Super Sherman
| Sherman M-50 | |
|---|---|
| Tập tin:M50-Supersherman-latrun-1.jpg M-50 Super Sherman tại Yad La-Shiryon, Israel. | |
| Loại | Xe tăng hạng trung |
| Nơi chế tạo | Israel |
| Lược sử hoạt động | |
| Sử dụng bởi | See Operators |
| Trận | khủng hoảng Kênh đào Suez Chiến tranh Nguồn nước (sông Jordan) Chiến tranh 6 ngày Chiến tranh Yom Kippur Nội chiến Liban Chiến tranh Liban 1982 |
| Lược sử chế tạo | |
| Năm thiết kế | 1954–1955 |
| Giai đoạn sản xuất | 1956–1962 |
| Số lượng chế tạo | ~300 chiếc |
| Thông số | |
| Chiều dài | 6,15 m (20,2 ft) |
| Chiều rộng | 2,85 m (9,4 ft) |
| Chiều cao | 3,04 m (10,0 ft) |
| Kíp chiến đấu | 5 (trưởng xe, lái xe, pháo thủ, nạp đạn, hỗ trợ lái xe/vận hành súng máy) |
Vũ khí chính | 75 mm CN-75-50 L/61.5 |
Vũ khí phụ | 1× 12.7 mm M2 Browning 2× 7.62 mm M1919 Browning machine gun |
| Động cơ |
|
| Hệ thống treo | Hệ thống treo lò xo cuộn xoắn đặt thẳng đứng |
| Sức chứa nhiên liệu | 606 lít |
| Tầm hoạt động | 300 km (190 mi) |
| Tốc độ | 38–42 km/h (24–26 mph) |
| Tham khảo | [1] |
| Sherman M-51 | |
|---|---|
| Tập tin:M51-Isherman-latrun-1.jpg M-51 Super Sherman tại Yad La-Shiryon, Israel. | |
| Loại | xe tăng hạng trung |
| Nơi chế tạo | Israel |
| Lược sử hoạt động | |
| Sử dụng bởi | See Operators |
| Trận | chiến tranh 6 ngày chiến tranh Yom Kippur |
| Lược sử chế tạo | |
| Giai đoạn sản xuất | 1961–1965 |
| Số lượng chế tạo | 180 |
| Thông số | |
| Chiều dài | 6,15 m (20,2 ft) |
| Chiều rộng | 2,42 m (7,9 ft) |
| Chiều cao | 2,24 m (7,3 ft) |
| Kíp chiến đấu | 5 |
Vũ khí chính | pháo D1508 105 mm L/51 |
Vũ khí phụ | 1× đại liên M2 Browning 12,7 mm 2× súng máy M1919 Browning 7,62 mm |
| Động cơ |
|
| Hệ thống treo | Hệ thống treo lò xo cuộn xoắn đặt thẳng đứng |
| Sức chứa nhiên liệu | 606 lít |
| Tầm hoạt động | 300 km (190 mi) |
| Tốc độ | 40 km/h (25 mph) |
| Tham khảo | [2] |
Sherman M-50 và Sherman M-51, cả hai thường bị gọi nhầm[3] ở nước ngoài là Super Sherman, là các phiên bản cải tiến của xe tăng M4 Sherman do Lực lượng phòng vệ Israel sử dụng tử giữa những năm 1950 đến đầu những năm 1980. M-51 đôi khi còn được gọi là Isherman (tức “Sherman Israel”). Tuy nhiên, biệt danh Super Sherman thực ra chỉ áp dụng cho các xe tăng Sherman của Israel trang bị pháo 76 mm, chứ không phải là M-50 hay M-51. Tên gọi Isherman cũng chưa bao giờ được IDF sử dụng chính thức.
Lịch sử
Năm 1953, một phái đoàn quân sự Israel sang Pháp để đánh giá các mẫu xe tăng hạng nhẹ. Pháo CN 75-50 75 mm của AMX-13 được đánh giá rất tốt, nhưng giáp xe bị coi là quá mỏng. Israel cuối cùng vẫn mua AMX-13, đồng thời quyết định lắp chính khẩu pháo 75 mm này lên thân xe M4 Sherman vốn là loại xe tăng tiêu chuẩn trang bị cho các đơn vị thiết giáp Israel trong đầu những năm 1950s.[4]
Chương trình bắt đầu năm 1954 và nguyên mẫu đầu tiên đã hoàn thành và được chuyển từ Pháp sang Israel vào năm 1955.[5] Từ tháng 3 năm 1956, Israel bắt đầu cải tạo các xe tăng M4 Sherman bằng cách lắp pháo 75 mm của AMX-13.[6] Khẩu pháo 75 mm này được Israel gọi là M-50,[5] vì vậy xe tăng cải tiến mang tên Sherman M-50.
