh đạo Liên Xô chính thức phê duyệt kế hoạch của ông.[47][48] Ngày 30 tháng 8, Korolev họp với các đại diện thuộc giới quốc phòng và khoa học Liên Xô. Kết quả là ông được phép dùng tên lửa R-7 để phóng vệ tinh, đồng thời dự án của ông cũng nhận được sự hỗ trợ từ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Ngày 30 tháng 1 năm 1956, Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã chính thức phê duyệt dự án vệ tinh trong sắc lệnh số 149-88ss.[21]
Kế hoạch ban đầu của vệ tinh là xây dựng một phòng thí nghiệm khoa học phức tạp.[21] Mang mật danh "Object D", đây sẽ là loại tải trọng thứ năm được thiết kế cho tên lửa R-7.[49][50] Bất chấp các nghiên cứu trước đó của Tikhonravov, phần lớn thiết kế của nó - như thiết bị chịu áp suất, hệ thống liên lạc tầm xa, các công tắc tự động và cấu trúc kim loại hoạt động ngoài không gian - đều hầu như chưa có tiền lệ. Đến giữa năm 1956, Korolev hoàn tất việc chỉnh sửa tên lửa R-7 phục vụ cho việc phóng vệ tinh, nhưng toàn bộ dự án lại bị chậm tiến độ. Ông lo sợ Hoa Kỳ sẽ phóng vệ tinh trước mình. Nỗi lo này càng tăng lên khi có thông tin về Dự án Vanguard của Mỹ và một đợt phóng tên lửa bí mật vào năm 1956 tại Căn cứ Không quân Patrick, Florida. Trong khi đó, việc thử nghiệm động cơ tên lửa R-7 cho thấy xung lực riêng của nó thấp hơn dự kiến, không đủ đáp ứng thông số kỹ thuật của Object D. Korolev đã gửi một kế hoạch điều chỉnh, đề xuất một loại tải trọng đơn giản hơn nặng khoảng 100 kilôgam. Kế hoạch được phê duyệt vào ngày 25 tháng 1 năm 1957 với tên gọi 'Object PS'.[21]
Dù đã thực hiện thành công một chuyến bay thử nghiệm tên lửa R-7, Korolev vẫn gặp phải sự phản đối từ một số quan chức đối với kế hoạch phóng vệ tinh của mình. Tháng 8 năm 1957, ông đề xuất để Ban Chấp hành Trung ương ra quyết định cuối cùng. Vì không ai muốn mạo hiểm để mất thế tiên phong vào tay Hoa Kỳ, đợt phóng vệ tinh của Korolev rốt cuộc đã được chấp thuận. Tháng 9, chuyến bay thành công thứ hai của R-7 được thực hiện, và ngày 6 tháng 10 được ấn định là ngày dự kiến phóng PS-1 - vệ tinh đầu tiên thuộc dòng Object PS.[21]
Nhà thiết kế chính của Object PS là Mikhail S. Khomyakov, và phó thiết kế là Oleg G. Ivanovskiy.[21] Vệ tinh được nhóm của Tikhonravov chế tạo trong chưa đầy một tháng,[47] trong khi Korolev trực tiếp giám sát quá trình lắp ráp với tiến độ dồn dập. Vệ tinh chỉ là một quả cầu kim loại sáng bóng đơn giản không lớn hơn quả bóng bãi biển, chứa pin cấp nguồn cho một máy phát tín hiệu kết nối với bốn ăng-ten liên lạc bên ngoài. Korolev quyết định đẩy lịch phóng sớm hơn hai ngày vì lo ngại phía Mỹ sẽ phóng trước họ.[21] PS-1 được phóng thành công vào không gian vào ngày 4 tháng 10 năm 1957 với tên gọi Sputnik 1, trở thành vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Trái Đất.[4]
Vì lý do an ninh, danh tính của những nhân vật chủ chốt trong chương trình vũ trụ Liên Xô được giữ bí mật. Tuy nhiên, họ vẫn được phép chuẩn bị một bản báo cáo chi tiết về thiết kế và cấu tạo của Sputnik 1 để đăng ẩn danh trên báo Pravda vào ngày 9 tháng 10. Korolev cũng bắt đầu viết các bài báo khác dưới bút danh "Giáo sư K. Sergeyev".[21]
Chính quyền Liên Xô ban đầu tỏ ra khá kín tiếng trước thành công của đợt phóng. Mặc dù vậy, phản ứng của quốc tế lại vô cùng bùng nổ và chấn động - điều mà người Liên Xô về sau đã tận dụng triệt để.[21] Hệ quả chính trị từ thành tựu này kéo dài suốt nhiều thập kỷ. Nikita Khrushchev - người ban đầu vốn thờ ơ với ý tưởng về một đợt phóng tên lửa khác của Korolev, đã rất hài lòng với thành công này sau khi nó nhận được sự công nhận rộng rãi trên toàn cầu. Ông đã khuyến khích phóng một vệ tinh phức tạp hơn chỉ chưa đầy một tháng sau đó, kịp thời điểm kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười vào ngày 3 tháng 11.[20]
Korolev và cộng sự thân thiết Mstislav Keldysh muốn nâng tầm bằng việc đề xuất chế tạo vệ tinh thứ hai lớn hơn và đưa một con chó lên quỹ đạo. Ý tưởng này ngay lập tức thu hút sự chú ý của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô.[20] Con tàu vũ trụ mới mang tên Sputnik 2 này có khối lượng gấp sáu lần Sputnik 1 và mang theo con chó Laika làm tải trọng. Toàn bộ con tàu được thiết kế lại từ đầu chỉ trong vòng bốn tuần mà không có thời gian thử nghiệm hay kiểm tra chất lượng. Nó được phóng thành công vào ngày 3 tháng 11 và đưa Laika vào quỹ đạo. Vì không có cơ chế đưa con chó trở lại Trái Đất, Laika đã kiệt sức và chết vì quá nhiệt sau năm giờ ngoài không gian.[51]
Đến ngày 15 tháng 5 năm 1958, Sputnik 3 mới được phóng thành công vào quỹ đạo. Dù vậy, máy ghi băng dùng để lưu dữ liệu lại hỏng ngay sau khi phóng. Kết quả là việc phát hiện và lập bản đồ các vành đai bức xạ Van Allen đã thuộc về các vệ tinh [52] Explorer 3[53] và Pioneer 3. Dẫu sao, Sputnik 3 cũng đã xua tan mọi hoài nghi của chính phủ Mỹ về năng lực phát triển ICBM của Liên Xô.
