Tâm Minh
Tâm Minh (Tiếng Trung Quốc: Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; tiếng Việt: Tâm Minh) còn được viết theo hệ thống chuyển ngữ Wade-Giles là Hsin ming, là một văn bản Phật giáo Thiền tông được cho là của Ngưu Đầu Pháp Dung (牛頭法融; 594–657), người được tông phái Ngưu Đầu coi là tổ sáng lập. Tâm Minh có thể được tìm thấy trong chương ba mươi của Cảnh Đức truyền đăng lục. Không nên nhầm lẫn văn bản này với Tín Tâm Minh nổi tiếng, cũng được tìm thấy trong chương ba mươi của Cảnh Đức truyền đăng lục, vốn là một văn bản có liên quan nhưng riêng biệt.
Vấn đề về tác giả và mối liên hệ với các văn bản khác
Mặc dù được cho là của Ngưu Đầu Pháp Dung (牛頭法融; 594–657), Tâm Minh có thể được xếp cùng với một số văn bản Thiền tông thời kỳ đầu có lẽ được sáng tác vào khoảng thế kỷ thứ tám hoặc thứ chín. Các văn bản này thể hiện sự tương đồng về thuật ngữ từ vựng và nội dung giáo lý, bao gồm: Tuyệt Quán Luận (絶觀論, 'Luận về việc cắt đứt sự quán chiếu'), Vô Tâm Luận (無心論, 'Luận về Vô tâm'), Tâm Vương Minh (心王銘, 'Minh về Tâm Vương'), và Tín Tâm Minh (信心銘, 'Minh về Tín Tâm').
John McRae nghi ngờ rằng Tâm Minh có thể được cho là của Ngưu Đầu Pháp Dung. Theo Henrik Sorensen, mặc dù không có bằng chứng xác thực nào cho thấy Tâm Minh được viết bởi Ngưu Đầu Pháp Dung, nhưng một số điểm, cũng như phong cách và nội dung, cho phép văn bản này được liên kết với Pháp Dung và Tông Ngưu Đầu. Sorensen cũng quan sát thấy sự tương đồng giữa nó và Tuyệt Quán Luận, và nói rằng: "dường như không còn nghi ngờ gì nữa khi cả hai đều là sản phẩm, nếu không phải của cùng một tác giả, thì ít nhất là của những người theo cùng một loại giáo lý Thiền tông." Theo Yanagida Seizan, Tuyệt Quán Luận hoặc là của Pháp Dung hoặc là của một trong những đệ tử thân cận của ông.
Sorensen lưu ý thêm về sự gần gũi chặt chẽ, cả về nội dung lẫn phong cách, giữa Tâm Minh và Tín Tâm Minh nổi tiếng. Ngoài ra, Robert Sharf chỉ ra rằng Tín Tâm Minh nổi tiếng rất giống với Tâm Minh và một số học giả cho rằng Tín Tâm Minh được dự định như một "bản cải tiến" so với Tâm Minh sớm hơn. Mặc dù Tín Tâm Minh nổi tiếng thường được cho là của vị tổ thứ ba của Thiền tông là Tăng Xán, điều này không được giới học thuật coi trọng, và cả nó cùng với Tâm Minh sớm hơn đều được coi là có liên quan đến Tông Ngưu Đầu.
Trích đoạn và phân tích nội dung
Sharf nhận xét rằng Tín Minh và tác phẩm nổi tiếng hơn, ra đời muộn hơn một chút là Tín Tâm Minh, có sự tương đồng gần gũi với nhau, và chỉ ra mối liên hệ với phái Ngưu Đầu của cả hai văn bản. Một thuật ngữ xuất hiện trong cả hai tác phẩm là tự chiếu (自照, zizhao, tự chiếu), và trong Tín Minh, người ta tìm thấy đoạn sau:
Bồ đề vốn dĩ tồn tại Chẳng cần phải gìn giữ
Phiền não không có tự tính
Chẳng cần phải diệt trừ Linh tri tự chiếu soi [自照, zizhao]
Vạn pháp trở về Như
Không trở về, không tiếp nhận
Dứt bỏ suy tư, quên đi sự gìn giữ[note 1]
Người ta cũng có thể tìm thấy trong đoạn văn này sự bác bỏ khái niệm "duy trì" hoặc "bảo tồn" (守, shou). Theo Kuno, Tín Minh thể hiện sự phản đối "duy trì tâm" (守心, shouxin, thủ tâm), một phương pháp thiền định của Bắc Tông (Đông Sơn pháp môn). Henrik Sorensen cũng nhận thấy rằng Tín Minh chứa đựng các tham chiếu đến và sự bác bỏ đối với thực hành shouxin. Ví dụ: "Bằng cách nắm giữ tâm và duy trì [守, shou] sự tĩnh lặng, người ta vẫn sẽ không thể thoát khỏi bệnh tật (của sự bám víu)." Khi bình luận về những điểm chung giữa Tín Minh và Tín Tâm Minh, Dusan Pajin quan sát thấy sự tương đồng giữa lời cảnh báo của Tín Minh về việc không sử dụng tâm để duy trì sự tĩnh lặng và một khổ thơ trong Tín Tâm Minh mà trong đó người ta tìm thấy: "Dùng tâm để giữ tâm / Chẳng phải là một sai lầm lớn sao?"[2] Sorensen lưu ý sự xuất hiện của các thuật ngữ thường gắn liền với Đạo giáo trong Tâm Minh, chẳng hạn như vô vi (無為, 'không làm gì cả'):
