Cầu thủ chặn ngắn
Vị trí chặn ngắn (viết tắt là SS) là vị trí phòng thủ hàng tiền vệ trong bóng chày hoặc bóng mềm nằm giữa hai vị trí chốt thứ hai và thứ ba, cùng hai vị trí phòng ngự khác tương ứng, và được coi là một trong những vị trí phòng thủ đòi hỏi cao nhất. Trong lịch sử, vị trí này được giao cho những chuyên gia phòng ngự thường có khả năng đánh bóng hạn chế và thường được xếp ở cuối đội hình đánh bóng. Ngày nay, các cầu thủ chặn ngắn thường có khả năng đánh bóng tốt và nhiều người còn được xếp đánh hàng đầu đội hình. Trong hệ thống đánh số được các trọng tài sử dụng để ghi chép các pha phòng thủ, vị trí chặn ngắn được đánh số 6.
Vị trí chặn ngắn nhận nhiều bóng đánh ra hướng của mình hơn bất kỳ vị trí nào khác, do trong bóng chày có nhiều cầu thủ đánh bóng thuận tay phải hơn người đánh thuận tay trái, và hầu hết người đánh bóng có xu hướng kéo bóng nhẹ về phía bên trái. Giống như cầu thủ chốt hai, cầu thủ chặn ngắn phải nhanh nhẹn, ví dụ như khi thực hiện pha phối hợp loại kép 4-6-3. Ngoài ra, giống như cầu thủ chốt ba, chặn ngắn phải bắt bóng đánh ra bên trái khu vực sân trong, nơi xa chốt một, và cần một cánh tay khỏe để ném về loại người đánh bóng trước khi họ đến chốt một tối thiểu an toàn.
Lịch sử
Theo nhà sử học John Thorn và nhà nghiên cứu của Đại sảnh Danh vọng Bóng chày Freddy Berowski, khái niệm về vị trí chặn ngắn được tạo ra bởi cầu thủ Doc Adams của đội Knickerbockers.[1][2] Trong năm năm đầu tiên đội Knickerbockers thi đấu, và cũng là thời kỳ sơ khai của môn thể thao, đội có đội hình phòng ngự có bất kỳ từ tám đến mười một cầu thủ. Trong đó, hàng tiền vệ ở sân trong chỉ có ba vị trí phụ trách từng chốt của mình; nếu có nhiều hơn tám cầu thủ, đội sẽ bố trí thêm vị trí hậu vệ. Tuy nhiên, các cầu thủ hậu vệ gặp khó khăn khi ném chuyền bóng hiệu quả về hàng tiền vệ vì trọng lượng nhẹ của bóng. Vị trí chặn ngắn, mà Adams tạo ra và bắt đảm nhiệm trong khoảng thời gian từ năm 1849 đến năm 1850, được sử dụng để bắt trung chuyển những cú ném từ hàng hậu vệ và ném về ba vị trí tiền vệ giữ chốt còn lại.[1][3] Do vị trí này bấy giờ đứng gần hàng hậu vệ hơn là là hàng tiền vệ, nên còn được gọi là "hậu vệ ngắn" (một thuật ngữ vẫn được sử dụng trong bóng mềm ném nhẹ dành cho vị trí phòng ngự thứ 10).[4]
Với sự xuất hiện của những quả bóng chày chất lượng cao hơn, Adams dần chuyển vị trí đứng vào sân trong.[1] Tuy nhiên, Dickey Pearce, chủ yếu thi đấu đội Brooklyn Atlantics, được coi là người đầu tiên chơi ở vị trí chặn ngắn như được biết tới hiện nay.[5] Adams có sự nghiệp thi đấu lâu dài với đội Knickerbockers, khi thi đấu cho đến năm 1860.[6]
Đặc điểm
Không giống như cặp giao bóng và bắt bóng, vốn phải bắt đầu mỗi pha bóng ở một khu vực cố định (người giao bóng phải ở trên ụ ném bóng, với một chân tiếp xúc với mốc ném và người bắt bóng phải ở phía sau chốt nhà trong vùng đứng bắt bóng), người chơi chặn ngắn và các vị trí khác trên sân có thể thay đổi vị trí đứng của họ để đáp ứng những gì họ dự đoán sẽ là hành động của người đánh bóng và chân chạy khi pha bóng bắt đầu.[7]
Vị trí đứng của cầu thủ chặn ngắn thường nằm ở phía trái sân gần chốt thứ hai. Vì những người đánh bóng thuận tay phải thường đánh bóng ra trái sân nhiều hơn, nên chặn ngắn thường sẽ di chuyển ra đứng gần chốt thứ ba hơn nếu người đánh bóng thuận tay phải, và gần chốt thứ hai hơn nữa nếu người đánh bóng thuận tay trái. Cầu thủ chơi chặn ngắn thường có cánh tay ném bóng khỏe, vì khoảng cách ném bóng khá xa về phía chốt một, trong khi có ít thời gian để ném bóng do những cú bóng nảy đất mà anh ta chặn thường bay ra khá xa. Cầu thủ chặn ngắn cũng phải cực kỳ nhanh nhẹn, vì những quả bóng được đánh đến hoặc gần vị trí này thường đánh ra với tốc độ cao hơn so với ra các vị trí khác trong sân.
