Valentina Vladimirovna Tereshkova
Valentina Vladimirovna TereshkovaBản mẫu:Efn (sinh ngày 6 tháng 3 năm 1937) là một kỹ sư người Nga, nghị sĩ Duma Quốc gia và cựu phi hành gia Liên Xô. Bà là người phụ nữ đầu tiên bay vào không gian thông qua sứ mệnh Vostok 6 vào ngày 16 tháng 6 năm 1963. Tổng cộng, Tereshkova đã bay quanh quỹ đạo Trái Đất 48 lần trong gần ba ngày trên vũ trụ. Bà cũng là người phụ nữ đầu tiên thực hiện một sứ mệnh không gian đơn lẻ và là phi hành gia thuộc chương trình Vostok duy nhất còn sống. Ở độ tuổi 26 vào thời điểm tiến hành nhiệm vụ, Tereshkova là người phụ nữ trẻ nhất từng bay vào không gian theo định nghĩa quốc tế về độ cao 100 km, cũng như là người phụ nữ trẻ nhất bay lên quỹ đạo Trái Đất.
Trước khi được chọn vào chương trình không gian Liên Xô, Tereshkova làm công nhân cho nhà máy dệt may và là một người chơi nhảy dù nghiệp dư. Bà gia nhập Không quân với tư cách là thành viên của Đoàn Phi hành gia và được bổ nhiệm làm sĩ quan sau khi hoàn thành khóa đào tạo. Dù nhóm nhà du hành vũ trụ nữ đầu tiên đã bị giải thể vào năm 1969, Tereshkova vẫn ở lại chương trình không gian, đảm nhận việc hướng dẫn cho các phi hành gia. Về sau, nữ kỹ sư tốt nghiệp Học viện Kỹ thuật Không quân Zhukovsky và có lần thứ hai đủ điều kiện bay vào vũ trụ, nhưng bà đã không tiến hành thêm sứ mệnh nào nữa. Bà nghỉ hưu ở Không quân vào năm 1997 với cấp bậc thiếu tướng.
Tereshkova là một nhân vật nổi bật của Đảng Cộng sản Liên Xô, từng nắm giữ nhiều chức vụ chính trị khác nhau bao gồm cả thành viên Đoàn Chủ tịch Xô viết Tối cao từ năm 1974 đến năm 1989. Sau khi Liên Xô giải thể, bà vẫn hoạt động chính trị tích cực nhưng đã có hai lần thất bại trong cuộc bầu cử vào Duma Quốc gia các năm 1995 và 2003. Tereshkova sau đó trúng cử quốc hội khu vực Duma tỉnh Yaroslavl vào năm 2008. Năm 2011, bà được bầu vào Duma Quốc gia với tư cách là đảng viên Đảng Nước Nga Thống nhất cầm quyền và tái đắc cử vào các năm 2016 và 2021.
Tereshkova có cấp bậc công vụ cấp liên bang là Ủy viên Hội đồng Nhà nước Đương nhiệm hạng 1 của Liên bang Nga.[1] Năm 2022, nữ chính trị gia bỏ phiếu ủng hộ việc Nga xâm lược Ukraina, dẫn đến nhiều lệnh trừng phạt quốc tế chống lại bà.
Đầu đời
Valentina Vladimirovna Tereshkova chào đời ngày 6 tháng 3 năm 1937 tại Bolshoye Maslennikovo, một ngôi làng nằm bên sông VolgaLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. cách Moskva Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”. về phía đông bắc và là một phần của tỉnh Yaroslavl ở miền trung nước Nga.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Tereshkova có phụ huynh đều là dân nhập cư từ Belarus.[2] Cha của bà, ông Vladimir Tereshkov,Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. từng làm người lái máy cày và phục vụ với vai trò trung sĩ chỉ huy xe tăng trong Lục quân Xô Viết. Vladimir đã hy sinh trong Chiến tranh Liên Xô – Phần Lan khi Tereshkova chỉ mới hai tuổi.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ông cùng mẹ của bà là Elena Fyodorovna Tereshkova có với nhau ba người con.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Sau khi chồng mình qua đời, Elena cùng gia đình chuyển đến Yaroslavl để tìm kiếm cơ hội việc làm tốt hơnLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. và được nhận vào làm ở nhà máy sợi Krasny Perekop.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Tereshkova bắt đầu nhập học từ năm 8 tuổi và tốt nghiệp 8 năm sau đó.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ban đầu, bà làm việc tại một nhà máy sản xuất lốp xe, sau đó chuyển sang nhà máy dệt, nhưng vẫn tiếp tục việc đèn sách bằng cách tham gia các khóa học qua thư và lấy tấm bằng tốt nghiệp Trường Kỹ thuật Công nghiệp Nhẹ vào năm 1960.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.[3] Tereshkova cũng bắt đầu quan tâm đến môn nhảy dù từ khi còn nhỏ và từng được đào tạo nhảy dù tại câu lạc bộ bay (aeroclub) ở địa phương. Trong thời gian làm công nhân dệt, bà đã giấu gia đình để tham gia huấn luyện trở thành vận động viên nhảy dù thi đấu.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Tereshkova còn tham gia Komsomol (Đoàn Thanh niên Cộng sản) địa phương tại Yaroslavl, từng giữ chức bí thư của tổ chức này vào các năm 1960 và 1961.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Năm 1962, bà trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Chương trình không gian Liên Xô
Tuyển chọn và huấn luyện
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Labelled list hatnote”.
