Tái Sùng
| Tái Sùng 載崇 | |
|---|---|
| Thông tin chung | |
| Sinh | 1826 |
| Mất | 1876 |
| Phối ngẫu | Phú Sát thị |
| Hậu duệ | xem văn bản |
| Thân phụ | Dịch Hanh |
| Thân mẫu | Khang thị |
Tái Sùng (chữ Hán: 載崇, 1826 - 1876), tự Tuấn Phong (㑺峯) là một tông thất của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc.
Cuộc đời
Tái Sùng sinh vào giờ Dậu, ngày 26 tháng 5 (âm lịch) năm Đạo Quang thứ 6 (1826), là con trai thứ năm của Bối lặc Dịch Hanh, mẹ ông là Trắc phu nhân Khang thị (康氏), con gái của Khang Ngọc Thành (康玉成). Năm Đạo Quang thứ 30 (1850), tháng 11, ông được thụ tước Nhất đẳng Phụ quốc Tướng quân (一等輔國將軍) kiêm chức Tán trật đại thần.
Năm Hàm Phong thứ 4 (1854), được phép hành tẩu tại Càn Thanh môn. Năm Hàm Phong thứ 7 (1857), thụ chức Nội các học sĩ kiêm hàm Lễ bộ Thị lang, sang năm sau (1858) thì nhậm chức Phó Đô thống Hán quân Chính Bạch kỳ, tháng 4 cùng năm thì điều chuyển sang Hán quân Tương Hồng kỳ. Năm thứ 9 (1859), phong Lại bộ Hữu thị lang. Năm thứ 10 (1860), nhậm Thống lĩnh Hộ quân Chính Bạch kỳ.
Năm Đồng Trị thứ nhất (1862), thăng Phó đô thống Mông Cổ Tương Hoàng kỳ. Năm thứ 3 (1864), cải sang làm Phó đô thống Mãn Châu Chính Hồng kỳ. Năm Quang Tự thứ 2 (1876), giờ Tý, ông qua đời, hưởng thọ 50 tuổi[1]
Gia quyến
Thê thiếp
- Đích Phu nhân:
- Phú Sát thị (富察氏), xuất thân Mãn Châu Tương Bạch kỳ, con gái Lễ bộ Thượng thư Quý Khánh (貴慶), cháu gái Thái tử Thiếu bảo Quan Thành (觀成), có ít nhất một người cô được gả làm Thứ Phúc tấn của Dụ Thân vương Dụ Toàn. Sinh mẫu của bà là Nữu Hỗ Lộc thị (钮祜祿氏), chính là con gái của tham quan trứ danh Hòa Thân.
- Tát Nhĩ Đồ Khắc thị (薩爾圖克氏), con gái Nhất đẳng Hầu tước kiêm Hàng Châu tướng quân Quế Luân (桂轮).
- Trắc Phu nhân: Cao Giai thị (高佳氏), xuất thân Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, con gái của Tố Nạp (素納), cháu gái Nhất đẳng Uy Dũng công Trường Linh (高晉), hậu duệ Văn Uyên các Đại học sĩ Cao Bân. Cô tổ mẫu của bà chính là Tuệ Hiền Hoàng quý phi của Càn Long Đế.
- Thứ thiếp: Thư thị (舒氏), con gái của Thư Sầm (舒芩).
Hậu duệ
- Phổ Thiện (溥善, 1854 - ?), mẹ là Đích Phu nhân Phú Sát thị. Làm quan đến Nội các học sĩ kiêm Lễ bộ Thị lang, Khâm tuyển Nghị viên của Tư Chính viện, có tác phẩm được ghi chép trong 《Xuân Minh thi khóa hội tuyển》
- Tử: Dục Hậu (毓厚). Vợ là Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị (博爾濟吉特氏), xuất thân Mãn Châu Chính Hoàng kỳ, con gái Tham tán đại thần Thụy Tuân (瑞洵).
- Phổ Lương (溥良, 1854 - 1922), mẹ là Trắc Phu nhân Cao Giai thị. Đỗ Cử nhân năm Quang Tự thứ nhất (1875), được phong Phụ quốc Tướng quân, làm quan đến Lý Phiên viện Thượng thư, Ô Lý Nhã Tô Đài tướng quân, Đô thống Hán quân Chính Hồng kỳ. Là một văn sĩ nổi danh bấy giờ, tác giả của 《Kiển Thu am di tập》, 《Xuân Minh thi khóa hội tuyển》
- Thê tử:
- Nguyên phối: Chương Giai thị (章佳氏), xuất thân Mãn Châu Chính Bạch kỳ, con gái Tiến sĩ Khánh Liêm (慶廉).
- Kế phối: Qua Nhĩ Giai thị (瓜爾佳氏), con gái của Diên Ân (延恩).
- Tam kế phối: Ngạc Trác thị (鄂卓氏), xuất thân Mãn Châu Tương Lam kỳ, con gái của Hải Trừng (海澄).
- Tử: Dục Lương (毓隆, 1872 - 1923), đỗ Tiến sĩ vào năm Quang Tự thứ 6 (1880), làm quan đến Thị độc học sĩ, Điển lễ viện Học sĩ, Tứ Xuyên Học chính.
- Tằng tôn: Khải Công (啓功, 1912 - 2005), nhà thư pháp trứ danh thời hiện đại, Giáo sư tại Đại học Sư phạm Bắc Kinh, Cố vấn Bảo tàng Cố cung, Bảo tàng Quốc gia Trung Quốc.
- Thê tử:
- Phổ Hưng (溥興, 1858 - 1907), mẹ là Đích Phu nhân Phú Sát thị. Được phong Tam đẳng Phụ quốc Tướng quân, làm quan đến Lễ bộ, Hình bộ Thượng thư, Đô thống Hán quân Chính Bạch kỳ.
- Phổ Nguyên (溥元), mẹ là thứ thiếp Thư thị, chết yểu.