Bước tới nội dung

Tín hiệu khói

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tranh minh họa về khói hiệu của thổ dân da đỏ

Tín hiệu khói (Smoke signal) hay khói hiệu là một trong những hình thái thông tin liên lạc khoảng cách xa cổ xưa nhất của nhân loại thông qua việc tạo khói để ra hiệu và liên lạc. Đây là một dạng thức truyền thông thị giác được vận dụng trên một khoảng cách lớn. Nhìn một cách tổng quan, các tín hiệu khói được khai thác nhằm mục đích truyền tin tức, báo động nguy cơ hiểm họa, hoặc tập hợp con người đến một khu vực chung. Mặc dù hình thức liên lạc bằng khói hiệu là cổ xưa và lạc hâu nhưng nó vẫn được ứng dụng trong quân sự hiện đại, các loại lựu đạn khói màu sắc được ứng dụng một cách phổ biến bởi các lực lượng vũ trang nhằm mục đích đánh dấu các vị trí chiến thuật, đặc biệt là trong các yêu cầu gọi pháo binh rót vào mục tiêu hoặc lực lượng không quân chi viện quân sự. Thuật ngữ tín hiệu khói cũng có thể đề cập đến các thiết bị tạo khói được vận dụng để phát các tín hiệu cầu cứu (distress signals) trong công tác cứu hộ hàng hải và hàng không.[1][2]

Lịch sử

Trung Hoa

Trong thời kỳ Trung Quốc cổ đại, những người lính đóng quân dọc theo Vạn Lý Trường Thành đã chủ động phát ra các lànkhói hiệu trên các tháp hỏa hiệu hay Hỏa phong đài (beacon towers) của thành để cảnh báo cho nhau về các cuộc xâm lăng của kẻ địch.[3][4] Màu sắc và số lượng cột khói sẽ truyền tải thông tin về quy mô của lực lượng địch quân.[3] Bằng việc thiết lập các tháp hỏa hiệu tại các khoảng cách đều đặn mang tính chu kỳ và bố trí một binh sĩ túc trực tại mỗi tháp, các thông điệp hoàn toàn có thể được truyền tải thông suốt trên toàn bộ chiều dài 7.300 km của tòa trường thanh này.[3] Các tín hiệu khói đồng thời cũng thực hiện nhiệm vụ cảnh báo cho các thành trì nằm sâu trong nội địa về cuộc tấn công, cho phép các đơn vị điều phối một kế hoạch phòng thủ và điều động các toán quân hỗ trợ đồn trú.[4] Việc vận dụng sai mục đích tín hiệu khói theo truyền thống lịch sử được coi là một tác nhân cốt lõi dẫn đến sự sụp đổ mang tính hủy diệt của vương triều Tây Chu vào thế kỷ thứ VIII trước Công nguyên. Chu U Vương được tả là đã duy trì một thói quen tai hại khi liên tục lừa gạt các chư hầu của mình bằng việc đốt các tháp hỏa hiệu báo động giả chỉ nhằm mục đích tiếng cười khoái tra cho nàng Bao Tự ái phi của ông ta.[5]

Tại Ý

Ít nhất là từ thế kỷ XIII trở đi, việc ứng dụng các tín hiệu khói đã được ghi nhận một cách bài bản tại các thành phố, tòa thành, tháp canh và làng mạc thuộc miền bắc và miền trung nước Ý như một phương thức cảnh báo về sự tiếp cận của quân thù trong thời kỳ chiến sự. Một cột khói duy nhất sẽ biểu thị rằng lực lượng quân địch sở hữu số lượng quy mô lớn, trong khi hai cột khói biểu thị rằng mối đe dọa chỉ cấu thành từ một toán quân nhỏ biên chế thấp. Vào ban đêm, các tín hiệu tương tự sẽ được truyền tải thông qua khâu thắp lửa hoặc đèn lồng.[6] Kể từ thế kỷ XIX, Hồng y Đoàn đã liên tục vận dụng các tín hiệu khói để thông báo về kết quả của các lượt bỏ phiếu trong suốt tiến trình diễn ra một cuộc Mật nghị Hồng y. Các hồng y đủ điều kiện sẽ tiến hành một quy trình bỏ phiếu kín cho đến khi một ứng viên Giáo hoàng nhận được số phiếu bầu chiếm tỷ lệ hai phần ba cộng một. Toàn bộ các lá phiếu bầu sẽ được đốt cháy sau mỗi lượt bỏ phiếu; kể từ năm 1914, sự xuất hiện của làn khói đen biểu thị cho một lượt bầu cử thất bại chưa có kết quả, và làn khói trắng đồng nghĩa với việc một vị tân Giáo hoàng đã được bầu chọn chính thức.