Trước khi gia nhập chương trình, Tereshkova không hề bày tỏ chút hứng thú nào với việc bay vào không gian.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Thay vào đó, kinh nghiệm nhảy dù đã góp phần giúp bà được chọn làm phi hành gia.[4][5] Sau chuyến bay năm 1961 của Yuri Alekseyevich Gagarin, người chỉ huy việc huấn luyện phi hành gia là Nikolai Petrovich Kamanin biết được trên phương tiện truyền thông Mỹ rằng nước này đang đào tạo các nữ phi công cho sứ mệnh không gian. Trong nhật ký của mình, ông viết: "Chúng ta không thể để phụ nữ đầu tiên bay vào vũ trụ là người Mỹ. Đây sẽ là một sự xúc phạm đến lòng yêu nước của phụ nữ Liên Xô".Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Một quyết định phê chuẩn đã được đưa ra để đưa năm nữ phi hành gia vào nhóm tiếp theo, với quá trình đào tạo sẽ bắt đầu vào năm 1963. Nhằm tăng khả năng hoàn thành mục tiêu, các phi hành gia nữ đã tiến hành đào tạo trước phi hành gia nam.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Quy định yêu cầu nhà du hành vũ trụ tiềm năng phải là người nhảy dù dưới 30 tuổi, cao dưới Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”., nặng không quá Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”..Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Đến tháng 1 năm 1962, Hội Tình nguyện Hợp tác với Lục quân, Không quân và Hải quân (DOSAAF) đã chọn ra 400 ứng viên để xem xét. Sau vòng sàng lọc ban đầu, 58 ứng viên đáp ứng được yêu cầu, và Kamanin tiếp tục giảm xuống còn 23 ứng viên. Vào ngày 16 tháng 2 năm 1962, cùng với bốn ứng cử viên khác, Tereshkova được chọn vào đoàn phi hành gia nữ.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Do không có kinh nghiệm quân sự trước đó, họ đều bắt đầu với cấp bậc binh nhì trong Không quân Liên Xô.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Chương trình đào tạo bao gồm các bài kiểm tra cô lập, kiểm tra trên máy ly tâm, kiểm tra trong buồng nhiệt, kiểm tra trong buồng giảm áp và đào tạo phi công trên máy bay phản lực chiến đấu MiG-15UTI.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Tereshkova đã trải qua khóa đào tạo thu hồi dưới nước trên biển, trong đó có một số xuồng máy được sử dụng để khuấy động nước nhằm mô phỏng các điều kiện khắc nghiệt của du hành vũ trụ.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Thời gian này, bà cũng bắt đầu nhập học tại Học viện Kỹ thuật Không quân Zhukovsky và tốt nghiệp vài năm sau chuyến bay.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Nhóm phi hành gia nữ đã trải qua nhiều tháng huấn luyện cơ bản,Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. và sau khi hoàn thành khóa đào tạo rồi vượt qua kỳ thi, Kamanin đề nghị họ trở thành sĩ quan Không quân chính thức. Dựa trên lời khuyên từ các phi hành gia nam, họ đã chọn chấp nhận lời đề nghị của Kamanin vì nó sẽ khiến chương trình khó loại bỏ họ hơn sau chuyến bay đầu tiên. Cả năm người phụ nữ đều trở thành thiếu úy Không quân vào tháng 12 năm 1962.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Tatyana Dmitryevna Kuznetsova không đủ điều kiện tham gia chuyến bay đầu tiên do bị bệnh, và Zhanna Dmitriyevna Yorkina có thành tích yếu kém trong quá trình huấn luyện. Do vậy, chỉ còn lại Tereshkova, Irina Solovyova và Valentina Leonidovna Ponomaryova là những ứng cử viên hàng đầu.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Ban đầu, một hồ sơ nhiệm vụ chung đã được phát triển, bao gồm việc đưa hai phụ nữ vào không gian trên các chuyến bay Vostok đơn lẻ vào những ngày liên tục trong tháng 3 hoặc tháng 4 năm 1963.[6] Theo kế hoạch, Tereshkova sẽ là người đầu tiên bay lên trên tàu Vostok 5, trong khi Ponomaryova sẽ theo sau bà vào quỹ đạo trên tàu Vostok 6. Tuy nhiên, kế hoạch bay này đã được thay đổi vào tháng 3 năm 1963. Vostok 5 giờ đây sẽ chở theo một phi hành gia nam, Valery Fyodorovich Bykovsky, bay cùng một phụ nữ trên tàu Vostok 6, cả hai đều được phóng vào tháng 6 năm 1963. Trong cuộc họp ngày 21 tháng 5, Ủy ban Vũ trụ Nhà nước đã đề cử Tereshkova làm phi công lái tàu Vostok 6. Kamanin gọi bà là "Gagarin mặc váy".Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Thủ tướng Liên Xô Nikita Sergeyevich Khrushchyov hài lòng với tiềm năng tuyên truyền của đề xuất này, do bà vốn là con gái của một công nhân nông trại tập thể đã hy sinh trong Chiến tranh Mùa đông; ông xác nhận việc lựa chọn bà.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Solovyova đảm nhận vị trí là người dự bị thứ nhất.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Tereshkova được thăng hàm trung úy trước chuyến bay và lên chức đại úy khi đang trong thời gian thực hiện sứ mệnh.[7]
Vostok 6
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.
Sau khi Vostok 5 phóng thành công vào ngày 14 tháng 6, Tereshkova bắt đầu chuẩn bị những bước cuối cùng cho chuyến bay của mình. Vào buổi sáng ngày 16 tháng 6 năm 1963, Tereshkova cùng với người dự phòng Solovyova mặc vào bộ đồ phi hành gia và được đưa tới bệ phóng bằng xe buýt. Tiếp nối truyền thống do Gagarin khởi xướng, Tereshkova cũng đi tiểu vào lốp xe buýt và trở thành người phụ nữ đầu tiên làm điều này.[8] Sau khi hoàn tất kiểm tra liên lạc và hệ thống hỗ trợ sự sống, con tàu Vostok được đóng kín. Qua hai tiếng đếm ngược, Vostok 6 phóng lên một cách hoàn hảo, giúp Tereshkova trở thành người phụ nữ đầu tiên đi vào không gian;Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. bà vẫn là người phụ nữ duy nhất và, ở độ tuổi 26, cũng là trẻ nhất bay vào vũ trụ một mình.[9][10]Bản mẫu:Efn Tín hiệu gọi của bà trong chuyến bay này là Chaika (Bản mẫu:Langx); để kỷ niệm, cái tên này về sau đã được đặt cho một tiểu hành tinh (1671 Chaika).[11] Sau khi phóng, bà liên lạc qua radio:Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Bản mẫu:Blockquote
Vostok 6 là chuyến bay cuối cùng của Vostok[12] và được phóng hai ngày sau Vostok 5, chuyến bay đã đưa Bykovsky vào sứ mệnh kéo dài năm ngày.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Hai con tàu dành ba ngày trên các mặt phẳng quỹ đạo cách nhau 30°, và trong quỹ đạo đầu tiên của Tereshkova, chúng tiến lại gần nhau trong phạm vi Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”..Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Mặc dù hai phi hành gia có thể giao tiếp bằng radio, nhưng không ai chắc liệu họ có nhìn thấy nhau hay không.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.[12] Các camera đặt bên trong cả hai tàu vũ trụ đã truyền về hình ảnh trực tiếp được phát trên đài truyền hình của nhà nước Liên Xô.[13][14] Tereshkova cũng duy trì nhật ký chuyến bay và chụp ảnh đường chân trời, về sau được sử dụng để xác định các lớp aerosol trong khí quyển.[15]
Chỉ trong chuyến bay đơn này, bà đã tích lũy được thời gian bay dài hơn tất cả các phi hành gia Mỹ trước thời điểm đó cộng lại.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Nhiệm vụ của bà là tiếp tục các nghiên cứu y khoa về con người trong chuyến bay không gian và cung cấp dữ liệu so sánh về tác động của du hành vũ trụ đối với phụ nữ.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Mặc dù Tereshkova luôn bị buồn nôn và khó chịu về thể chất trong suốt chuyến bay,[16] bà vẫn có thể hoàn thành 48 vòng quanh Trái Đất và ở trong không gian 2 ngày, 22 giờ và 50 phút.[17]
Như đã lên kế hoạch trong tất cả các nhiệm vụ Vostok, Tereshkova phóng ra khỏi khoang tàu trong quá trình đi xuống ở độ cao khoảng bốn dặm so với Trái Đất[13] và hạ cánh bằng dù cách Karagandy, Kazakhstan Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”. về phía đông bắc lúc 8:20 sáng UTC ngày 19 tháng 6.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Bykovsky hạ cánh sau bà ba giờ.[18]
