Soyuz TMA-01M
Soyuz TMA-01M là một chuyến bay thuộc chương trình Soyuz, đưa ba thành viên của phi hành đoàn Expedition 25 tới Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS). Đây là chuyến bay thứ 107 của một tàu Soyuz, đồng thời là chuyến bay đầu tiên của dòng Soyuz TMA-M được hiện đại hóa. Trong suốt thời gian Expedition 25, con tàu vẫn được neo đậu (kết nối) với trạm vũ trụ để đóng vai trò tàu thoát hiểm khẩn cấp. COSPAR ID của con tàu là 2010-052A.
Tàu vũ trụ Soyuz TMA-01M tiếp cận ISS. | |
| Nhà đầu tư | Roscosmos |
|---|---|
| COSPAR ID | 2010-052A |
| Số SATCAT | 37183 |
| Thời gian nhiệm vụ | 149 ngày, 8 giờ và 43 phút |
| Các thuộc tính thiết bị vũ trụ | |
| Dạng thiết bị vũ trụ | Soyuz-TMA 11F747 |
| Nhà sản xuất | Energia |
| Phi hành đoàn | |
| Quy mô phi hành đoàn | 3 |
| Thành viên | Aleksandr Kaleri Oleg Skripochka Scott Kelly |
| Tín hiệu gọi | Ингул ("Ingul") |
| Bắt đầu nhiệm vụ | |
| Ngày phóng | 7 tháng 10, 2010, 23:10:55 UTC[1][2] |
| Tên lửa | Soyuz-FG |
| Địa điểm phóng | Baikonur 1/5 |
| Kết thúc nhiệm vụ | |
| Ngày hạ cánh | 16 tháng 3, 2011, 7:54 UTC[3] |
| Các tham số quỹ đạo | |
| Hệ quy chiếu | Quỹ đạo Trái Đất |
| Chế độ | Quỹ đạo Trái đất tầm thấp |
| Cận điểm | 199,85 kilômét (124,18 mi) |
| Viễn điểm | 258,77 kilômét (160,79 mi) |
| Độ nghiêng | 51.63 degrees |
| Ghép nối với ISS | |
| Cổng ghép nối | Cổng zenith Poisk |
| Ngày ghép nối | 10 tháng 10, 2010 00:01 UTC |
| Ngày ngắt ghép nối | 16 tháng 11 2011 04:27 UTC |
| Thời gian ghép nối | 157 ngày, 4 giờ và 26 phút |
Từ trái sang phải: Kelly, Kaleri và Skripochka Chương trình Soyuz (Nhiệm vụ có người lái) | |
Phi hành đoàn
Phi hành đoàn của Soyuz TMA-01M được xác nhận bới NASA vào ngày 21 tháng 11 năm 2008.[3]
| Vai trò | Phi hành đoàn | |
|---|---|---|
| Chỉ huy | Aleksandr Kaleri, Roscosmos Expedition 25 Chuyến bay thứ năm và cuối cùng | |
| Kĩ sư bay 1 | Oleg Skripochka, Roscosmos Expedition 25 Chuyến bay đầu tiên | |
| Kĩ sư bay 2 | Scott Kelly, NASA Expedition 25 Chuyến bay thứ ba | |
Phi hành đoàn dự phòng
| Vai trò | Phi hành đoàn | |
|---|---|---|
| Chỉ huy | Sergey Volkov, Roscosmos | |
| Kĩ sư bay 1 | Oleg Kononenko, Roscosmos | |
| Kĩ sư bay 2 | Ronald Garan, NASA | |
Tàu vũ trụ
Soyuz TMA-01M là con tàu đầu tiên của dòng Soyuz TMA-M hiện đại hoá, do Energia phát triển và chế tạo như một bản nâng cấp của dòng Soyuz-TMA tiêu chuẩn, vốn được sử dụng từ năm 2002. Tổng cộng 36 thiết bị đã lỗi thời được thay thế bằng 19 thiết bị thế hệ mới, giúp giảm khoảng 70 kg khối lượng toàn bộ tàu (154 lb).[cần dẫn nguồn] Đáng chú ý nhất là máy tính điều khiển Argon-16 cũ,[4] vốn được sử dụng trên các tàu Soyuz hơn 30 năm, đã được thay bằng máy tính số TsVM-101.[5] Mức tiêu thụ điện năng được giảm trên toàn bộ hệ thống của tàu.[5] Về mặt kết cấu, một số chi tiết cũng được thay đổi, ví dụ khung mô-đun thiết bị trước đây dùng hợp kim magiê thì được thay bằng hợp kim nhôm[5] để dễ chế tạo hơn.[cần dẫn nguồn]
Tàu Soyuz hiện đại hoá này cũng cho phép các kỹ sư thử nghiệm các thiết bị mới, nhiều khả năng sẽ được sử dụng trên tàu vũ trụ có người lái thế hệ tiếp theo của Nga, hiện đang được phát triển.[6]
Phi hành gia NASA Scott Kelly, thành viên tổ lái Soyuz TMA-01M, đã khen ngợi các màn hình mới của tàu, cho rằng chúng giúp việc điều khiển dễ hơn và ít tốn công thao tác của phi hành gia hơn.[7]
Có kế hoạch thực hiện hai chuyến bay thử nghiệm phát triển: Soyuz TMA-01M và Soyuz TMA-02M. Con tàu thứ ba, Soyuz TMA-03M, sẽ được dùng cho thử nghiệm đánh giá. Ngoài việc xác nhận khả năng vận hành trong điều kiện bình thường, chương trình thử nghiệm còn bao gồm kiểm tra các chế độ bất thường, như điều khiển tư thế bằng tay, phát xung cơ động quỹ đạo bằng bốn động cơ ghép nối và điều khiển tư thế, cũng như bay vòng quanh ISS ở chế độ điều khiển tay.[8]
Sau khi Soyuz TMA-01M phóng thành công, các quan chức vũ trụ Nga cho biết con tàu hoạt động bình thường, không có vấn đề nghiêm trọng nào[9] Chủ tịch RSC Energia, Vitaly Lopota, phát biểu: "Soyuz TMA-01M là một con tàu số, một phương tiện số. Như các bạn đã thấy hôm nay, nó hoạt động rất tốt, chuyến bay hoàn toàn tự động 100%."
