Solanum baretiae
Solanum baretiae là một loài thực vật có hoa trong chi Cà, một thành viên của họ Cà bao gồm khoai tây và cà chua. Loài này thuộc đoạn Anarrhichomenum và có những điểm tương đồng với loài Solanum chimborazense. Loài cây này được tìm thấy ở dãy Andes thuộc miền nam Ecuador và tây bắc Perú. Solanum baretiae được nhà thực vật học người Mỹ Eric J. Tepe miêu tả vào năm 2012 và đặt tên theo nhà thực vật học người Pháp Jeanne Baret, người phụ nữ đầu tiên đi vòng quanh thế giới, cải trang thành nam giới và làm trợ lý cho Philibert Commerson. Loài cây này xuất hiện ở nhiều môi trường sống khác nhau, với tình trạng bảo tồn được phân loại là ít quan tâm.
| Solanum baretiae | |
|---|---|
| Phân loại khoa học | |
| Giới: | Plantae |
| nhánh: | Embryophytes |
| nhánh: | Tracheophyta |
| nhánh: | Spermatophytes |
| nhánh: | Angiospermae |
| nhánh: | Eudicots |
| nhánh: | Asterids |
| Bộ: | Solanales |
| Họ: | Solanaceae |
| Chi: | Solanum |
| Loài: | S. baretiae
|
| Danh pháp hai phần | |
| Solanum baretiae Tepe | |
Miêu tả
Solanum baretiae là một loài thuộc chi Cà, khá giống Solanum chimborazense nhưng có nhiều hoa hơn, lớn hơn và khác về sự phủ lông.[3] Đây là một loại dây leo có thể mọc dọc theo mặt đất hoặc trên các cây khác, cao tới 3 mét (9,8 ft).[4] Lá cây thường có dạng từ ba đến năm lông chim, nhưng cũng có thể là từ lá đơn (phiến lá không có sự phân chia) đến bảy lông.[4] Số lượng lá chét có thể cao bất thường; loài duy nhất khác trong đoạn Anarrhichomenum có đặc điểm tương tự là Solanum sodiroi.[5] Hoa mọc thành từng cụm nhỏ từ một đến tám (nhiều hơn ở thân chính, lên đến ba hoa ở cành) và có cấu trúc lưỡng tính.[6] Các cánh hoa được sắp xếp như một tràng hoa ngũ giác có đường kính từ 0,8 đến 1,5 cm (0,31 đến 0,59 in), với các sắc thái từ tím đến trắng với một số màu vàng.[7] Quả có hình elip, dài khoảng 2 đến 2,5 cm (0,79 đến 0,98 in) và rộng từ 1,5 đến 2 cm (0,59 đến 0,79 in), có màu xanh lục khi còn non trước khi chuyển sang màu cam.[6] Hạt khá phẳng với hình tròn hoặc hình giọt nước và dài từ 3 đến 4,2 mm (0,12 đến 0,17 in), có màu từ nhạt đến nâu vừa với bề mặt nhẵn cùng các đường xuyên tâm trên cánh.[6]
Các mẫu vật thu thập được cho thấy cây ra hoa vào khoảng tháng 6 đến tháng 8 cũng như vào tháng 10. Cũng theo quan sát, cây kết quả vào tháng 5 và tháng 6.[6]
Phân loại và từ nguyên
Nhà thực vật học Eric J. Tepe từ Đại học Utah và Đại học Cincinnati đã đặt tên cho Solanum baretiae.[8][9] Ông mô tả loài này trong một ấn phẩm năm 2012 có tiêu đề "Một loài Solanum mới được đặt tên theo Jeanne Baret, một người đóng góp ít được biết đến cho lịch sử thực vật học". Đồng tác giả của nghiên cứu có chuyên gia Lynn Bohs về chi Cà từ Đại học Utah và Glynis Ridley, người đã biên soạn cuốn tiểu sử The Discovery of Jeanne Baret.[3][9] Họ xếp loài vào đoạn Anarrhichomenum của chi Cà, một chi có khoảng 1.500 loài và bao gồm các loài thực vật có tầm quan trọng rất cao về mặt nông nghiệp như cà chua, khoai tây và cà tím.[10] Cây này khác với Solanum chimborazense, với tràng hoa nhỏ hơn và ít hoa hơn, nhưng một số mẫu vật của Solanum baretiae cho đến năm 2012 đã được xác định là thuộc về Solanum chimborazense.[11] Mẫu vật điển hình được thu thập vào năm 1992 tại Perú.[4]