Tereshkova sau đó tiết lộ rằng mình đã gặp khó khăn trong việc điều khiển dù do gió giật dữ dội.[19] Tuy bà hạ cánh an toàn nhưng lại bị bầm tím ở mũi. Một số dân làng địa phương ở vùng Altai đã giúp nữ phi hành gia thu gom các thiết bị và trao đổi thực phẩm với bà.[19]Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Sau chuyến bay Vostok 6
Theo tờ Pravda của Nga, một triệu bông hoa đã được mang đến để ăn mừng thành công của hai chuyến bay và chào đón các phi hành gia tại Moskva.[20] Ngày 22 tháng 6 năm 1963, Khrushchyov chào đón Bykovsky trong bộ quân phục, sau đó ông ôm và hôn Tereshkova đang mặc trên mình trang phục thường dân. Trước hàng ngàn người tham dự, Thủ tướng tuyên bố cả hai phi hành gia đều được trao tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô. Cả ba sau đó có bài phát biểu trên Lăng Lenin ở Quảng trường Đỏ; Tereshkova nói, "cha tôi hy sinh khi bảo vệ đất nước và mẹ tôi đã tự tay nuôi dạy cả ba đứa con của mình. Chúng ta đều biết sự đau khổ của cuộc chiến đó. Chúng ta không cần chiến tranh", ám chỉ đến ngày kỷ niệm Đức xâm lược Nga bắt đầu đúng 22 năm về trước.[21] Một thời gian sau nhiệm vụ, có người cho rằng nữ phi hành gia đã được hỏi về việc Liên Xô nên cảm ơn bà như thế nào vì phục vụ đất nước; Tereshkova yêu cầu chính phủ tìm kiếm và công bố địa điểm nơi cha mình hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Mong muốn của bà đã được thực hiện và người ta cho dựng lên một tượng đài tại Lemetti, Karelia – nay thuộc phía biên giới của Nga.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Chiều tối ngày 22 tháng 6, Điện Kremli tổ chức một buổi lễ tiếp nhận, trong đó cả Bykovsky và Tereshkova đều được trao tặng Huân chương Lenin.[21]
Chưa đầy một tuần sau khi trở về từ không gian, Moskva đã đăng cai Đại hội Phụ nữ Quốc tế vào ngày 24 tháng 6, nơi Tereshkova và Bykovsky được chào mừng bởi khoảng 2.000 phụ nữ đến từ 119 quốc gia.[22] Trong số tất cả các phi hành gia người Nga, Tereshkova là người nhận được nhiều yêu cầu đến thăm các quốc gia nước ngoài nhất.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Chuyến đi của bà nói riêng cần sự chấp thuận trước từ Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và KGB, cuối cùng được Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, cơ quan chính trị cao nhất của nước này, cho phép.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Tất cả các phi hành gia Vostok đều công du khắp nơi, nhưng Tereshkova là người đi nhiều nhất; bà đã thực hiện 42 chuyến ra nước ngoài từ năm 1963 đến năm 1970.[23] Ngày 1 tháng 10 năm 1963, Tereshkova đến Havana, Cuba và gặp Fidel Castro. Bà đi tham quan ngay thời điểm đất nước này đang phải đối mặt với hậu quả của cơn bão nhiệt đới Flora.[24] Tháng sau, bà làm người trao tặng chiếc cúp bạc, với bên nhận thưởng là đội Liên Xô đã giành huy chương vàng ở cả năm hạng mục thuyền tại Giải vô địch chèo thuyền nữ châu Âu năm 1963 tổ chức tại Khimki, gần Moskva.[25] Đến tháng 2 năm 1964, Tereshkova đã mang thai khi đến thăm Nữ hoàng Elizabeth II của Vương quốc Anh, vốn cũng đang mang thai vào thời điểm đó.[26] Ngoại trừ một vài tháng nghỉ ngơi trong năm ấy, Tereshkova liên tục bận rộn với chuyến đi vòng quanh thế giới, và lại tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ công chúng chỉ hai tháng sau khi sinh con gái.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Sau chuyến bay vào không gian, Tereshkova đã trở thành hình mẫu quốc gia và quốc tế. Bà nhận được "điện tín và thư chúc mừng... từ khắp nơi trên thế giới".Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Những bức điện tín này thể hiện tác động của Tereshkova đối với các quốc gia khác ngoài Liên Xô. Phụ nữ đặc biệt phấn khích về chuyến bay của bà. Ví dụ, ở New Delhi, Tereshkova là một "hình mẫu nữ quyền đem đến thông điệp hy vọng cho phụ nữ Ấn Độ 'bị nô lệ'".[27]