Vui hưởng Đạo là tĩnh tại
Thong dong tự tại trong cái chân thực
Không làm gì [無為, vô vi], không đạt được gì
Không dựa vào đâu, xuất hiện một cách tự nhiên
Sorensen cũng quan sát thấy sự xuất hiện trong Tâm Minh của thuật ngữ Đạo giáo tự nhiên (自然, 'tính tự nhiên, tính tự phát'). Thuật ngữ này xuất hiện hai lần trong văn bản, cả hai lần đều liên quan đến sự sáng (明, míng):
Không hợp nhất, không phân tán
Không nhanh cũng không chậm
Sáng, tĩnh lặng và tự nhiên như vậy [明寂自然, minh tịch tự nhiên]
Lời nói không thể diễn tả được
Và cả:
Đừng dập tắt cảm xúc thông thường
Chỉ dạy cách để các ý kiến nghỉ ngơi
Khi ý kiến không còn, tâm dừng lại
Khi tâm không còn, việc thực hành bị cắt đứt
Không cần phải chứng minh cái Hư không
Nó tự nhiên sáng tỏ và thông suốt [自然明徹, tự nhiên minh triệt][note 2]
Các bản dịch tiếng Anh
Tâm Minh đã được Henrik H. Sorensen dịch sang tiếng Anh trên Tạp chí Triết học Trung Quốc Tập 13, 1986, trang 101–120;[6][7] và cũng được Thiền sư Thánh Nghiêm dịch trong Bài ca về Tâm: Trí tuệ từ Kinh điển Thiền Tâm Minh, Nhà xuất bản Shambhala 2004. Xem thêm Thánh Nghiêm, Thơ về Giác ngộ, Những bài thơ của các Thiền sư cổ đại, trang 31–43, Nhà xuất bản Shambhala, 2006. Gần đây nhất, nó đã được Randolph S. Whitfield dịch sang tiếng Anh trong Ghi chép về việc Truyền đăng, Tập 8, Thơ và Văn bia Thiền, trang 89–95, Books on Demand, 2020.
Xem thêm
Ghi chú
- ^ See here for the same term, self-illumination (自照, zizhao), in the related Xinxin Ming (Faith-Mind Inscription):
"Nothing remains
Nothing is harboured in memory
Void, clear, self-illumining [自照, zizhao]
The heart-strength does not struggle
It is not the place of calculated thinking
Difficult for understanding and sentiment to fathom
In the Dharma realm of true Suchness
There is no other, no self"[1] - ^ For another example of the terms wuwei and ziran in a Chan Buddhist source, see the following, attributed to Baozhi:
"Wuwei, the great Dao, self-existent [Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).]
No use to weigh it with the heart"[3]
Alternative translation by Cleary:
"The uncontrived Great Way is natural and spontaneous; you don't need to use your mind to figure it out."[4]
According to Jinhua Jia, although a number of Chan verses, including the above, have been attributed to the Liang dynasty figure Baozhi, these are likely products of the Hongzhou school, which flourished during the Tang dynasty.[5]
Tài liệu tham khảo
- ^ Records of the Transmission of the Lamp, Volume 8, Chan Poetry and Inscriptions, translated by Randolph Whitfield, page 88 (for the Chinese, see page 240, note 356), Books on Demand, 2020
- ^ Pajin, Dusan (1988). "On Faith in Mind - Translation and Analysis of the Hsin Hsin Ming". Journal of Oriental Studies. XXVI (2): 270–288. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2025.
- ^ Records of the Transmission of the Lamp, Volume 8, Chan Poetry and Inscriptions, translated by Randolph S. Whitfield, page 38 (for the Chinese, see page 232, note 110), Books on Demand, 2020
- ^ The Zen Reader, edited by Thomas Cleary, page 9, Shambhala Publications, 2012
- ^ Jinhua Jia. The Hongzhou School of Chan Buddhism in Eighth- through Tenth-Century China, pages 89-95, State University of New York Press, 2006
- ^ Sorensen, Henrik H. (1986). "The "Hsin-Ming" Attributed to Niu-T'Ou Fa-Jung". Journal of Chinese Philosophy. 13: 101–119. doi:10.1163/15406253-01301004.
- ^ "Mind Inscription". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2025.
Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).