M-50 có nhiều điểm tương đồng với xe tăng Sherman Firefly của Anh trong Thế chiến II ở chỗ nó vẫn sử dụng loại tháp pháo Sherman nguyên bản cỡ nhỏ (loại được lắp trên các xe Sherman của Hoa Kỳ mang pháo M3 75 mm), nhưng được gắn thêm một đối trọng lớn ở phía sau tháp pháo để cân bằng trọng lượng của khẩu pháo mới dài và nặng hơn.
50 chiếc đầu tiên được cải tạo trên khung thân M4A4, trang bị động cơ xăng Continental R-975 và hệ thống treo VVSS (Vertical Volute Spring Suspension – hệ thống treo lò xo cuộn xoắn đặt thẳng đứng). Tuy nhiên, trọng lượng tăng lên kết hợp với bản xích hẹp khiến khả năng cơ động trên địa hình xấu suy giảm đáng kể. Đồng thời, động cơ cũng phải chịu tải quá lớn, dẫn đến các hỏng hóc cơ khí xảy ra thường xuyên.
Do đó, ở các đợt cải tạo tiếp theo, Israel sử dụng các khung thân được trang bị hệ thống treo HVSS (Horizontal Volute Spring Suspension – hệ thống treo lò xo cuộn xoắn đặt nằm ngang) cùng động cơ diesel Cummins V-8 công suất 460 mã lực (340 kW).[7] Các biến thể này đôi khi được gọi là M-50 Continental và M-50 Cummins, hoặc lần lượt là M-50 Degem Alef và M-50 Degem Bet. Động cơ diesel cũng được ưu tiên vì nhiên liệu diesel ít bắt lửa hơn xăng, giúp tăng khả năng sống sót của xe trên chiến trường.[8]
Đến năm 1964, khoảng 300 xe Sherman M-50 đã được chế tạo, mặc dù con số này có thể bao gồm cả 120 pháo tự hành 155 mm trên khung gầm Sherman, vốn cũng được định danh là M-50.[6]
Cùng loại pháo này cũng được lắp trên một số pháo tự hành chống tăng M10.[9]
Trong thập niên 1960, 180 xe Sherman được trang bị phiên bản rút ngắn của khẩu pháo Pháp 105 mm Modèle F1, có hỏa lực mạnh hơn đáng kể. Chiều dài nòng pháo được rút từ 56 calibre xuống còn 51 calibre,[10] đồng thời được lắp phanh đầu nòng hai ngăn kiểu đặc biệt; đạn pháo cũng được cải tiến để sử dụng vỏ đạn ngắn hơn.
Tại Israel, khẩu pháo này được định danh là M-51, và xe tăng mang tên Sherman M-51. Việc cải tạo sử dụng khung thân M4A1 cùng tháp pháo T23 cỡ lớn (lấy từ các xe Sherman trang bị pháo 76 mm). Tất cả các xe đều được lắp động cơ diesel Cummins và hệ thống treo HVSS. Sherman M-51 lần đầu tiên được giới thiệu trước công chúng trong lễ kỷ niệm Ngày Độc lập của Israel năm 1965.[11]
Ở nước ngoài, Sherman M-50 thường được gọi là Super Sherman (trong đó biến thể Continental được gọi là Mark I, còn biến thể Cummins được gọi là Mark II), còn Sherman M-51 được gọi bằng các tên Super Sherman, Isherman (tức "Sherman Israel") hoặc M4A1 Revalorisé. Tuy nhiên, những tên gọi này chưa bao giờ được sử dụng tại Israel.
Mẫu xe tăng duy nhất được Lực lượng Phòng vệ Israel chính thức định danh là Super Sherman là phiên bản M4A1 trang bị pháo M1 76 mm và hệ thống treo HVSS, mang tên Super Sherman M-1.[6]
Lịch sử hoạt động
25 chiếc Sherman M-50 đầu tiên đã được hoàn thành vào đúng thời điểm diễn ra Chiến dịch Kadesh – cuộc tấn công của Israel vào báo đảo Sinai ngày 29/10/1956 nhằm vào quân đội Ai Cập.[6] Khi đó Ai cập cũng đang sử dụng phiên bản Sherman cải tiến của riêng mình, với tháp pháo của AMX-13 khiến hỏa lực của chúng tương đương với Sherman M-50.