Tereshkova là một đại biểu nổi tiếng của Liên Xô ở nước ngoài. Bà trở thành thành viên Hội đồng Hòa bình Thế giới năm 1966 và là thành viên của Xô viết Yaroslavl năm 1967. Bà cũng là đại diện của Liên Xô tham dự Hội nghị Liên hợp quốc về Năm Phụ nữ Quốc tế tại Thành phố México năm 1975. Bà từng dẫn đầu đoàn đại biểu Liên Xô tới Hội nghị Thế giới về Phụ nữ ở Copenhagen và bày tỏ sự "quan tâm đến chủ nghĩa quốc tế vô sản cũng như vai trò của phụ nữ trong việc đảm bảo nền hòa bình thế giới".[28] Tereshkova cũng được chọn vào một số vị trí chính trị, bao gồm thành viên Xô viết Tối cao Liên Xô (1966–1974), thành viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (1969–1991), và thành viên Đoàn Chủ tịch Xô viết Tối cao Liên Xô (1974–1989).[29] Bà còn nắm giữ chức phó chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ Quốc tế và chủ tịch Hội Hữu nghị Liên Xô – Algérie.[29]
Mặc dù rất mong muốn được tiếp tục theo đuổi sự nghiệp phi hành gia và kỹ sư, nhưng cấp trên lại có kế hoạch khác cho bà trong lĩnh vực chính trị.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Sau cái chết của Gagarin, chương trình không gian Liên Xô không muốn mạo hiểm mất đi một người anh hùng nữa.[30] Trái với mong muốn của mình, Tereshkova đã được bổ nhiệm làm lãnh đạo Ủy ban Phụ nữ Liên Xô vào năm 1968.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Vài tháng sau khi bà tốt nghiệp loại xuất sắc tại Học viện Kỹ thuật Không quân Zhukovsky vào tháng 10 năm 1969,Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. đội nữ phi hành gia bị giải tán và không có người phụ nữ nào bay vào vũ trụ nữa cho đến Svetlana Yevgenyevna Savitskaya vào năm 1982, sau 19 năm gián đoạn.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Đến năm 1976, Tereshkova đã là đại tá trong Không quân Liên Xô.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Tháng 4 năm 1977, bà lấy bằng tiến sĩ về kỹ thuật hàng không vũ trụLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. và trải qua các buổi kiểm tra y tế để đủ điều kiện tham gia chuyến bay không gian khi cuộc tuyển chọn nhóm nữ phi hành gia mới được công bố vào năm 1978.[30] Mặc dù không bay vào vũ trụ nữa, bà vẫn làm người hướng dẫn tại Trung tâm huấn luyện phi hành gia Yuri Gagarin.[31]
Sự nghiệp chính trị sau này
Tereshkova vẫn tiếp tục hoạt động chính trị ngay cả khi Liên Xô sụp đổ, song đã thất bại trong cuộc bầu cử vào Duma Quốc gia năm 1995.[32] Cũng trong năm đó, Tereshkova được thăng hàm thiếu tướng danh dự. Ngày 28 tháng 4 năm 1997, bà rời Không quân Nga vì đã đến thời điểm nghỉ hưu bắt buộc ở tuổi 60.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Năm 2003, Tereshkova lại ra tranh cử một ghế trong Duma Quốc gia.[32] Năm 2007, bà được mời đến dinh Thủ tướng Vladimir Vladimirovich Putin ở Novo-Ogaryovo để kỷ niệm sinh nhật lần thứ 70 của mình. Tại đó, nữ chính trị gia cho biết bà muốn bay đến Sao Hỏa, ngay cả khi đó có là chuyến đi một chiều.[33][34] Sau đó vào năm 2008, bà được bầu vào quốc hội khu vực của mình là Duma tỉnh Yaroslavl.[32]
Ngày 4 tháng 12 năm 2011, Tereshkova đắc cử Duma Quốc gia, hạ viện của cơ quan lập pháp Nga, với tư cách là đại biểu của tỉnh Yaroslavl và thành viên Đảng Nước Nga Thống nhất.[35][36][37] Tại Duma Quốc gia khóa VI, cùng với Yelena Borisovna Mizulina, Irina Anatolyevna Yarovaya và Andrei Vladimirovich Skoch, bà là thành viên của ủy ban liên phái bảo vệ các giá trị Kitô giáo.[38] Với vai trò này, nữ chính trị gia ủng hộ việc đưa ra các sửa đổi nhằm vào phần mở đầu của Hiến pháp, trong đó bổ sung rằng "Chính thống giáo là nền tảng của bản sắc dân tộc và văn hóa Nga".[38] Những cách nhìn này trái ngược với quan điểm vô thần mà Tereshkova từng ủng hộ trong thời kỳ Xô viết, vốn phù hợp với đường lối chính thức của Đảng Cộng sản vào thời điểm đó, chẳng hạn như gọi tôn giáo là "một tai họa lớn".[39]