Mặt Trăng
Trước khi phóng Sputnik 1, Korolev đã hứng thú với việc bay đến Mặt Trăng. Ông nảy ra ý tưởng chỉnh sửa một phiên bản của R-7 để đưa vật thể lên Mặt Trăng. Tuy nhiên, phải đến năm 1958 thì ý tưởng này mới được chấp thuận, sau khi Korolev viết một bức thư để giải thích rằng ông có thể bay tới Mặt Trăng với các công nghệ hiện có.[20] Một phiên bản tên lửa đẩy R-7 được sử dụng với tầng đây trên mới. Động cơ cho tầng đẩy cuối cùng này là loại đầu tiên được thiết kế để kích hỏa trong không gian. Mechta là từ tiếng Nga để mang nghĩa "Giấc mơ", và đây là tên gọi mà Korolev đặt cho tàu thăm dò mặt trăng của ông. Trên giấy tờ chính thức, Liên Xô đặt tên cho chúng là Luna.[20] Ba tàu thăm dò đầu tiên đều thất bại, một phần do áp lực chính trị buộc các đợt phóng phải diễn ra vội vã khi ngân sách thử nghiệm và hoàn thiện phần cứng chưa đủ. Korolev cho rằng tranh đấu chính trị nội bộ ở Moskva là nguyên nhân khiến chương trình thiếu kinh phí, dù chương trình vũ trụ của Mỹ ở giai đoạn đầu này cũng có thành tích phóng chẳng mấy tự hào. Có lần, khi bị ép phải đánh bại Mỹ trong việc phóng tàu thăm dò Mặt Trăng, Korolev đã bức xúc thốt lên: "Các người nghĩ chỉ có tên lửa của Mỹ mới bị nổ chắc!?"[20] Sứ mệnh Luna 1 vào ngày 2 tháng 1 năm 1959 được kỳ vọng sẽ va chạm với bề mặt Mặt Trăng, nhưng lại bay chệch khoảng 6.000 kilômét (3.700 mi). Dù vậy, con tàu này vẫn trở thành vật thể đầu tiên đạt được vận tốc vũ trụ cấp 2 (vận tốc thoát), vật thể đầu tiên tiếp cận gần Mặt Trăng, cũng như vật thể nhân tạo đầu tiên bay quanh Mặt Trời.[20] Một nỗ lực tiếp theo (Luna E-1A No.1) bị thất bại ngay lúc phóng, nhưng sau đó Luna 2 đã va chạm thành công xuống bề mặt Mặt Trăng vào ngày 14 tháng 9 năm 1959, mang về cho người Liên Xô một cột mốc đầu tiên khác. Chỉ một tháng sau, một thành công lớn hơn nữa đã đến với Luna 3. Được phóng chỉ hai năm sau Sputnik 1, vào ngày 7 tháng 10 năm 1959, nó đã trở thành tàu vũ trụ đầu tiên chụp ảnh được mặt sau của Mặt Trăng - vùng không gian mà con người trên Trái Đất chưa từng được nhìn thấy trước đó.[20]
Các sứ mệnh Luna tiếp theo được thiết kế để thực hiện cú hạ cánh thành công xuống Mặt Trăng, nhưng Korolev đã không kịp chứng kiến thành công này. Luna 4 và Luna 6 đều bay trượt mục tiêu; trong khi Luna 5, Luna 7 và Luna 8 đều bị đâm nát xuống bề mặt Mặt Trăng. Phải sau khi Korolev qua đời, Liên Xô mới chính thức thực hiện thành công cú hạ cánh xuống Mặt Trăng nhờ con tàu Luna 9.[20]
Vào giai đoạn cuối đời, Korolev đã làm việc trong các dự án tiến tới Sao Hỏa và Sao Kim, thậm chí đã chuẩn bị sẵn các tàu vũ trụ để tiếp cận cả hai hành tinh này. Hoa Kỳ cũng đang nỗ lực vươn tới các hành tinh đó, tạo nên một cuộc đua xem ai sẽ thành công trước. Hai tàu thăm dò Sao Hỏa đầu tiên của Korolev gặp sự cố động cơ, và cả năm tàu thăm dò mà Liên Xô phóng với hy vọng tiếp cận Sao Kim trong khoảng thời gian từ năm 1961 đến 1962 đều thất bại. Bản thân Korolev là người trực tiếp giám sát tất cả các đợt phóng này.[20]
Ngày 1 tháng 11 năm 1962, Liên Xô phóng thành công Mars 1 và dù bị mất liên lạc, đây vẫn là con tàu đầu tiên hoàn thành chuyến bay lướt qua Sao Hỏa. Sau đó, Liên Xô phóng Venera 3 - con tàu đầu tiên va chạm xuống bề mặt Sao Kim. Phải tới sau khi Korolev qua đời, Liên Xô mới đưa được vật thể va chạm xuống Sao Hỏa.[20]
Nhóm của Korolev cũng nghiên cứu các chương trình giàu tham vọng khác như các sứ mệnh tới Sao Hỏa và Sao Kim, đưa con người lên quỹ đạo, phóng vệ tinh liên lạc, vệ tinh trinh sát và vệ tinh thời tiết, cũng như thực hiện hạ cánh mềm xuống Mặt Trăng.[54] Một trung tâm liên lạc vô tuyến cũng đã được xây dựng tại bán đảo Krym, gần Simferopol và Yevpatoria để điều khiển các tàu vũ trụ.[55] Nhiều dự án trong số này đã không thể hoàn thành khi ông còn sống, và không có tàu thăm dò hành tinh nào thực hiện trọn vẹn một sứ mệnh thành công cho tới sau khi ông qua đời.