Điểm nhấn nhiệm vụ
Phóng
Tàu được phóng bằng tên lửa Soyuz-FG từ Sân bay vũ trụ Baikonur lúc 23:10:55 UTC ngày 7 tháng 10 năm 2010 (05:10:55 sáng ngày 8 tháng 10 theo giờ địa phương). Trong vòng 9 phút, tàu đã đạt tới quỹ đạo Trái Đất thấp với các tham số: cận điểm: 199,85 km; viễn điểm: 258,77 km; chu kỳ quỹ đạo: 88,81 phút; độ nghiêng quỹ đạo: 51,63°[10] Ngay sau khi vào quỹ đạo, tàu mở các tấm pin Mặt Trời và ăng-ten, và trung tâm điều khiển bay cho phép con tàu bắt đầu giai đoạn tiếp cận ISS.[7]
Ghép nối
Soyuz TMA-01M ghép nối với Trạm Vũ trụ Quốc tế lúc 00:01 UTC ngày 10 tháng 10 năm 2010, sớm một phút so với kế hoạch. Tàu kết nối với mô-đun Poisk khi cả hai đang bay ở độ cao hơn 220 dặm (354 km) phía trên Nam Thái Bình Dương, ngoài khơi bờ biển Chile.[11] Ngay sau đó, móc và chốt khoá được kích hoạt để kéo hai tàu ghép chặt lại với nhau, và sau khi kiểm tra kín khí, các cửa khoang được mở lúc 03:09 UTC.[9]
Hạ cánh
Soyuz TMA-01M tách khỏi mô-đun Poisk lúc 04:27 GMT ngày 16 tháng 3 năm 2011.[12][13] Pha hãm tốc để tàu rơi trở lại Trái Đất được bắt đầu bằng một lần đốt động cơ kéo dài 4 phút 17 giây, khởi động lúc 07:03:17 GMT.[14] Ngay trước khi tái nhập khí quyển, ba mô-đun của Soyuz TMA-01M tách nhau đúng như thiết kế. Sau một quá trình tái nhập bình thường, mô-đun trung tâm chở phi hành đoàn tiếp đất ở tư thế nằm nghiêng lúc 07:54 GMT, gần thị trấn Arkalyk, miền bắc Kazakhstan. Vài phút sau, Kaleri, Kelly và Skripochka được đưa ra khỏi khoang và đặt vào các ghế nằm để hồi sức. Thời tiết tại khu vực hạ cánh rất khắc nghiệt, với gió mạnh và nhiệt độ rất thấp. Trong tường thuật trực tiếp, người phát ngôn NASA Rob Navias đã nói: "Bạn sẽ nghĩ đây là một cảnh ở Bắc Cực vậy," để mô tả điều kiện khí hậu cực kỳ khắc nghiệt lúc thu hồi phi hành đoàn.[15]
Gallery
-
Kíp chính và kíp dự bị của Soyuz TMA-01M trong chuyến diễu hành nghi thức ngày 17 tháng 9 năm 2010.
-
Soyuz TMA-01M được kéo ra bệ phóng tại sân bay vũ trụ Baikonur năm 2010.
-
Soyuz TMA-01M được phóng từ sân bay vũ trụ Baikonur.
-
Kaleri, Skripochka và Kelly ngồi trên ghế nghỉ sau khi hạ cánh.
Tham khảo
- ^ NASA. "Consolidated Launch Manifest". NASA. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2009.
- ^ "New Crew Members Set for Saturday Arrival". NASA. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2010.
- ^ a b "NASA Assigns Space Station Crews, Updates Expedition Numbering". NASA (bằng tiếng Anh). NASA. ngày 21 tháng 11 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Argon-16 Computer". Virtual Computer Museum (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2025.
- ^ a b c "Soyuz TMA-M crewed transport vehicle of a new series". RKK Energia Corporation. 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Soyuz TMA-M crewed transport vehicle of a new series - General Data". RKK Energia. 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2010.
- ^ a b "Three men launched into space for half-year voyage". SpaceflightNow. ngày 7 tháng 10 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Soyuz TMA-M crewed transport vehicle of a new series - Flight tests". RKK Energia. 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2010.
- ^ a b William Harwood (ngày 9 tháng 10 năm 2010). "Digital Soyuz arrives at the International Space Station". SpaceflightNow. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Soyuz TMA-M to Dock to the International Space Station on Oct. 10". Roscosmos. ngày 9 tháng 10 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2011.
- ^ Denise Chow (ngày 9 tháng 10 năm 2010). "Soyuz Spacecraft Docks at Space Station With New Crew". SPACE.com. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2010.
- ^ NASA (ngày 16 tháng 3 năm 2011). "Expedition 26 Returns Home". Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2011.
- ^ Chris Bergin (ngày 16 tháng 3 năm 2011). "Russian Soyuz TMA-01M in nominal return to Earth". NASAspaceflight.com. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2011.
- ^ William Harwood (ngày 16 tháng 3 năm 2011). "Soyuz capsule makes snowy landing with three-man crew". Spaceflight Now. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2011.
- ^ Denis Chow (ngày 16 tháng 3 năm 2011). "Soyuz capsule lands safely with space station crew". SPACE.COM. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2011.