Bước tới nội dung

Altai (vùng)

52°46′B 82°37′Đ / 52,767°B 82,617°Đ / 52.767; 82.617
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trang Bản mẫu:Thông tin khu dân cư/styles.css không có nội dung.

Altai Krai
Алтайский край
—  Krai  —
Altai Krai
Bản mẫu:Thông tin khu dân cư/cột
Khẩu hiệu: none
Hiệu ca: none
Lỗi Lua trong Mô_đun:Location_map tại dòng 461: Giá trị "<strong class="error"><span class="scribunto-error mw-scribunto-error-99f5a372">Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Thông tin khu dân cư”.</span></strong>" không phải là kinh độ hợp lệ.
Quốc giaNga
Tư cách chính trịKrai
Vùng liên bangSiberia
Vùng kinh tếTây Xibia
Thành lập28 tháng 9 năm 1937
Chính quyền
 • Thống đốcAlexander Karlin
 • Lập phápLegislative Assembly of Altai Krai
Diện tích
 • KraiBản mẫu:Thông tin khu dân cư/areadisp
Thứ hạng diện tíchthứ 22
Dân số (Điều tra 2010)
 • Krai2.419.755
 • Thứ hạng21st
 • Mật độBản mẫu:Thông tin khu dân cư/densdisp
 • Đô thị54,7%
 • Mật độ đô thịBản mẫu:Thông tin khu dân cư/densdisp
 • Thôn quê45,3%
 • Mật độ thôn quêBản mẫu:Thông tin khu dân cư/densdisp
Biển số xe22
Biển số xe22
Websitehttp://www.altairegion22.ru/

Altai Krai (tiếng Nga:Алта́йский край, Altaysky kray) là một chủ thể liên bang của Nga (một vùng). Trung tâm hành chính là thành phố Barnaul. Kinh tế dựa vào nông nghiệp. Dân số 2.419.755 theo điều tra năm 2010.[2]

Địa lý

Núi Belukha

Phía bắc giáp tỉnh Novosibirsk, phía nam giáp cộng hòa Altai, phía đông giáp tỉnh Kemerovo, phía tây giáp các tỉnh Đông KazakhstanPavlodar của Kazakhstan.

Khí hậu khắc nghiệt với mùa đông dài lạnh khô và mùa hè thường nóng và khô. Sông chính của khu vực là sông Obi. Các con sông Biya, Katun, và Chuya cũng rất quan trọng. Các hồ lớn nhất là hồ Kulundinskoye, hồ Kuchukskoye, và Hồ Mikhaylovskoye.[3]

Altai Krai có dự trữ rất lớn của các nguyên liệu, đặc biệt là vật liệu được sử dụng để xây dựng, cũng như trữ lượng khoáng sản đáng kể. Chúng bao gồm các kim loại màu, chì và quặng sắt, wolfram, mangan, molypden, bauxite, và vàng. Rừng bao gồm khoảng 60.000 km ² đất của Krai.

Tại đây có núi Belukha, cao 4.506 m, cao nhất dãy Altay.

Lịch sử

Khu vực này là một phần của một giao lộ lớn trong thế giới cổ đại.[4] Các bộ lạc du mục đã di chuyển qua lãnh thổ này trong thời kỳ di cư và bao gồm các dân tộc khác nhau. Các địa điểm khảo cổ học tiết lộ rằng con người thời xa xưa sống trong khu vực này.[3] Những người Altay là những người gốc Turk, một số người trong số họ đã định cư ở đây, ban đầu sống du canh du cư và sống ổn định tại đây từ thiên niên kỷ thứ 2 TCN.[5]

Tham khảo

Chú thích

  1. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). (Chính phủ Liên bang Nga. Luật liên bang #107-FZ of 2011-06-31 Về việc tính toán thời gian, sửa đổi bởi Luật Liên bang #271-FZ of 2016-07-03 Về việc sửa đổi luật liên bang "Về việc tính toán thời gian". Có hiệu lực từ 6 ngày sau ngày công bố chính thức.).
  2. ^ Cục Thống kê Quốc gia Liên bang Nga (2011). "Всероссийская перепись населения 2010 года. Том 1" [2010 All-Russian Population Census, vol. 1]. Всероссийская перепись населения 2010 года [Kết quả sơ bộ Điều tra dân số toàn Nga năm 2010] (bằng tiếng Nga). Cục Thống kê Quốc gia Liên bang Nga.
  3. ^ a ă "Altai Territory". Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2006.
  4. ^ "Greater Altai – Altai Krai, Republic of Altai, Tyva (Tuva), and Novosibirsk — Crossroads". Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2006.
  5. ^ "Peoples from Russia — Alexey, guide in Altay region". Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2006.

Nguồn

  • Jusopova, Evgenija (2010). "Vorgehen gegen die Teilnehmer des Aufstandes von Sorokino in der Altaj-Region". Trong Rolf Binner; Bernd Bonwetsch; Marc Junge (biên tập). Stalinismus in der sowjetischen Provinz 1937–1938. Die Massenaktion aufgrund des operativen Befehls No. 00447 (bằng tiếng Đức). Berlin: Akademie Verlag. tr. 91–109. ISBN 978-3-05-004685-3.
  • Алтайское краевое Законодательное Собрание. №3-ЗС 5 июня 1995 г. «Устав (основной закон) Алтайского края», в ред. Закона №118-ЗС от 1 декабря 2015 г. «О внесении изменений в Устав (Основной Закон) Алтайского края». Опубликован: "Алтайская правда", №100, 14 июня 1995 г. (Altai Krai Legislative Assembly. #3-ZS ngày 5 tháng 6 năm 1995 Charter (Basic Law) of Altai Krai, as amended by the Law #118-ZS of ngày 1 tháng 12 năm 2015 On Amending the Charter (Basic Law) of Altai Krai.).
  • Центральный исполнительный комитет СССР. Постановление от 28 сентября 1937 г. «О разделении Западно-Сибирского края на Новосибирскую область и Алтайский край». (Central Executive Committee of the USSR. Resolution of ngày 28 tháng 9 năm 1937 On Splitting West Siberian Krai into Novosibirsk Oblast and Altai Krai.).

Liên kết ngoài