Ngày 18 tháng 9 năm 2016, Tereshkova tái đắc cử vào Duma Quốc gia khóa VII.[40] Bà giữ chức phó chủ tịch Ủy ban về Cấu trúc Liên bang và Chính quyền Địa phương.Bản mẫu:Efn[36]
Trong quá trình soạn thảo sửa đổi Hiến pháp Nga năm 2020, bà đã đề xuất dỡ bỏ giới hạn nhiệm kỳ của Tổng thống Putin.[41]
Đáp trả lại việc Nga xâm lược Ukraina,[42] ngày 30 tháng 9 năm 2022, Bản mẫu:Ill thuộc Bộ Ngân khố Hoa Kỳ đã thêm Tereshkova vào Bản mẫu:Ill, dẫn đến việc đóng băng tài sản của nữ chính trị gia và cấm những pháp nhân Mỹ giao dịch với bà.[43][44] Tháng 12 năm 2022, Liên minh châu Âu (EU) cũng áp đặt lệnh trừng phạt đối với nhiều nhân vật truyền thông và chính trị gia người Nga, trong đó có Tereshkova, bao gồm việc đóng băng tài sản và cấm họ nhập cảnh vào các quốc gia thành viên EU.[45][46][47]
Đời tư
Ngày 3 tháng 11 năm 1963, Valentina kết hôn với phi hành gia Andriyan Grigoryevich Nikolayev tại Moskva, với Khrushchyov chủ trì tiệc cưới cùng sự góp mặt của các nhà lãnh đạo hàng đầu chính phủ và chương trình không gian.[48] Cuộc hôn nhân được các cơ quan vũ trụ Liên Xô khuyến khích như một "thông điệp cổ tích gửi đến đất nước".[49] Tướng Kamanin, người đứng đầu chương trình không gian, mô tả hôn lễ này "có thể hữu ích cho chính trị và khoa học".[50] Ngày 8 tháng 6 năm 1964, gần một năm sau chuyến bay vào vũ trụ, bà hạ sinh con gái Elena Andrianovna Nikolaeva-Tereshkova,Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. người đầu tiên có cả cha lẫn mẹ đều đã du hành vào không gian.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Những năm về sau, cặp đôi ngày càng xa cách và thậm chí từ chối đứng cạnh nhau khi chụp ảnh. Tereshkova nói với người viết tiểu sử Antonella Kerr rằng cuộc hôn nhân đã kết thúc vào năm 1977;Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. bà ly hôn Nikolayev năm 1982 và đi bước tiếp với Yuli Georgiyevich Shaposhnikov, một bác sĩ phẫu thuật mà bà đã gặp trong quá trình khám sức khỏe để đủ điều kiện trở thành phi hành gia.[30][49]Bản mẫu:Efn Họ ở bên nhau cho đến khi Shaposhnikov qua đời vào năm 1999.[49]
Giải thưởng và danh hiệu
Nga
Trang Bản mẫu:Div col/styles.css không có nội dung.
- Huân chương Vì Tổ quốc:Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
- Huân chương Aleksandr Nevsky (2013)[52]
- Huân chương Danh dự (10 tháng 6 năm 2003)[7]
- Huân chương Hữu nghị (12 tháng 4 năm 2011)[53]
- Giải thưởng Nhà nước Liên bang Nga vì thành tựu nổi bật trong lĩnh vực hoạt động nhân đạo năm 2008 (4 tháng 6 năm 2009)[7]
- Huy chương cho các cá nhân tham gia hoạt động quân sự tại Syria (2016)[54]
- Huân chương Gagarin (2023)
- Bản mẫu:Ill (2018)[55]
- Bằng khen từ Chính phủ Liên bang Nga;
- 3 tháng 3 năm 1997 – vì đóng góp cho sự phát triển của lĩnh vực không gian, tăng cường mối liên kết văn hóa và khoa học quốc tế và nhiều năm làm việc chuyên cần[56]
- 12 tháng 6 năm 2003 – vì đóng góp to lớn cho sự phát triển của chuyến bay vũ trụ có người lái[57]
- 16 tháng 6 năm 2008 – vì các hoạt động công chúng và nhà nước hiệu quả lâu dài, đóng góp cá nhân đáng kể cho sự phát triển của chuyến bay vũ trụ có người lái và có liên quan đến kỷ niệm 45 năm chuyến bay vũ trụ[58]
- Huân chương Thánh Euphrosyne của Moskva (tháng 1 năm 2008)[7]
Liên Xô
- Thạc sĩ Thể thao Danh dự Liên Xô (tháng 6 năm 1963)[59]
- Anh hùng Liên Xô (1963)[22][60]
- Huân chương Lenin (1963,[61] 1981[36])
- Huân chương Cách mạng Tháng Mười (1971)Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
- Huân chương Cờ đỏ Lao động (1987)Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
- Huân chương Hữu nghị Nhân dânLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
- Bản mẫu:Ill (1963)[61]
Các danh hiệu khác
Trang Bản mẫu:Div col/styles.css không có nội dung.