Các cầu thủ chơi ở vị trí shortstop phải bọc lót ở chốt hai trong các tình huống loại kép khi bóng được đánh về phía cầu thủ ở vị trí chốt hai hoặc chốt một. Họ cũng bọc lót chốt hai khi người chạy đang cố gắng cướp chốt, nhưng chỉ khi người đánh bóng thuận tay trái vì hàng phòng ngự sẽ phản ứng bằng cách di chuyển dạt sang phải phía chốt một, khiến chặn ngắn là cầu thủ đứng gần chốt hai nhất. Cầu thủ chặn ngắn cũng phải bao quát chốt ba trong một số trường hợp, bao gồm cả tình huống xoay vòng, xảy ra khi có chân chạy ở chốt một và hai còn ngừoi đánh bóng cố gắng thực hiện cú bunt hy sinh về phía chốt ba, buộc cầu thủ vị trí chốt ba phải rời xa chốt ba để thu hồi bóng. Ngoài ra, cầu thủ chặn ngắn thường được ưu tiên bắt những cú bóng bổng pop-up trong sân trong, vì vậy họ thường phải ra hiệu cho các cầu thủ khác, mặc dù đối với những cú pop-up xa, họ thường phải lùi lại nhường cầu thủ hậu vệ khi được ra hiệu. Họ thường trở thành người trung chuyển những quả bóng thu hồi bất kỳ phần nào ở sân ngoài ném về chốt thứ ba và tất cả các quả đánh ra cánh trái và giữa sân ngoài ném về chốt thứ hai. Tùy thuộc vào hệ thống chiến thuật, cầu thủ chơi ở vị trí chặn ngắn có thể chặn những quả bóng từ cánh trái sân ngoài ném về chốt nhà; tuy nhiên, đây thường là nhiệm vụ của cầu thủ ở vị trí chốt ba.
Yêu cầu kỹ năng phòng ngự cao khiến vị trí này trở nên đặc biệt khó đảm nhiệm. Trong lịch sử, một chặn ngắn giỏi không nhất thiết phải đánh bóng giỏi. Một số cầu thủ đánh bóng dở nhất trong lịch sử Giải bóng chày Nhà nghề Mỹ (MLB) đã thi đấu ở vị trí này, đáng chú ý nhất là Mario Mendoza, người mà tên bị George Brett dùng để phổ biến khái niệm gọi là Ngưỡng Mendoza (Mendoza Line) để mô tả tỷ lệ đánh bóng trung bình .200. Tuy nhiên, kể từ những năm 1960, khả năng đánh bóng tầm thường như vậy đã trở nên khó chấp nhận hơn khi các đội ngày càng yêu cầu khắt khe việc cầu thủ có khả năng vừa phòng thủ vừa đánh bóng.[8]
Trên thực tế, một chặn ngắn có trình độ trung bình nhưng đánh bóng tốt có thể sẽ được đẩy sang sang chơi hầu hết mọi vị trí khác, đặc biệt là chốt hai hoặc chốt ba, từ sớm (ví dụ, George Brett và Mike Schmidt đều được thử sức ở vị trí chặn ngắn vào đầu sự nghiệp của họ)[9][10] hoặc sau khi phạm vi phòng ngự của họ đi xuống, phản xạ chậm hơn, tay ném yếu hơn, nguy cơ chấn thương tăng lên hay đơn giản là phải tranh vị trí với một chặn ngắn xuất sắc khác, như trường hợp của Ernie Banks, Cal Ripken Jr., Alex Rodríguez, Michael Young hoặc Miguel Tejada.