Chuyến bay vũ trụ có người lái
Mặc dù đã ấp ủ ý tưởng từ năm 1948, các kế hoạch của Korolev cho một sứ mệnh có người lái mới chính thức bắt đầu vào năm 1958 với các nghiên cứu thiết kế cho con tàu Vostok trong tương lai. Con tàu được thiết kế để chở một phi hành gia duy nhất mặc bộ đồ phi hành gia và hoạt động hoàn toàn tự động. Không giống như hệ thống oxy nguyên chất của Mỹ, bộ đồ không hành của Liên Xô chứa 80% nitơ và chỉ có 20% oxy. Tàu có cơ chế thoát hiểm khẩn cấp phòng sự cố trước khi phóng, cùng hệ thống hạ cánh và ghế phóng thoát hiểm trong quá trình trở về Trái Đất. Con tàu dạng hình cầu giống như thiết kế của Sputnik, và Korolev giải thích lý do cho lựa chọn này là "hình cầu sẽ ổn định hơn về mặt động lực học". Bắt đầu từ dự án Vostok, Konstantin Feoktistov đã được Korolev trực tiếp chiêu mộ để trở thành nhà thiết kế chính cho các phương tiện bay vũ trụ có người lái.[20]
Ngày 15 tháng 5 năm 1960, một mẫu thử nghiệm không người lái đã thực hiện 64 vòng quay quanh Trái Đất, nhưng thao tác trở lại khí quyển đã thất bại. Ngày 28 tháng 7 năm 1960, hai chú chó mang tên Chaika và Lishichka được phóng vào không gian, nhưng sứ mệnh bất thành khi một vụ nổ đã cướp đi đời sống của hai con vật. Tuy nhiên, vào ngày 19 tháng 8, Liên Xô trở thành quốc gia đầu tiên thu hồi thành công các sinh vật sống trở về Trái Đất an toàn. Hai chú chó Belka và Strelka đã được phóng thành công vào không gian trên tàu Vostok và hoàn thành 18 vòng quỹ đạo.[20] Sau đó, Liên Xô tiếp tục đưa tổng cộng 6 chú chó vào vũ trụ - hai đợt đi theo cặp và hai đợt đi kèm với mô hình người giả. Đáng tiếc là không phải sứ mệnh nào cũng thành công. Sau khi nhận được sự phê duyệt từ chính phủ, một phiên bản cải tiến của tên lửa R-7 do Korolev thiết kế đã được sử dụng để đưa Yuri Alexeevich Gagarin vào quỹ đạo vào ngày 12 tháng 4 năm 1961, trước khi Hoa Kỳ kịp đưa Alan Shepard vào vũ trụ.[20] Korolev đóng vai trò là điều phối viên cabin và có thể nói chuyện trực tiếp với Gagarin khi ông đang ở bên trong con tàu.[4] Con người đầu tiên bay vào vũ trụ và quay quanh quỹ đạo Trái Đất đã trở về an toàn bằng dù sau khi tiếp đất nhảy ghế phóng ở độ cao 7 kilômét (23.000 ft).[56] Tiếp nối thành công của Gagarin là các chuyến bay Vostok khác, đỉnh điểm là 81 vòng quỹ đạo của Vostok 5[57] và đợt phóng Valentina Tereshkova, nữ phi hành gia đầu tiên trên thế giới bay vào vũ trụ trên con tàu Vostok 6.[4]
Korolev đã đề xuất phát triển các vệ tinh liên lạc, còn con tàu Vostok vốn là một phiên bản cải biên từ vệ tinh do thám Zenit dùng cho mục đích trinh sát hình ảnh, giúp Vostok được quân đội công nhận về tầm quan trọng quốc phòng. [58] Korolev lên kế hoạch tiến xa hơn với dòng tàu Soyuz có khả năng ghép nối với các con tàu khác trên quỹ đạo và trao đổi phi hành đoàn. Ông được Khrushchev chỉ đạo phải nhanh chóng tạo ra nhiều "kỷ lục đầu tiên" giá rẻ cho chương trình có người lái, bao gồm cả một chuyến bay chở nhiều người. Korolev được cho là đã phản đối ý tưởng này vì Vostok vốn chỉ là con tàu dành cho một người, trong khi con tàu Soyuz ba người phải mất nhiều năm nữa mới có thể bay được. Khrushchev không bận tâm đến những lý do kỹ thuật và đánh tiếng rằng nếu Korolev không làm được, ông sẽ giao việc đó cho đối thủ của Korolev là Vladimir Chelomey. Tuy nhiên, trang Russian Space Web mô tả yêu cầu này của Khrushchev chỉ là một huyền thoại, [59] và cuốn sách Challenge to Apollo cũng cho rằng các bằng chứng về việc Khrushchev ra lệnh cho các sứ mệnh này không đứng vững trước sự phân tích kỹ lưỡng. [60]
Phi hành gia Alexei Leonov đã mô tả quyền uy mà Korolev nắm giữ vào thời điểm đó: [3]
Từ lâu trước khi chúng tôi gặp ông ấy, một người đàn ông đã là chủ đề của haàu hết các cuộc trò chuyện của chúng tôi trong những ngày đầu huấn luyện;; Sergei Pavlovich Korolev, người đứng sau toàn bộ chương trình vũ trụ của Liên Xô. Ông ấy chỉ được nhắc đến với chữ cái viết tắt của tên ông ấy, SP, hay danh xưng đầy bí ẩn “Tổng công trình sư”, hay chỉ đơn giản là “Sếp”. Đối với những người tham gia chương trình vũ trụ, không có thẩm quyền nào cao hơn ông. Korolev nổi tiếng là người vô cùng liêm chính, nhưng cũng cực kỳ đòi hỏi khắt khe. Mọi người xung quanh ông đều sống trong phấp phỏm, sợ mắc sai lầm và chọc giận ông. Ông được đối xử như một vị thần.