- Ngôi sao vàng Anh hùng lao động Xã hội Chủ nghĩa Liên Xô (Tiệp Khắc, tháng 8 năm 1963)[62]
- Ngôi sao vàng Anh hùng lao động Xã hội Chủ nghĩa Liên Xô (Bulgaria) (9 tháng 9 năm 1963)[7]
- Huân chương Georgi Dimitrov (Bulgaria, 9 tháng 9 năm 1963)[7]
- Huân chương Karl Marx (Đông Đức, tháng 10 năm 1963)[7][63]
- Bản mẫu:Ill (Đông Đức, tháng 10 năm 1963)[7]
- Chữ thập Grunwald, hạng 1 (Ba Lan, tháng 10 năm 1963)[7]
- Huân chương Quốc kỳ Cộng hòa Hungary, hạng 1 (tháng 4 năm 1965)[7]
- Ngôi sao Cộng hòa Indonesia, hạng 2 (tháng 11 năm 1963)[7]
- Huân chương Volta (Ghana, tháng 1 năm 1964)[7][64]
- Huy chương Sao Vàng Anh hùng nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ (tháng 5 năm 1965)[7]
- Huân chương Sukhbaatar (Mông Cổ, tháng 5 năm 1965)[7]
- Huân chương Khai sáng (Afghanistan, tháng 8 năm 1969)[7]
- Huân chương các Hành tinh (Jordan, tháng 12 năm 1969)[7]
- Huân chương Sông Nile (Ai Cập, tháng 1 năm 1971)[7]
- Sao Vàng Anh hùng Lao động (Việt Nam, tháng 10 năm 1971)[7]
- Huân chương Bernardo O'Higgins (Chile, tháng 3 năm 1972)[7]
- Huân chương Ana Betancourt (Cuba, 1974)[65]
- Huân chương Hữu nghị (Lào, 1997)[66]
- Huân chương Công tước Branimir, với khăn quàng vai (Croatia, trao ngày 8 tháng 9 năm 2005)[67]
- Chiếc nhẫn vinh dự từ quỹ Eduard-Rhein-Stiftung của Đức năm 2007[68]
- Huy chương Vàng của Hội Liên lạc liên Hành tinh Anh "vì những thành tựu trong lĩnh vực khám phá không gian" (tháng 2 năm 1964)[69]
- Huy chương Không gian Vàng (FAI, 1963)[70]
- Tiến sĩ danh dự từ Đại học Edinburgh (1990)[71]
Di sản
Năm 1963, Quảng trường Novopromyshna ở Tver được đổi tên thành Quảng trường Tereshkova.[72]
Năm 1967, Gregory Postnikov đã tạo ra một tác phẩm điêu khắc về Tereshkova đặt tại Con đường Phi hành gia (Аллея Космонавтов) ở Moskva.[73][74] Một tượng đài cũng được xây dựng ở huyện Baevsky thuộc vùng Altai, Siberia, gần nơi bà hạ cánh ở tọa độ Bản mẫu:Coord.[75] Tháng 8 năm 1970, Tereshkova là một trong những người đầu tiên được đặt tên cho hố thiên thạch trên Mặt Trăng khi vẫn còn sống.[76] Hố Tereshkova này nằm ở nửa không nhìn thấy của Mặt Trăng.[77]
Không ai trong số bốn người còn lại trong nhóm ban đầu của Tereshkova được bay, và vào tháng 10 năm 1969, nhóm phi hành gia nữ tiên phong bị giải thể. Mặc dù đã xuất hiện kế hoạch cho các chuyến bay tiếp theo có phụ nữ, nhưng phải mất 19 năm sau mới có người phụ nữ thứ hai, Svetlana Yevgenyevna Savitskaya, bay vào vũ trụ.[6]Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Năm 1997, nhóm nhạc pop điện tử Komputer đặt tại London đã phát hành một bài hát có tựa đề "Valentina", kể lại ít nhiều về sự nghiệp của bà với tư cách là một nhà du hành vũ trụ.[78]Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Bài hát được phát hành dưới dạng đĩa đơn và xuất hiện trong album The World of Tomorrow.[79][80] Album năm 2000 Vostok 6 của Kurt Swinghammer cũng là một album chủ đề về Tereshkova.[81] Album năm 2015 The Race for Space của Public Service Broadcasting có một bài hát mang tên "Valentina", với sự góp mặt của nhóm nhạc Smoke Fairies.[82][83] Cùng trong năm đó, Findlay Napier cho ra mắt album VIP: Very Interesting Persons bao gồm một bài hát "Valentina", do Napier và Boo Hewerdine sáng tác để vinh danh bà.[84] Năm 2015, Meat Bingo Productions phát hành một bộ phim ngắn mang tên Valentina's Dream. Phim có sự tham gia của Rebecca Front trong vai Tereshkova và được dựa trên cuộc phỏng vấn với cựu phi hành gia này, trong đó bà bày tỏ mong muốn du hành tới Sao Hỏa.[85]