Các cầu thủ chặn ngắn xuất sắc
Các cầu thủ được ghi danh vào Đại sảnh Danh vọng Bóng chày
Các cầu thủ được liệt kê dưới đây bao gồm năm được ghi danh trong ngoặc đơn.
- Luis Aparicio (1984)
- Luke Appling (1964)
- Dave Bancroft (1971)
- Ernie Banks (1977)
- Lou Boudreau (1970)
- Joe Cronin (1956)
- George Davis (1998)
- Travis Jackson (1982)
- Hughie Jennings (1945)
- Derek Jeter (2020)
- Barry Larkin (2012)
- John Henry "Pop" Lloyd (1977)
- Rabbit Maranville (1954)
- Paul Molitor (2004) (đã thi đấu ở vị trí SS vào năm 1978, 1979, và 1982)
- Pee Wee Reese (1984)
- Cal Ripken Jr. (2007)
- Phil Rizzuto (1994)
- Joe Sewell (1977)
- Ozzie Smith (2002)
- Joe Tinker (1946)
- Alan Trammell (2018)
- Arky Vaughan (1985)
- Honus Wagner (1936)
- Bobby Wallace (1953)
- John Montgomery Ward (1964)
- Willie Wells (1997)
- George Wright (1937)
- Robin Yount (1999)
Ghi chú
- John Henry Lloyd và Willie Wells được bầu chọn nhờ thành tích thi đấu của họ tại các giải dành cho người da màu.
- George Wright được bầu chọn với tư cách vận động viên thời kỳ sơ khai, nhưng ông cũng là một cầu thủ xuất sắc ở vị trí chặn ngắn trong những năm 1860 và 1870.
- Robin Yount bắt đầu sự nghiệp với vị trí chặn ngắn (shortstop), sau đó chuyển sang vị trí hậu vệ và chơi ở vị trí này trong chín mùa giải còn lại trong sự nghiệp. (Ông đã giành giải MVP ở vị trí chắn ngắn năm 1982, và ở vị trí trung vệ năm 1989)
- Ernie Banks chơi ở vị trí chặn ngắn trong nửa đầu sự nghiệp và ở vị trí chốt một trong phần còn lại.
Xem thêm
Tài liệu tham khảo
- ^ a b c Thorn, John. "Doc Adams". Society for American Baseball Research. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2011. Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; tên "SABR" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau - ^ Miller, Robert (ngày 26 tháng 9 năm 2009). "The Ridgefield man who helped invent baseball". The News-Times. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2011.
- ^ Miller, Robert (ngày 26 tháng 9 năm 2009). "'Doc' Adams legacy; The position of shortstop". The News-Times. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2011.
- ^ Dickson, Paul (1998). The Dickson Baseball Dictionary. New York: Facts On File. tr. 317, 611, 772, 792. ISBN 9780816017416. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2023.
- ^ McKenna, Brian. "Dickey Pearce". Society for American Baseball Research. SABR. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2021.
- ^ Thorn, John (2011). Baseball in the Garden of Eden: The Secret History of the Early Game. Simon & Schuster. tr. 106. ISBN 978-0-7432-9403-4.
- ^ Baseball Explained, by Phillip Mahony. McFarland Books, 2014. See www.baseballexplained.com Lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2014 tại Wayback Machine
- ^ Seminara, Dave (ngày 6 tháng 7 năm 2010). "Branded for life with 'The Mendoza Line'". St. Louis Post-Dispatch. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2013.
- ^ "George Brett Statistics and History". Baseball-Reference.com. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2011.
- ^ "Mike Schmidt Statistics and History". Baseball-Reference.com. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2011.