Leonov nhớ lại cuộc gặp đầu tiên giữa Korolev và các phi hành gia .[61]
Bản mẫu:Blockquote Ngày 11 tháng 8 năm 1962, Korolyov thực hiện đợt phóng nhóm đầu tiên với Vostok 3 và 4 (cùng Andriyan Nikolayev và Pavel Popovich). Hai con tàu đã tiếp cận nhau ở khoảng cách 6,5 km. Việc này dựa trên các tính toán chính xác ngay từ khi phóng chứ không phải do sự điều khiển (di chuyển) của con tàu. Trong chuyến bay, theo yêu cầu của Korolev, Popovich đã hát bài hát tiếng Ukraina "Ngắm nhìn bầu trời và suy ngẫm ..." (tiếng Ukraina: Дивлюсь я на небо, та й думку гадаю ..., bài thơ của Mykhailo Petrenko) - bài hát đầu tiên cất lên từ không gian vũ trụ. [62]
Con tàu Voskhod được thiết kế như một bước cải tiến tiếp nối của Vostok nhằm đáp ứng mục tiêu của Khrushchev. Vì một khoang đơn lẻ không thể đáp ứng cho chuyến đi tới Mặt Trăng, phương tiện cần phải chở được nhiều người hơn. [20] Khrushchev ra lệnh cho Korolev nhanh chóng phóng ba người trên khoang Voskhod, trong khi Hoa Kỳ đã tiến hành các thử nghiệm không người lái cho tàu Gemini hai người. Korolev chấp nhận, với điều kiện chương trình tên lửa N-1 của ông nhận được nhiều sự hỗ trợ hơn. [20] Một trong những khó khăn trong thiết kế của Voskhod là yêu cầu hạ cánh bằng dù. Phi hành đoàn ba người không thể nhảy ghế phóng để hạ cánh bằng dù riêng, do đó con tàu cần những bộ dù lớn hơn rất nhiều để có thể hạ cánh an toàn. [63] Các cuộc thử nghiệm ban đầu với con tàu gặp một số thất bại, [64] cho đến khi việc sử dụng loại vải bền hơn giúp cải thiện độ tin cậy của dù.
Kết quả là con tàu Voskhod đã bị cắt giảm tối đa trọng lượng thừa; dù vậy một động cơ hãm phụ trợ đã được thêm vào, do loại tên lửa Voskhod mạnh hơn dùng để phóng con tàu sẽ đưa nó lên quỹ đạo cao hơn Vostok, làm mất đi khả năng tự suy giảm quỹ đạo để trở về Trái Đất nếu động cơ hãm chính bị hỏng. Sau một chuyến bay thử nghiệm không người lái, con tàu này đã mang theo phi hành đoàn gồm ba phi hành gia - Komarov, Yegorov và Feoktistov - vào vũ trụ vào ngày 12 tháng 10 năm 1964 và hoàn thành 16 vòng quỹ đạo. Con tàu được thiết kế để thực hiện hạ cánh mềm, loại bỏ sự cần thiết của hệ thống ghế phóng; tuy nhiên phi hành đoàn đã được đưa vào quỹ đạo mà không có bộ đồ phi hành gia hay hệ thống hủy phóng khẩn cấp.
Nhận thấy người Mỹ đang lên kế hoạch cho một chuyến đi bộ ngoài không gian với Chương trình Gemini, người Xô Viết quyết định vượt mặt họ một lần nữa bằng cách thực hiện một chuyến đi bộ ngoài không gian ngay trong đợt phóng Voskhod thứ hai. Sau khi nhanh chóng bổ sung thêm một khoang khóa khí, con tàu Voskhod 2 được phóng vào ngày 18 tháng 3 năm 1965, và Alexei Leonov đã thực hiện chuyến đi bộ ngoài không gian đầu tiên trên thế giới. Chuyến bay suýt chút nữa đã kết thúc trong thảm họa khi Leonov chật vật mới có thể chui trở lại qua khoang khóa khí, khiến kế hoạch cho các sứ mệnh Voskhod tiếp theo bị hủy bỏ. Trong khi đó, sự thay đổi của bộ máy lãnh đạo Liên Xô cùng sự sụp đổ của Khrushchev đồng nghĩa với việc Korolev lấy lại được thế nâng đỡ và được giao nhiệm vụ đánh bại nước Mỹ trong việc đưa người lên hạ cánh xuống Mặt Trăng.
Đối với Cuộc đua Mặt Trăng, đội ngũ của Korolev đã bắt đầu thiết kế siêu tên lửa N1 từ năm 1961, [65] sử dụng động cơ tên lửa nhiên liệu lỏng NK-15.[66] Ông cũng nghiên cứu thiết kế cho con tàu thuộc chương trình Soyuz dự định mang phi hành đoàn lên quỹ đạo tầm thấp Trái Đất (LEO) và Mặt Trăng. Đồng thời, Korolev cũng thiết kế dòng phương tiện Luna thực hiện hạ cánh mềm xuống Mặt Trăng cũng như thực hiện các sứ mệnh rô-bốt tới Sao Hỏa và Sao Kim. Đột ngột thay, ông qua đời vào tháng 1 năm 1966, trước khi kịp chứng kiến các kế hoạch khác nhau của mình gặt hái thành quả.
Chỉ trích
Kỹ sư Sergei Khrushchev, con trai của cựu nhà lãnh đạo Nikita Khrushchev, đã giải thích trong một cuộc phỏng vấn về một số thiếu sót mà ông nhận thấy trong phương pháp của Korolev, điều mà theo ông là nguyên nhân khiến người Liên Xôkhông thể hạ cánh xuống Mặt Trăng:
Một lý do khác khiến chương trình Mặt Trăng có người lái của Liên Xô không thành công là sự kình địch giữa Korolev và Vladimir Chelomey. Sự hằn thù của họ xuất phát từ cá tính không ai chịu ai của cả hai người, cùng khao khát giành quyền lãnh đạo bằng mọi giá. Cả hai chưa bao giờ nói một lời gay gắt về nhau trước công chúng hay riêng tư, nhưng lại tìm mọi cách cản trở các dự án của đối phương. Thay vì phân chia năng lực, trách nhiệm và hợp tác để theo đuổi cùng một mục tiêu, cả hai lại tranh giành quyền kiểm soát chương trình vũ trụ. [67] Theo lời Khrushchev, người từng làm việc cho Chelomey và biết rõ cả hai người, cả hai thà để người Mỹ lên hạ cánh xuống Mặt Trăng trước còn hơn là để đối thủ của mình đạt được điều đó. [68]
Qua đời
Ngày 3 tháng 12 năm 1960, Korolev trải qua cơn nhồi máu cơ tim đầu tiên.[cần dẫn nguồn] Trong thời gian dưỡng bệnh, ông cũng được phát hiện mắc chứng rối loạn thận-hậu quả từ thời gian bị giam giữ tại các trại cải tạo lao động Liên Xô.[cần dẫn nguồn] Bác sĩ cảnh báo rằng nếu tiếp tục làm việc với cường độ cao như vậy, ông sẽ không sống được lâu. Korolev tin rằng Khrushchev chỉ quan tâm đến chương trình vũ trụ vì giá trị tuyên truyền và lo sợ chương trình sẽ bị hủy bỏ hoàn toàn nếu Liên Xô mất vị thế dẫn đầu vào tay Hoa Kỳ, vì vậy ông vẫn tiếp tục vắt kệt sức lực.[69]