Tepe phát hiện ra loài này bằng cách nghiên cứu các mẫu vật trong phòng tiêu bản trong khi nỗ lực xem xét lại đoạn Anarrhichomenum.[4][8] Đến năm 2010, ông tìm thấy các mẫu vật trong tự nhiên ở Perú, nhưng vẫn chưa có tên cho loài mới này.[8] Sau khi nghe một cuộc phỏng vấn với Ridley trên đài phát thanh, ông đã nghĩ ra cách lấy tên Jeanne Baret,[9] người phụ nữ đầu tiên đi vòng quanh thế giới, để đặt cho một loài.[5]
Jeanne Baret (hay Barret, Baré) là một phụ nữ Pháp, quản gia, người tình và trợ lý của nhà thực vật học Philibert Commerson. Cải trang thành đàn ông, Baret đã đi cùng Commerson và Louis Antoine de Bougainville trong chuyến hải trình vòng quanh thế giới vào năm 1766. Sự hiện diện của phụ nữ trên tàu hải quân Pháp là trái với phong tục thời bấy giờ và bị cấm theo các quy định.[12] Baret đã được đào tạo về thực vật học có thể là từ Commerson, và cũng có thể là từ các bài giảng công khai của Bernard de Jussieu tại Jardin du Roi.[13] Trong chuyến hải trình, Baret hỗ trợ Commerson thu thập hơn 6.000 mẫu thực vật; vì Commerson thường xuyên bị bệnh, bà có lẽ đã tự mình thu thập được nhiều mẫu trong số này.[14] Các ước tính khác lên tới 30.000 mẫu vật bao gồm 5.000 loài mới.[15] Nhiều loài được đặt tên theo Commerson, chính ông đã có ý định lấy tên trợ lý của mình để đặt cho một chi là Baretia; tuy nhiên, điều này chưa bao giờ được công bố và những loài thực vật này hiện thuộc chi Turraea;[14] chi này đã được đặt tên trước khi mẫu vật của Commerson đến Paris.[16] Trong lời đề tặng dự định của mình, Commerson ghi nhận Baret là một "cô gái trẻ gan dạ" và cảm ơn bà vì "rất nhiều loài thực vật chưa từng được thu thập trước đây, vì rất nhiều phòng mẫu vật được lập ra một cách cẩn thận, vì rất nhiều bộ sưu tập côn trùng và vỏ động vật".[17] Xét đến sự ngụy trang của Baret, Commerson nghĩ rằng một loài thực vật có hình thái thay đổi nhiều là một lựa chọn đặc biệt thích hợp để mang tên bà.[17]
Tepe và các cộng sự đã dành tặng Solanum baretiae cho bà, sau Commerson khi tuyên bố "chúng tôi tin rằng loài Solanum mới này, với những chiếc lá đa dạng, là một sự tôn vinh xứng đáng dành cho Baret".[18] Qua đó, đây là loài đầu tiên được đặt tên theo Baret một cách chính thức.[9] Năm 2023, Martín E. Timaná đặt tên cho chi Baretia để vinh danh bà;[16] tính đến năm 2025, World Flora Online liệt kê Baretia là danh pháp đồng nghĩa của Stellaria.[19]
Phân bố và môi trường sống
Solanum baretiae mọc ở dãy Andes, trên độ cao từ 1.500–3.200 m (4.900–10.500 ft). Loài cây này được tìm thấy ở các tỉnh Cajamarca, La Libertad và Lambayeque thuộc tây bắc Perú, cũng như ở các tỉnh Loja và Tungurahua thuộc miền nam Ecuador. Loài phân bố ở nhiều môi trường sống khác nhau, bao gồm rừng, cây bụi và đồng cỏ.[1] Các địa điểm thu thập thường có mùa khô.[6][1] Phạm vi địa lý rộng nhưng phạm vi độ cao khá hẹp.[20]
Tình trạng bảo tồn
Năm 2012, các tác giả của mô tả ban đầu đã tiến hành đánh giá sơ bộ về tình trạng bảo tồn (vào thời điểm đó dữ liệu còn thiếu), cân nhắc phạm vi địa lý rộng lớn và thực tế là loài này chưa được thu thập phổ biến (chỉ dưới 10 địa điểm khác nhau) và kết luận rằng loài có thể rất hiếm. Tuy nhiên, họ nhận thấy loài cây này thích nghi với sự thay đổi môi trường sống do con người gây ra.[20] Đánh giá năm 2022 của IUCN xếp Solanum baretiae vào nhóm ít quan tâm, vì loài xuất hiện ở nhiều môi trường sống khác nhau. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu có thể gây ra sự phân mảnh môi trường sống và hạn chế phạm vi địa lý của cây.[1]
Tham khảo
- ^ a b c d Baldaszti 2024.