Bảo tàng Vũ trụ (Музей Космос) mở cửa vào ngày 25 tháng 1 năm 1975 gần Yaroslavl. Trong số các hiện vật trưng bày có một bản sao ngôi nhà thời thơ ấu của Tereshkova.[86] Tên của bà cũng được đặt cho nhiều công trình, như thư viện thành phố vào năm 2013,[87] ngôi trường bà theo học khi còn nhỏ,[88] hay một cung thiên văn khánh thành năm 2011 ở Yaroslavl.[88][89] Hiệp hội Phụ nữ Quốc tế của Năm đã vinh danh bà là "người phụ nữ của thế kỷ 20" (greatest woman achiever of the 20th century).[90][91] Tereshkova là người cầm đuốc trong lễ rước đuốc Thế vận hội Mùa hè 2008 tại Sankt-Peterburg[92] và Thế vận hội Mùa đông 2014 tại Sochi.[93]
Các con phố ở Ukraina mang tên Tereshkova đã bị đổi tên do bà ủng hộ các hành động quân sự của Nga chống lại Ukraina và theo luật phi cộng sản năm 2015 của nước này.[94][95] Một đề xuất cũng được đưa ra vào năm 2015 về việc di chuyển tượng đài Tereshkova ở Lviv, Ukraina đến bảo tàng khủng bố (музей террора). Như một phần của nỗ lực phi cộng sản hóa, tượng đài các nhà lãnh đạo cộng sản đều bị dỡ bỏ khỏi nơi công cộng và đưa vào bảo tàng.[96] Tháng 1 năm 2021, 24 con đường ở Ukraina vẫn được đặt theo tên Tereshkova; bao gồm một con phố ở Busk, nằm cùng tỉnh với Lviv.[97] Tính đến năm 2023, những con đường này đã có tên mới và không còn bất kỳ công trình nào được đặt theo Tereshkova ở Ukraina nữa.[98] Tượng đài Tereshkova ở Lviv cũng bị tháo dỡ vào tháng 11 năm 2023 và chuyển đến Bảo tàng Chế độ toàn trị (Музей тоталітарних режимів).[99]
Ghi chú
Tham khảo
Trích dẫn
Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.
- ^ Bản mẫu:Cite act
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
- ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.Bản mẫu:Cbignore
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:Harvnb
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă â Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă â Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă â Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
- ^ a ă â Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:Cite act Bản mẫu:Webarchive
- ^ Bản mẫu:Cite act Bản mẫu:Webarchive
- ^ Bản mẫu:Cite act Bản mẫu:Webarchive
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:Cite report
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
Nguồn
Trang Bản mẫu:Đầu tham khảo/styles.css không có nội dung.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Tái bản của Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
Đọc thêm
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
Liên kết ngoài
Bản mẫu:Side box Bản mẫu:Side box
- đổi Bản mẫu:Double singleThử nghiệm công nghệ vũ trụ và tên lửa – công việc của đời tôi' Sự kiện và sự thật"] – Arkady Ilyich Ostashev, Korolyov, 2001.
- "Người phụ nữ đầu tiên trong không gian" tại History.com
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Authority control”. Bản mẫu:Chương trình vũ trụ Vostok Bản mẫu:Duma Quốc gia Nga thứ 8 Bản mẫu:Sao bài viết tốt