Đến năm 1962, các vấn đề sức khỏe của Korolev bắt đầu dồn dập khi ông chịu đựng nhiều căn bệnh khác nhau. Ông bị một đợt xuất huyết tiêu hóa và phải đưa vào viện bằng xe cấp cứu. Năm 1964, các bác sĩ chẩn đoán ông bị loạn nhịp tim. Vào tháng 2, ông phải nằm viện 10 ngày do sự cố về tim. Ngay sau đó, ông lại bị viêm túi mật.[cần dẫn nguồn] Áp lực công việc ngày càng tăng cũng đè nặng lên thể trạng khiến ông bị kiệt sức nặng. Korolev còn bị suy giảm thính lực, có thể do liên tục tiếp xúc với tiếng ồn lớn trong các đợt thử nghiệm động cơ tên lửa.[70]
Hoàn cảnh thực sự dẫn đến cái chết của Korolev cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng. Tháng 12 năm 1965, ông được cho là được chẩn đoán mắc polyp chảy máu ở ruột già.[cần dẫn nguồn] Ông nhập viện ngày 5 tháng 1 năm 1966 để phẫu thuật thông thường, nhưng qua đời 9 ngày sau đó. Chính phủ tuyên bố ông có một khối u ung thư lớn trong ổ bụng, nhưng Valentin Glushko sau này lại báo cáo rằng ông thực chất qua đời do một ca phẫu thuật trĩ yếu kém.[cần dẫn nguồn] Một giả thuyết khác cho rằng ca phẫu thuật đang diễn ra tốt đẹp thì Korolev bắt đầu bị chảy máu. Các bác sĩ đã cố gắng đặt ống nội khí quản để giúp ông thở, nhưng xương hàm bị tổn thương thời ở Gulag không thể lành lại đúng cách đã cản trở việc đặt ống thở. Korolev qua đời mà không tỉnh lại. Theo Harford,[71] gia đình Korolev đã xác nhận thông tin về căn bệnh ung thư. Trái tim yếu ớt của ông cũng góp phần dẫn đến tử vong trong ca phẫu thuật.[72][73]
Theo chính sách do Stalin khởi xướng và các thế hệ kế nhiệm tiếp tục, danh tính của Korolev không được tiết lộ cho đến sau khi ông qua đời nhằm bảo vệ ông khỏi các điệp viên nước ngoài của Hoa Kỳ. Kết quả là người dân Liên Xô chỉ biết đến những thành tựu của ông sau khi ông mất. Điếu văn của ông được đăng trên báo Pravda vào ngày 16 tháng 1 năm 1966, kèm bức ảnh Korolev đeo tất cả các huân chương của mình. Tro cốt của Korolev được an táng theo nghi thức quốc gia tại Nghĩa trang Bức tường Điện Kremli.[74]
Korolev có thể sánh ngang với Wernher von Braun với tư cách là những kiến trúc sư hàng đầu của Cuộc đua Vũ trụ.[75] Giống như von Braun, Korolev liên tục phải cạnh tranh với các đối thủ như Vladimir Chelomey-những người có kế hoạch bay tới Mặt Trăng của riêng mình. Không giống người Mỹ, ông còn phải làm việc với công nghệ kém phát triển hơn về nhiều mặt (đặc biệt là điện tử và máy tính) và đối mặt với áp lực chính trị cực kỳ gay gắt.
Người kế nhiệm Korolev trong chương trình vũ trụ Liên Xô là Vasily Mishin, một kỹ sư giỏi từng làm phó tướng và là cánh tay phải của ông. Sau khi Korolev qua đời, Mishin trở thành Tổng công trình sư và tiếp quản dự án tên lửa N1 mà sau này hóa ra có nhiều khiếm khuyết. Năm 1972, Mishin bị sa thải và thay thế bởi đối thủ Valentin Glushko sau khi cả bốn đợt phóng thử N-1 đều thất bại. Vào thời điểm đó, đối thủ Hoa Kỳ đã đặt chân lên Mặt Trăng, và chương trình này do đó đã bị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev hủy bỏ.
Đời tư
Leonid Vladimirov đã dẫn lại lời mô tả của Valentin Glushko về Korolev vào khoảng thời gian này như sau:
Korolev hiếm khi uống rượu và sống một cuộc sống khá mộc mạc, giản dị.[76]
Sự nghiệp của ông cũng là nguyên nhân gây ra sóng gió trong đời sống cá nhân. Vào khoảng năm 1946, cuộc hôn nhân của Korolev và Vincentini bắt đầu rạn nứt. Vincentini quá bận rộn với sự nghiệp riêng, và trong khoảng thời gian này, Korolev đã nảy sinh tình cảm với một phụ nữ trẻ hơn tên là Nina Ivanovna Kotenkova, vốn là phiên dịch viên tiếng Anh tại văn phòng Podlipki.[20] Vincentini, người vẫn còn yêu Korolev nhưng vô cùng tức giận vì sự bất trung, đã ly hôn với ông vào năm 1948. Korolev và Kotenkova kết hôn vào năm 1949, nhưng ông vẫn được biết đến là tiếp tục có những mối quan hệ ngoài luồng ngay cả sau cuộc hôn nhân thứ hai này.
Nhiệt huyết cháy bùng với công việc là đặc điểm giúp Korolev trở thành một nhà lãnh đạo kiệt xuất. Ông luôn tận tụy đào tạo các kỹ sư trẻ để kế thừa các dự án không gian và tên lửa của mình, ngay cả khi đang bận rộn ngập đầu với công việc cá nhân. Korolev hiểu rằng thế hệ trẻ chính là tương lai của ngành khám phá vũ trụ, do đó ông luôn nỗ lực hết mình để truyền cảm hứng và kết nối với họ.[20] Arkady Ostashev là một trong những học trò của Korolev, người được ông tuyển dụng để làm luận văn trước khi trở thành kỹ sư trực tiếp làm việc với dự án tên lửa R-2.[20]
Danh hiệu và giải thưởng
Là một kỹ sư đào tạo bài bản, Korolev đã chèo lái xuất sắc qua những biến động chính trị phức tạp và hiểm nguy tại Moskva để đảm bảo nguồn ngân sách và sự hỗ trợ từ giới lãnh đạo cho một mục tiêu vốn còn rất mơ hồ lúc bấy giờ (khám phá vũ trụ). Ông đã xây dựng một tầm nhìn chung để thuyết phục một tập hợp rộng lớn các bên liên quan, từ đó kiến tạo nên một ngành khoa học hoàn toàn mới.
