Tartu Jalgpallikool Tammeka, thường được gọi là Tartu Tammeka hoặc đơn giản là Tammeka, là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Estonia có trụ sở tại Tartu và thi đấu tại Meistriliiga, hạng đấu cao nhất của bóng đá Estonia. Sân nhà của câu lạc bộ là Sân vận động Tamme.

Tammeka
Tập tin:JK Tammeka crest.png
Tên đầy đủTartu Jalgpallikool Tammeka
Thành lập13 tháng 6 năm 1989; 37 năm trước (1989-06-13)
SânSân vận động Tamme Tartu
Sức chứa1.750[1]
Chủ tịchKaarel Kiidron
Người quản lýKarel Voolaid
Giải đấuMeistriliiga
2025Meistriliiga, thứ 8 trên 10
Websitehttp://www.jktammeka.ee

Được thành lập vào năm 1989, Tammeka là câu lạc bộ bóng đá lớn nhất miền nam Estonia với hơn 700 thành viên.[2] Câu lạc bộ thi đấu tại Meistriliiga kể từ mùa giải 2005 và chưa từng xuống hạng khỏi hạng đấu cao nhất Estonia.

Lịch sử

Những năm đầu và thập niên đầu tiên tại Meistriliiga (1989–2013)

Tammeka được thành lập vào ngày 13 tháng 6 năm 1989 với tư cách học viện trẻ bởi Hillar Otto, Avo Jakovits và Heino Ligi.[3][4] Năm 2000, câu lạc bộ gia nhập hệ thống giải bóng đá Estonia và bắt đầu thi đấu ở bảng Nam của III liiga. Mùa giải ra mắt của Tammeka thành công khi đội đứng đầu với 46 điểm trong tổng số 60 điểm tối đa. Tammeka được thăng hạng lên II liiga, và năm 2001 lên Esiliiga. Câu lạc bộ khẳng định vị trí tại Esiliiga khi đứng thứ sáu ở mùa giải 2002 và thứ bảy ở mùa giải 2003. Tammeka vô địch Esiliiga ở mùa giải 2004 và được thăng hạng lên Meistriliiga. Đội đánh bại Dünamo 9–0 trong trận Meistriliiga đầu tiên và kết thúc mùa giải đầu tiên ở hạng đấu cao nhất Estonia với vị trí thứ bảy. Tháng 12 năm 2005, Sergei Ratnikov được bổ nhiệm làm huấn luyện viên. Tammeka kết thúc mùa giải 2006 ở vị trí thứ sáu.[5]

Maag Tammeka

Năm 2007, Tammeka sáp nhập với đối thủ cùng thành phố Maag trong nỗ lực xây dựng một câu lạc bộ tại Tartu có thể cạnh tranh với các câu lạc bộ Tallinn để giành huy chương và suất dự cúp châu Âu.[6] Câu lạc bộ được đổi tên thành Maag Tammeka và bắt đầu thi đấu trong áo màu cam. Dù nguồn lực được hợp nhất, đội mất một số cầu thủ chủ chốt và kết thúc mùa giải 2007 ở vị trí thứ năm. Ratnikov từ chức vào tháng 11 năm 2007 và trợ lý của ông Sergei Zamogilnõi tiếp quản vị trí huấn luyện viên. Maag Tammeka lọt vào chung kết Cúp bóng đá Estonia 2007–08, nhưng thua Flora 1–3. Đội kết thúc mùa giải 2008 ở vị trí thứ bảy, sau đó hợp đồng tài trợ với Maag kết thúc và Tammeka tiếp tục hoạt động như một câu lạc bộ độc lập.[5]

Khẳng định vị trí ở hạng đấu cao nhất

Mùa giải tiếp theo, Tammeka khôi phục tên gọi và màu sắc ban đầu, nhưng phải hoạt động với ngân sách nhỏ hơn và do đó mất thêm một số cầu thủ. Huấn luyện viên đội dự bị Norbert Hurt được bổ nhiệm làm huấn luyện viên và một số cầu thủ đội dự bị được đôn lên đội một. Dù khởi đầu chậm, Tammeka vẫn kết thúc mùa giải 2009 ở vị trí thứ bảy.