Tích Lan

Trong suốt thời kỳ Kandy của Sri Lanka, các binh sĩ đồn trú trên các đỉnh núi cao đã tiến hành báo động cho nhau về các cuộc tấn công sắp xảy ra của kẻ thù (từ quân người Anh, người Hà Lan hoặc người Bồ Đào Nha) bằng cách phát tín hiệu truyền liên thông từ đỉnh núi này sang đỉnh núi khác. Theo phương thức này, họ hoàn toàn có thể truyền tải một thông điệp khẩn cấp về cho Nhà vua chỉ trong vòng vài giờ đồng hồ ngắn ngủi.[7]

Người da đỏ

Các bộ tộc bản địa Bắc Mỹ da đỏ cũng tổ chức thông tin liên lạc rộng rãi thông qua tín hiệu khói. Mỗi một bộ tộc đều có cho mình một hệ thống phát tín hiệu và sự thấu hiểu quy ước của riêng của tộc mình. Một người phát tín hiệu sẽ khởi động một ngọn lửa trên một địa hình cao, điển hình là vận dụng các loại cỏ ẩm để tạo ra một cột khói dày bốc lên cao. Khối cỏ sẽ được nhấc ra khi nó khô đi và một bó cỏ ẩm khác sẽ được đặt tiếp vào ngọn lửa. Theo các ghi chép, vị trí hiển thị của làn khói dọc theo sườn dốc sẽ truyền tải một ngữ nghĩa rạch ròi. Nếu cột khói bốc lên từ vị trí nửa chừng núi, nó phát đi tín hiệu rằng mọi sự đều bình an; nhưng nếu bốc lên từ đỉnh núi, nó biểu thị cho một tình trạng hiểm họa nguy cấp.[8] Các cuốn nhật ký hành trình của Lewis và Clark đã trích dẫn một số trường hợp khi họ chủ động áp dụng phương thức của người Mỹ bản địa là đốt cháy các vùng bình nguyên để thông báo về sự hiện diện của toán hành trình hoặc bày tỏ nguyện vọng muốn gặp gỡ, giao lưu với các bộ tộc bản địa địa phương.[9]

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Pyrotechnic device, ngày 4 tháng 2 năm 1964, truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017
  2. ^ Smoke signal, ngày 28 tháng 11 năm 1967, truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017
  3. ^ a b c Ivan, Djordjevic (2010). Coding for Optical Channels. Springer US. tr. 2. ISBN 978-1-4419-5569-2. OCLC 699999686.
  4. ^ a b Du, Yumin; Chen, Wenwu; Cui, Kai; Guo, Zhiqian; Wu, Guopeng; Ren, Xiaofeng (ngày 16 tháng 2 năm 2021). "An exploration of the military defense system of the Ming Great Wall in Qinghai Province from the perspective of castle-based military settlements". Archaeological and Anthropological Sciences. 13 (3): 46. Bibcode:2021ArAnS..13...46D. doi:10.1007/s12520-021-01283-7. ISSN 1866-9557.
  5. ^ Sima Qian (1995) [1993]. Sử ký. Quyển 4. ISBN 0231081693.
  6. ^ Romanoni, Fabio (2025). "Enemy at the Gates: Self-defense Strategies and Measures Taken by the Rural Communities of the Visconti State in the 14th Century". Edad Media. Revista de Historia. 26: 166–169. ISSN 2530-6448.
  7. ^ Knox, Robert (2004). An Historical Relation of the Island Ceylon in the East Indies Together with an Account of the Detaining in Captivity the Author and Divers other Englishmen Now Living There, and of the Author's Miraculous Escape. Project Gutenberg. OCLC 703947445 tại Dự án Gutenberg
  8. ^ "Smoke Signal". addpmp.slamjam.com. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2022.
  9. ^ "Lewis and Clark Journals, July 20, 1805".

Tham khảo

  • Gusinde, Martin (1966). Nordwind—Südwind. Mythen und Märchen der Feuerlandindianer (bằng tiếng Đức). Kassel: E. Röth.
  • Itsz, Rudolf (1979). "A kihunyt tüzek földje". Napköve. Néprajzi elbeszélések (bằng tiếng Hungary). Budapest: Móra Könyvkiadó. tr. 93–112. Translation of the original: Итс, Р.Ф. (1974). Камень солнца (bằng tiếng Nga). Ленинград: Detskaya Literatura. Title means: “Stone of sun”; chapter means: “The land of burnt-out fires”. (Leningrad: "Children's Literature" Publishing.)
  • Myers, Fred (1986). Pintupi Country, Pintupi Self. USA: Smithsonian Institution.