- ^ Tepe, Ridley & Bohs 2012, tr. 42.
- ^ a b Tepe, Ridley & Bohs 2012, tr. 37.
- ^ a b c d Tepe, Ridley & Bohs 2012, tr. 39.
- ^ a b Tepe, Ridley & Bohs 2012, tr. 44.
- ^ a b c d e Tepe, Ridley & Bohs 2012, tr. 41.
- ^ Tepe, Ridley & Bohs 2012, tr. 41,43.
- ^ a b c Mustain 2012.
- ^ a b c d Wheeler 2012.
- ^ Tepe, Ridley & Bohs 2012, tr. 38.
- ^ Tepe, Ridley & Bohs 2012, tr. 43–44.
- ^ Thiers 2020, tr. 68–70.
- ^ Gelbart 2021, tr. 112.
- ^ a b Tepe, Ridley & Bohs 2012, tr. 44–45.
- ^ Gelbart 2021, tr. 146–147.
- ^ a b Timaná 2023, tr. 502.
- ^ a b Gelbart 2021, tr. 136.
- ^ Tepe, Ridley & Bohs 2012, tr. 45.
- ^ WFO Plant List 2025.
- ^ a b Tepe, Ridley & Bohs 2012, tr. 42–43.
Thư mục
- Baldaszti, L.C. (2024). "Solanum baretiae". Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2024: e.T212622664A212629093. doi:10.2305/IUCN.UK.2024-1.RLTS.T212622664A212629093.en. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2025.
- Gelbart, Nina (2021). Minerva's French Sisters: Women of Science in Enlightenment France [Những chị em người Pháp của Minerva: Phụ nữ khoa học ở nước Pháp thời Khai sáng]. New Haven: Yale University Press. ISBN 978-0-300-25843-1.
- Mustain, Andrea (ngày 4 tháng 1 năm 2012). "Female Explorer Gets Her Due, 2 Centuries Later" [Nhà thám hiểm nữ được công nhận xứng đáng sau 2 thế kỷ]. Live Science (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2025.
- Tepe, Eric J.; Ridley, Glynis; Bohs, Lynn (2012). "A new species of Solanum named for Jeanne Baret, an overlooked contributor to the history of botany" [Một loài Solanum mới được đặt theo tên của Jeanne Baret, một người đóng góp ít được biết đến cho lịch sử thực vật học]. PhytoKeys (8): 37–47. doi:10.3897/phytokeys.8.2101. ISSN 1314-2003. PMC 3254248. PMID 22287929.
- Thiers, Barbara M. (2020). Herbarium: the quest to preserve & classify the world's plants [Herbarium: nhiệm vụ bảo tồn và phân loại thực vật trên thế giới]. Portland, Oregon: Timber Press. ISBN 978-1-60469-930-2.
- Timaná, Martín E. (ngày 11 tháng 12 năm 2023). "Honoring Jeanne Baret: Baretia lanata Timaná, comb. nov. (Caryophyllaceae), a new endemic genus and species combination for the Flora of Chile" [Tôn vinh Jeanne Baret: Baretia lanata Timaná, comb. nov. (Caryophyllaceae), một chi và tổ hợp loài đặc hữu mới của Hệ thực vật Chile]. Adansonia. 45 (27). doi:10.5252/adansonia2023v45a27. ISSN 1280-8571.
- Wheeler, Quentin (ngày 7 tháng 4 năm 2012). "New to nature No 70: Solanum baretiae" [Mới đối với thiên nhiên Số 70: Solanum baretiae]. The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2025.
- "Stellaria L." World Flora Online. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
Lỗi Lua trong Mô_đun:Taxonbar tại dòng 141: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).