Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “ParameterAliasNormalizer”.

Tập tin:Song Lo @Nam TpHaGiang'2005.jpg
Sông Lô đoạn chảy qua phường Hà Giang 1.
Tập tin:LoTuyenQuang.JPG
Sông Lô đoạn chảy qua phường Nông Tiến.

Sông Lôphụ lưu lớn thứ hai ở tả ngạn sông Hồng, chảy từ Trung Quốc sang các tỉnh Tuyên QuangPhú Thọ, Việt Nam.[1][2]

Sông bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam Trung Quốc, gọi là Bàn Long Giang (盘龙江, Pan Long Jiang). Sông chảy vào Việt Nam tại xã Thanh Thủy, tỉnh Tuyên Quang. Điểm cuối là ngã ba Hạc, còn gọi là ngã ba Bạch Hạc hay ngã ba Việt Trì, phường Thanh Miếu, tỉnh Phú Thọ, nơi sông Lô đổ vào sông Hồng.[1]

Tổng diện tích lưu vực: 39.000 km², trong đó phần ở Việt Nam là 22.600 km².

Tên gọi

Theo sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn sông Lô còn có tên là "sông Cả" hay sông Bình Nguyên.[3] Sông Lô còn có tên là Tuyên Quang giang (宣光江).[4]

Trong văn liệu tiếng Pháp sông có tên "rivière Claire" nghĩa chữ là "sông Sáng". Tên này không có nguồn gốc tiếng Việt, mà là do hồi giữa thế kỷ 19 người Pháp vẽ bản đồ Bắc Kỳ, ví dụ "Bản đồ Bắc Kỳ năm 1879" của Jean Dupuis,[5] khi thấy "sông Hồng" gọi là "fleuve Rouge" (sông Đỏ) thì đã dùng "rivière Noire" (sông Đen) ghi cho sông Đà, "rivière Claire" cho sông Lô.

Dòng chảy

Đoạn sông Lô chảy ở Việt Nam có chiều dài 274 km (các sách khác nhau ghi từ 264 km tới 277 km), là một trong năm con sông dài nhất ở miền Bắc Việt Nam (Hồng, Đà, Lô, Cầu, Đáy).

Sông Lô vào địa phận Việt Nam ở xã Thanh Thủy. Sông chảy qua các phường Hà Giang 2, Hà Giang 1, các xã Phú Linh, Vị Xuyên, Linh Hồ, Việt Lâm, Tân Quang, Đồng Tâm, Bắc Quang, Bằng Hành, Hùng An, Bạch Xa, Vĩnh Tuy, Yên Phú, Phù Lưu, Hàm Yên, Thái Sơn, Bình Xa, Yên Nguyên, Lực Hành, Thái Hòa, Xuân Vân,Yên Sơn, Tân Long, các phường Nông Tiến, Minh Xuân, An Tường, Bình Thuận, các xã Thái Bình, Bình Ca, dọc theo ranh giới Nhữ Khê và Bình Ca, Đông Thọ rồi sang Chí Đám, Đoan Hùng rồi lại dọc ranh giới các xã Hồng Sơn, Trường Sinh, Hải Lựu, Tam Sơn, Sông Lô, Sơn Đông (phía đông) với các xã Chân Mộng, Phú Mỹ, Dân Chủ, Bình Phú, các phường Vân Phú, Việt Trì, Thanh Miếu (phía tây). Sông Lô hợp lưu với sông Hồng ở giáp ranh giữa phường Thanh Miếu và xã Cổ Đô (Hà Nội), cách chỗ sông Đà hợp lưu với sông Hồng khoảng 12 km.

Đoạn dài 156 km từ ngã ba Việt Trì đến cảng Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, các loại tàu thuyền có tải trọng 100 đến 150 tấn vận tải có thể hoạt động được cả hai mùa. Đoạn từ phường Minh Xuân đến phường Hà Giang 1, các tàu thuyền có tải trọng nhỏ có thể tham gia vận tải được vào mùa mưa.

Phụ lưu

Bàn Long Giang bắt nguồn từ Nghiễn Sơn. Đầu nguồn được đắp đập tạo thành hồ nhân tạo (Giá Y). Bàn Long Giang có một phụ lưu sau:

  • Chahe ở Văn Sơn;

Sông Lô có hai phụ lưu lớn là:

Ngoài ra còn có các phụ lưu nhỏ khác như:

Các cây cầu bắc ngang sông Lô

Các bài hát, bài thơ về sông Lô

Thời kỳ Kháng chiến chống Pháp:

Ghi chú

  1. ^ a ă Tập bản đồ hành chính Việt Nam. Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam. Hà Nội, 2013.
  2. ^ Quyết định số 1989/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về Danh mục lưu vực sông liên tỉnh. Thuvienphapluat, 2016. Truy cập 12/05/2017.
  3. ^ Lê Quý Đôn toàn tập, Kiến văn tiểu lục, bản quốc ngữ, nhà xuất bản Khoa học xã hội 1977, trang 300.
  4. ^ Nguyễn Văn Siêu, Đại Việt địa dư toàn biên (bản chữ Hán) trang 69.
  5. ^ Bản đồ Bắc Kỳ năm 1879, trong Il etait un Tonkin: Jean Dupuis. forez-info, 2012. Truy cập 22/04/2018.

Bản mẫu:Sơ khai Tuyên Quang