Trong số các giải thưởng của mình, Korolev từng hai lần được vinh danh là Anh hùng Lao động Xã hội chủ nghĩa Liên Xô, vào các năm 1956 và 1961. Ông cũng là người đoạt Giải thưởng Lenin năm 1971,[77] ba lần được trao Huân chương Lenin, Huân chương Danh dự và Huy chương "Vì Vinh quang Lao động".
Năm 1958, ông được bầu vào Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Vào các năm 1969 và 1986, Liên Xô đã phát hành tem bưu chính mệnh giá 10 kopek để tôn vinh Korolev.[78] Ngoài ra, ông còn được trao danh hiệu Công dân danh dự của thành phố Korolyov và nhận Huy chương "Kỷ niệm 800 năm thành lập Moskva".
Sergei Khrushchev từng tuyên bố rằng cha ông, Nikita Khrushchev, đã từ chối đề cử Giải Nobel cho Korolev vì lo ngại giải thưởng sẽ làm phật lòng các thành viên còn lại trong Hội đồng các Tổng công trình sư.[79]
Năm 1990, Korolev được vinh danh tại Sảnh Danh vọng Hàng không & Vũ trụ Quốc tế thuộc Bảo tàng Hàng không & Vũ trụ San Diego.[80]
Đặt tên theo tên ông
Một con phố ở Moskva đã được đặt theo tên Korolev vào năm 1966 và hiện nay gọi là Phố Viện sĩ Korolyov (Ulitsa Akademika Korolyova). Bảo tàng Nhà tưởng niệm Viện sĩ S.P. Korolyov được thành lập năm 1975 tại ngôi nhà nơi Korolev từng sống từ năm 1959 đến năm 1966 (Moskva, Ngõ Ostankinsky thứ 6, 2/28).[81] Năm 1976, ông được đưa vào Sảnh Danh vọng Không gian Quốc tế.[77]
Thành phố Kaliningrad (tên lịch sử là Podlipki, vùng Moskva) đã được đổi tên thành Korolev để vinh danh Korolev vào năm 1996. Hiện nay có một bức tượng Korolev kích thước lớn đặt tại quảng trường thành phố. Nơi đây cũng là trụ sở chính của Tập đoàn Tên lửa và Vũ trụ Energia S.P. Korolev, công ty vũ trụ lớn nhất nước Nga. Tập đoàn RSC Energia sau này cũng được đổi tên thành Tập đoàn Tên lửa và Vũ trụ Energia mang tên S.P. Korolev.
Các địa danh thiên văn được đặt theo tên của Korolev bao gồm hố va chạm Korolev ở mặt xa của Mặt Trăng, một hố va chạm trên Sao Hỏa, và tiểu hành tinh 1855 Korolyov.
Một số lượng lớn các con phố mang tên ông tồn tại ở Nga cũng như Ukraine. Tại Zhytomyr, đối diện căn nhà nơi Korolev sinh ra qua con phố (vulytsia Dmytrivska) là Bảo tàng Tưởng niệm Vũ trụ học Korolev.
Một hiện tượng thị giác đặc trưng đại diện cho giai đoạn tách tầng của một loại tên lửa đã được đặt tên là Thập tự Korolev để vinh danh ông.
Hãng hàng không Aeroflot đã đặt tên cho một chiếc Boeing 777 mới tinh theo tên Korolev vào năm 2021.
Tác phẩm hư cấu và chân dung điện ảnh
Sự thể hiện đầu tiên về Korolev trong điện ảnh Liên Xô là ở bộ phim năm 1972 Chinh phục lửa (Ukroshcheniye ognya), trong đó vai Korolev do Kirill Lavrov đóng.
Truyện ngắn năm 2001 Tổng công trình sư của Andy Duncan là một câu chuyện hư cấu về sự nghiệp của Korolev.
Ông do Steve Nicolson thủ vai trong bộ phim tài liệu-drama hợp tác sản xuất năm 2005 của BBC mang tên Cuộc đua Vũ trụ.
Cuốn Tiểu thuyết đồ họa năm 2007 Laika có các đoạn được kể theo góc nhìn của Korolev.
Năm 2011, nhà văn người Anh Rona Munro đã sáng tác vở kịch Little Eagles (Những chú đại bàng nhỏ) về cuộc đời của Korolev – công chiếu từ ngày 16 tháng 4 đến ngày 7 tháng 5 năm 2011, trong một tác phẩm của Đoàn kịch Royal Shakespeare tại Nhà hát Hampstead,[82] với vai Korolev do Darrel D'Silva đóng và Yuri Gagarin do Dyfan Dwyfor thủ vai.[83][84]
Ông do Mikhail Filippov thủ vai trong bộ phim Nga năm 2013 Gagarin: Người đầu tiên vào vũ trụ.
Ông do Vladimir Ilyin khắc họa trong bộ phim Nga năm 2017 Kỷ nguyên của những người tiên phong.
Theo Ronald D. Moore, người sáng tạo ra loạt phim truyền hình lịch sử thay thế For All Mankind, điểm rẽ nhánh của dòng thời gian thay thế chính là việc Korolev đã sống sót sau ca phẫu thuật năm 1966, dẫn đến việc người Xô Viết lên Mặt Trăng trước người Mỹ.[85] Korolev xuất hiện trong hai tập của mùa thứ hai, do Endre Hules thủ vai.
Trong Star City, một phần phim ngoại truyện của For All Mankind, ông xuất hiện như một nhân vật trung tâm, được gọi là Tổng công trình sư, do nam diễn viên người Wales Rhys Ifans thể hiện.
Ban nhạc indie rock Public Service Broadcasting đã phát hành bài hát "Korolev" vào năm 2015 như một sự tri ân dành cho Sergei Korolev. Bài hát xuất hiện ở mặt B của đĩa đơn "Sputnik", nằm trong album The Race For Space của họ.