Năm 1964, Israel gần hoàn thành Hệ thống dẫn nước quốc gia nhằm chuyển nước từ Biển hồ Galilee theo hạn ngạch đã được phân bổ trong Kế hoạch Johnston thống nhất năm 1955. Các quốc gia Ả Rập phản đối quyết liệt, và Syria bắt đầu triển khai Kế hoạch chuyển hướng thượng nguồn sông Jordan nhằm làm thay đổi dòng chảy của nguồn nước.
Thiếu tướng Israel Tal đã huấn luyện các kíp xe tăng Israel bắn chính xác ở cự ly trên 1.500 m. Ngày 6 tháng 3 năm 1965, một chiếc M-50 do chính Tal chỉ huy đã khai hỏa vào một khẩu pháo không giật của Syria vốn vừa bắn chết một lái máy kéo Israel; Tal đã trực tiếp tiêu diệt khẩu pháo này từ cự ly xa.
Vài ngày sau, Tal cùng một chiếc M-50 và một xe tăng Centurion Mk III mai phục chờ cơ hội tấn công công trình chuyển hướng nguồn nước của Syria. Khi pháo binh Syria khai hỏa vào một đội tuần tra biên giới Israel, M-50 và Centurion lập tức bắn vào tám máy kéo đang thi công ở khoảng cách 2.000 m và phá hủy toàn bộ chỉ trong hai phút với mười phát đạn. Riêng Tal đã bắn hạ năm chiếc máy kéo bằng pháo 75 mm của M-50, trong khi Centurion tiêu diệt ba chiếc còn lại.[12]
Cả M-50 và M-51 đều tham chiến trong Chiến tranh Sáu Ngày năm 1967, kết thúc với việc Israel kiểm soát Cao nguyên Golan, Bờ Tây và bán đảo Sinai. Trong nhiều trận đánh, chúng đối đầu với các xe tăng Liên Xô từ thời Thế chiến II như T-34-85, tiêu biểu là trận Abu-Ageila.
Hai mẫu xe này cũng tiếp tục được sử dụng trong Chiến tranh Yom Kippur năm 1973, chiến đấu cả cùng phía lẫn đối đầu với nhiều loại xe tăng hiện đại hơn rất nhiều. Việc Israel vẫn phải sử dụng những xe tăng tưởng như đã lỗi thời này phản ánh tính chất vô cùng khốc liệt và cấp bách của cuộc chiến.
Trong các trận đánh với quân đội Ả Rập, xe tăng Sherman M-51 chứng minh vẫn đủ khả năng đối đầu với những xe tăng hiện đại và nặng hơn như T-54, T-55 và T-62 do Liên Xô chế tạo. Pháo 105 mm của M-51 có thể xuyên giáp các đối thủ này bằng đạn HEAT (đạn chống tăng nổ lõm). M-51 phục vụ hiệu quả trong suốt thời gian hoạt động và thường được xem là một ví dụ tiêu biểu về việc nâng cấp thành công một mẫu xe tăng đã lỗi thời như Sherman vượt xa những giới hạn vốn có của nó.[13]
M-50 Continental được loại khỏi biên chế vào năm 1972. Các biến thể M-50 Cummins và M-51 tiếp tục được sử dụng thêm vài năm trước khi lần lượt bị loại khỏi biên chế trong giai đoạn cuối thập niên 1970 đến đầu thập niên 1980.
Trong Nội chiến Liban, khoảng 75 chiếc M-50 đã được Israel viện trợ cho các lực lượng dân quân Kitô giáo Liban thân Israel, bao gồm:
- Kataeb Regulatory Forces (19 chiếc)[14][15][16][17]
- Tigers Militia (20 chiếc)[18][16][19]
- Guardians of the Cedars (1 chiếc)
- Lebanese Forces (40 chiếc)[18][16][19]
- Quân đội Nam Liban (South Lebanon Army) (35 chiếc)[14][20][21]
Tháng 3 năm 1978, Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) đã thu giữ hai chiếc M-50 từ Quân đội Nam Liban và sau đó sử dụng chúng trong cuộc phòng thủ Tây Beirut khi Israel xâm lược Liban vào tháng 6 năm 1982.[22]
Vào cuối thập niên 1980, khoảng 100 xe tăng còn lại đã được bán cho Chile. Một số trong đó được trang bị pháo IMI-OTO HVMS 60 mm (Hyper Velocity Medium Support) và thường được gọi là M-60. Tuy nhiên, biến thể này chưa từng được Lực lượng Phòng vệ Israel sử dụng.[6]
Chile tiếp tục vận hành các xe Sherman cho đến năm 1999, khi chúng được thay thế bằng xe tăng Leopard 1. Số ít M-51 còn được Israel giữ lại sau đó đã được cải tạo thành xe công binh và pháo tự hành.[13]
Các nước vận hành
Lebanese militias – M-50 (Kataeb Regulatory Forces, Lebanese Forces, Tigers Militia, Guardians of the Cedars, South Lebanon Army)
- Tập tin:Flag of Palestine - short triangle.svg Palestine Liberation Organization – 2 chiếc M-50 thu được tại Liban
Tham khảo
- Trích dẫn
- ^ "M-50". tanks-encyclopedia.com. ngày 19 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2022.