Ghi chú
- ^ Trong tên gọi này tuân theo tập quán đặt tên của người Đông Slav, tên theo cha là Pavlovich và họ là Korolev. Korolev là cách phiên âm được Thư viện Quốc hội Mỹ sử dụng và được James Harford áp dụng cho cuốn tiểu sử của ông.[1]
- ^ tiếng Nga: Сергей Павлович Королёв, đã Latinh hoá: Sergey Pavlovich Korolyov, IPA: [sʲɪrˈɡʲej ˈpavləvʲɪtɕ kərɐˈlʲɵf] <phonos file="Ru-Sergei Pavlovich Korolev.ogg"></phonos>; tiếng Ukraina: Сергій Павлович Корольов, đã Latinh hoá: Serhii Pavlovych Koroliov, IPA: [serˈɦij ˈpɑu̯lowɪtʃ koroˈlʲɔu̯].
- ^ 11.01.1934. chức vụ phó giám đốc RNII bị bãi bỏ, và thay vào đó là chức vụ kỹ sư trưởng.
Tham khảo
- ^ Harford 1997, tr. xvi.
- ^ a ă â West, John B. (ngày 1 tháng 10 năm 2001). "Historical aspects of the early Soviet/ Russian crewed space program". Journal of Applied Physiology. 91 (4): 1501–1511. doi:10.1152/jappl.2001.91.4.1501. PMID 11568130. S2CID 24284107. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2017.
- ^ a ă Scott and Leonov, p. 53. Harford, p. 135.
- ^ a ă â b c d đ e ê "Late great engineers: Sergei Korolev – designated designer". ngày 6 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2021.
- ^ "Королев Павел Яковлевич 1877-1929, отец С.П. Королева".
- ^ "Историк Стрелец — о белорусских истоках советского освоения космоса". SB.by. ngày 10 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
- ^ a ă Королева, Наталия (2007). С.П. Королев. Отец (PDF). Москва: Наука. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2021.
- ^ Королева, Наталия (2007). С.П. Королев. Отец (PDF). Москва: Наука. tr. 48. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
- ^ Королева, Наталия (2007). С.П. Королев. Отец (PDF). Москва: Наука. tr. 19. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
- ^ "В Житомире сто лет назад появился на свет Сергей Королев". Zhitomir City Journal. ngày 12 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2011.
- ^ Harford 1997, tr. 16.
- ^ a ă Harford 1997, tr. 19.
- ^ Harford 1997, tr. 17-19.
- ^ Harford 1997, tr. 22-23.
- ^ Harford 1997, tr. 25.
- ^ Harford 1997, tr. 25-28.
- ^ Harford 1997, tr. 29-34.
- ^ Siddiqi 2000, tr. 122.
- ^ Siddiqi 2000, tr. 4.
- ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t Harford 1997.
- ^ a ă â b c d đ e ê g h i Siddiqi, Asif A. (ngày 29 tháng 3 năm 2023). "Korolev, Sputnik, and The International Geophysical Year". NASA History Division: Sputnik and the Dawn of the Space Age. National Aeronautics and Space Administration.
- ^ Okninski, Adam (tháng 12 năm 2021). "Hybrid rocket propulsion technology for space transportation revisited - propellant solutions and challenges". FirePhysChem. 1 (4): 260–271. Bibcode:2021FPhCh...1..260O. doi:10.1016/j.fpc.2021.11.015. S2CID 244899773.
- ^ "GIRD (Gruppa Isutcheniya Reaktivnovo Dvisheniya)". WEEBAU. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2022.
- ^ a ă Siddiqi 2000, tr. 7-8.
- ^ a ă Baker & Zak 2013, tr. 9.
- ^ "The Space Age Turns 50 - Ideas of Space Flight from the Early 20th Century Korolev, the R-7, and Sputnik". ESTU. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2022.
- ^ Siddiqi 2000, tr. 10-12.
- ^ "Sergei Korolev: the rocket genius behind Yuri Gagarin". the Guardian (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2022.
- ^ French, Francis; Colin Burgess; Paul Haney (2007). Into that Silent Sea: Trailblazers of the Space Era, 1961–1965. University of Nebraska Press. tr. 110. ISBN 978-0-8032-1146-9.
- ^ Siddiqi 2000, tr. 11-14.
- ^ "Last of the Wartime Lavochkins", AIR International, Bromley, Kent, U.K., November 1976, Volume 11, Number 5, pages 245–246.
- ^ Parrish, Michael (1996). The Lesser Terror. Greenwood Publishing Group. tr. 46. ISBN 0-275-95113-8.
- ^ Siddiqi 2000, tr. 16.
- ^ Zak, Anatoly. "Soviet rocket research in Germany after World War II". Russian Space Web. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2022.
- ^ "Sputnik Biographies--Sergei P. Korolev (1906-1966)". history.nasa.gov. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2020.
- ^ Siddiqi 2000, tr. 40-41.
- ^ Siddiqi 2000, tr. 47.
- ^ Siddiqi 2000, tr. 41-49.
- ^ Siddiqi 2000, tr. 55-56.
- ^ Chertok 2005, tr. 36-38 Vol 2.
- ^ Siddiqi 2000, tr. 61-62.
- ^ Chertok 2005, tr. 57 Vol 2.
- ^ Siddiqi 2000, tr. 63.
- ^ Siddiqi 2000, tr. 82.
- ^ Siddiqi 2000, tr. 57-61.
- ^ "Sergei Korolev: Father of the Soviet Union's success in space". www.esa.int (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2020.
- ^ a ă "Sputnik remembered: The first race to space (part 1) (page 1)". www.thespacereview.com. The Space Review. ngày 2 tháng 10 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2019.
To add power to his request, he added a folder containing a bunch of recent articles from the American media, all properly translated, all communicating that the United States was giving priority to its own satellite program. The attached folder clinched the deal: a little over a week after the American announcement, on August 8, 1955, the Soviet Politburo approved a satellite project under Korolev
- ^ "Sixty Years Later, Sputnik Declassifications Offer Primer in Fake News". Fordham Newsroom. Fordham University. ngày 10 tháng 10 năm 2017.
"In 1954 . . . because they knew a lot of Soviet journalists, they flooded the Soviet media with speculative articles on space flight .. cited a lot in the Washington Post and New York Times. July 1955, the Eisenhower administration announces they're going to launch a satellite in a couple of years, it's going to be a scientific satellite
- ^ Siddiqi, Asif A.. Sputnik and the Soviet Space Challenge, Gainesville, Florida. The University of Florida Press, 2003, p. 176. ISBN 0-8130-2627-XLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check isxn”.
- ^ Siddiqi 2000, tr. 151.
- ^ "Sputnik-2 in orbit". Russian Space Web. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2021.
- ^ "Sputinik 3". Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2021.
- ^ "Explorer A". Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2021.
- ^ "Korolev bureau". Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2021.
- ^ "Crimean space connection". Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2021.
- ^ "Landing of the Vostok spacecraft". Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2021.
- ^ "Spaceflight mission report: Vostok 5". ngày 11 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2021.
- ^ Asif Siddiqi (ngày 12 tháng 10 năm 2015). "Declassified documents offer a new perspective on Yuri Gagarin's flight". Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2021.
- ^ "Voskhod: Mission impossible". Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2021.
- ^ Siddiqi 2000, tr. 384-385.
- ^ Scott and Leonov, p. 54.
- ^ "Перша пісня, яка пролунала в космосі, була українською!" [The first song that sounded in space was Ukrainian!]. YouTube (bằng tiếng Nga). ngày 12 tháng 8 năm 1962. 1:05 min. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2023.
- ^ "From Vostok to Voskhod". Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2021.
- ^ "Kosmos-47: The Final test of Voskhod". Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2021.
- ^ Lindroos, Marcus. "The Soviet manned Lunar program" (PDF). MIT. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2011.
- ^ Wade, Mark (2015). "NK-15". Encyclopedia Astronautix. Bản gốc lưu trữ 25 tháng 8 2016. Truy cập 29 tháng 12 2015.
- ^ Khrushchev, Sergei (2010). Никита Хрущев: Рождение сверхдержавы [Nikita Khrushchev: The Birth of a Superpower] (bằng tiếng Nga). Moscow: Vremya. tr. 210–225, 245–291, 553–576.
- ^ "Sergei Khrushchev talks to Echo Moskvy" (bằng tiếng Nga). Echo Moskvy. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
- ^ Harford 1997, tr. 51,198-199.
- ^ Harford 1997, tr. 276-7.
- ^ Harford 1997, tr. 279.
- ^ Harford 1997, tr. 278-285.
- ^ McKie, Robin (ngày 13 tháng 3 năm 2011). "Sergei Korolev: the rocket genius behind Yuri Gagarin". The Observer. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2011.
- ^ Harford 1997, tr. 282-285.
- ^ Lillian Cunningham (ngày 13 tháng 8 năm 2019). "Inside the Gulag". Moonrise. Tập 13. 39 minutes phút. Washington Post Podcasts.
- ^ aburchyski (ngày 12 tháng 4 năm 2010). "The Scientist Who Survived the Gulag to Launch Sputnik". HistoryNet (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2025.
- ^ a ă "International Space Hall of Fame :: New Mexico Museum of Space History :: Inductee Profile". New Mexico Museum of Space History. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
- ^ Ảnh tem năm 1969, 10k. Ảnh tem năm 1986, 10k.
- ^ "We Shocked the World". Smithsonian Magazine. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
- ^ Sprekelmeyer, Linda, biên tập (2006). These We Honor: The International Aerospace Hall of Fame. Donning Co. Publishers. ISBN 978-1-57864-397-4.
- ^ "The memorial home-museum of akademician S.P.Korolev". Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2005. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2005.
- ^ "What's On Main Stage". Hampstead Theatre. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2011.
- ^ "Cast and creatives – Little Eagles". RSC. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2011.
- ^ Billington, Michael (ngày 21 tháng 4 năm 2011). "Little Eagles – review". The Guardian. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
- ^ "'For All Mankind': Ronald D. Moore on Season 2 Tragedies, Season 3 Hints, and the Official Reason Why Russia Beat America to the Moon". Collider. ngày 23 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2021.
Tài liệu
- Baker, David; Zak, Anatoly (ngày 9 tháng 9 năm 2013). Race for Space 1: Dawn of the Space Age. RHK. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2022.
- Chertok, Boris (2005). Rockets and People Volumes 1-4. National Aeronautics and Space Administration. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2022.
- Harford, James (1997). Korolev: How One Man Masterminded the Soviet Drive to Beat America to the Moon. John Wiley & Sons. ISBN 0-471-14853-9.
- Korolyov, S. P. (1934). Rocket Flight in the Stratosphere. Moscow: State Military Publishers (Гос. воен. изд.).
- Korolyov, S. P. (1957). The Practical Significance of Konstantin Tsiolkovsky's Proposals in the Field of Rocketry. Moscow: USSR Academy of Sciences.
- Mishin, Vassily P. (ngày 12 tháng 11 năm 1991). "Why Didn't We Fly to the Moon?". JPRS-Usp-91-006: 10.
- Scott, David; Alexei Leonov (2006). Two Sides of the Moon: Our Story of the Cold War Space Race. with Christine Toomey. St. Martin's Griffin. ISBN 0-312-30866-3.
- Siddiqi, Asif (2000). Challenge to Apollo: the Soviet Union and the space race, 1945-1974 (PDF). Washington, D.C.: National Aeronautics and Space Administration, NASA History Div. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2022.
- Vladimirov, Leonid (1971). The Russian Space Bluff. David Floyd (trans.). The Dial Press. ISBN 0-85468-023-3.
- Brzezinski, Matthew (2008). Red Moon Rising: Sputnik and the Hidden Rivalries that Ignited the Space Age. Henry Holt and Company. ISBN 0-8050-8858-X.
- Ostashev, A. I. (2010). Sergei Pavlovich Korolyov – The Genius of the 20th Century. Moscow State Forest University. ISBN 978-5-8135-0510-2.
- Lopota, C. A., biên tập (2014). S. P. Korolev. Encyclopedia of life and creativity. RSC Energia. ISBN 978-5-906674-04-3.
Liên kết ngoài
- "Episode 47 of astrotalkuk.org". AstroTalkUK. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
- "Sergei Pavlovich Korolev (1907–1966)". Russian Space Web. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
- Harford, James. "Korolev, Mastermind of the Soviet Space Program". Cosmos Club. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
- Delnon, Phil (tháng 5 năm 1998). "Sergei Pavlovich Korolev". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
- "Korolev". Encyclopedia Astronautica. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2002. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
- "Detailed biography at Centennial of Flight website". Centennial of Flight. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
- "Family history". Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.