- ^ "M-51". tanks-encyclopedia.com. ngày 19 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2022.
- ^ Giusti, Arturo (ngày 19 tháng 6 năm 2020). "M-50". Tank Encyclopedia (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
- ^ Givati, p. 82-85.
- ^ a b Givati, pp. 83-84.
- ^ a b c d e Granovskiy, Names, Designations and Service Figures of IDF Armored Vehicles.
- ^ Givati, p. 105-108
- ^ Givati, p.45
- ^ Givati, p.106
- ^ Giusti, Arturo; Bauder, Joseph (ngày 6 tháng 3 năm 2021). "Cold war Israeli armor - M-51". Tank Encyclopedia.
- ^ Givati, pp. 109-110, p.123.
- ^ George Forty, Tank Action, pp. 249–250, ISBN 0-7509-0479-8
- ^ a b Gelbart, p.45
- ^ a b Zaloga, Armour of the Middle East Wars 1948-78 (1981), pp. 33; 39-40, Plate H1.
- ^ Kassis, 30 Years of Military Vehicles in Lebanon (2003), p. 29.
- ^ a b c Kassis, Véhicules Militaires au Liban/Military Vehicles in Lebanon (2012), p. 62.
- ^ Sex & Abi-Chahine, Modern Conflicts 2 – The Lebanese Civil War, From 1975 to 1991 and Beyond (2021), p. 63.
- ^ a b Kassis, 30 Years of Military Vehicles in Lebanon (2003), p. 53.
- ^ a b Sex & Abi-Chahine, Modern Conflicts 2 – The Lebanese Civil War, From 1975 to 1991 and Beyond (2021), p. 81.
- ^ Kassis, Véhicules Militaires au Liban/Military Vehicles in Lebanon (2012), pp. 80-83.
- ^ Sex & Abi-Chahine, Modern Conflicts 2 – The Lebanese Civil War, From 1975 to 1991 and Beyond (2021), pp. 175-177.
- ^ Photos of two derelict M-50 Shermans at the Beirut Stadium being inspected by French paratroopers from the Multinational Force in Lebanon (MNF), September 1982.
- Thư mục
- Gelbart, Marsh (1996). Tanks: Main battle and light tanks. London: Brassey's. ISBN 1-85753-168-X.
- Givati, Moshe - The Armor Craftsmen - The History of the 7100 Restoration and Maintenance Center, MoD 1998 ( ISBN 965-05-0902-X, 1998, משה גבעתי - בידיהם חושלה הפלדה - סיפורו של מרכז שיקום ואחזקה 7100, משרד הבטחון הוצאה לאור ).
- Kassis, Samer (2003). 30 Years of Military Vehicles in Lebanon. Beirut: Elite Group. ISBN 9953-0-0705-5.
- Kassis, Samer (2012). Véhicules Militaires au Liban 1975–1981 [Military Vehicles in Lebanon 1975-1981] (bằng tiếng Pháp). Chyah: Trebia Publishing. ISBN 978-9953-0-2372-4.
- Steven J. Zaloga, Armour of the Middle East Wars 1948-78, Vanguard series 19, Osprey Publishing Ltd, London 1981. ISBN 0 85045 388 7
- Moustafa El-Assad, Blue Steel IV: M-50 Shermans and M-50 APCs in South Lebanon, Blue Steel books, Sidon 2007. ASIN B0011X4YIY
- Sex, Zachary; Abi-Chahine, Bassel (2021). Modern Conflicts 2 – The Lebanese Civil War, From 1975 to 1991 and Beyond. Modern Conflicts Profile Guide. Quyển II. AK Interactive. EAN 8435568306073.
- Oleg Granovskiy, Names, Designations and Service Figures of IDF Armored Vehicles (Олег Грановский - Названия, обозначения и количества бронетанковой техники АОИ) at Waronline.org (bằng tiếng Nga)
Liên kết ngoài
- IDF Sherman Family
- SLA Sherman Family
- Sherman at Israeli-weapons.com:
- A restoration of an original M50 at Eden Camp Museum