Tập tin:Tammeka (5).jpg
Tammeka trong giai đoạn tiền mùa giải 2012

Vào mùa hè năm 2009, câu lạc bộ được mua lại bởi Babak Afshar, người Đức-Iran, và vợ ông là Jane Afshar; bà Jane sau đó được bổ nhiệm làm chủ tịch câu lạc bộ.[7] Tháng 12 năm 2009, Marko Kristal thay Hurt làm huấn luyện viên. Kristal xây dựng lại đội bóng quanh các cầu thủ từ hệ thống đào tạo trẻ như Albert Prosa, Kaarel KiidronSiim Tenno, kết thúc mùa giải 2010 ở vị trí thứ sáu. Dù khởi đầu tốt ở mùa giải 2011, phong độ của đội giảm sút trong nửa sau mùa giải. Tháng 9 năm 2011, cựu cầu thủ Tammeka Kristjan Tiirik thay Kristal làm huấn luyện viên và đội kết thúc mùa giải ở vị trí thứ bảy. Kỳ chuyển nhượng mùa đông sau đó chứng kiến sự ra đi của một số cầu thủ chủ chốt, bao gồm Prosa, Kiidron và Tenno. Sau khởi đầu kém ở mùa giải 2012, Tiirik được thay bởi Joti Stamatopoulos vào tháng 7 năm 2012. Stamatopoulos không tạo ra khác biệt và Tammeka kết thúc mùa giải ở vị trí cuối bảng, chỉ giành 20 điểm. Dù đứng cuối, Tammeka thoát xuống hạng do Viljandi giải thể. Tháng 1 năm 2013, Uwe Erkenbrecher được bổ nhiệm làm huấn luyện viên. Bất chấp các vấn đề tài chính ngày càng tăng, Tammeka kết thúc mùa giải 2013 ở vị trí thứ chín và đánh bại Tarvas với tổng tỉ số 6–2 trong vòng play-off xuống hạng, qua đó giữ suất Meistriliiga.[5]

Vấn đề giấy phép Meistriliiga và pháp nhân mới (2014–2016)

Đến tháng 1 năm 2014, các vấn đề tài chính kéo dài đã dẫn đến tình trạng các huấn luyện viên, cầu thủ và nhân viên của câu lạc bộ không còn sẵn sàng hợp tác với ban lãnh đạo câu lạc bộ, trong khi học viện Tammeka (Jalgpallikool Tammeka) đã tách khỏi câu lạc bộ mẹ (Jalgpalliklubi Tammeka).[8][9] Ngày 11 tháng 1, Liên đoàn bóng đá Estonia đề xuất một kế hoạch tái cấu trúc nhằm cứu câu lạc bộ khỏi phá sản, nhưng đề xuất này không được chủ tịch câu lạc bộ Jane Afshar chấp nhận.[10] Ngày 1 tháng 2 năm 2014, Tammeka mất giấy phép Meistriliiga do không đáp ứng một số yêu cầu cấp phép của giải, bao gồm việc không trả lương cho cầu thủ và từ chối kế hoạch tái cấu trúc được đề xuất.[11] Ngày 11 tháng 2, giấy phép thi đấu ở hạng đấu cao nhất được cấp cho học viện của đội là Jalgpallikool Tammeka, bảo đảm sự tiếp tục của Tartu Tammeka dưới một pháp nhân mới.[12] Cựu cầu thủ Tammeka Indrek Koser được bổ nhiệm làm huấn luyện viên và đội đứng thứ bảy ở mùa giải 2014.[5] Tammeka kết thúc mùa giải 2015 ở vị trí thứ chín, nhưng tránh xuống hạng khi đánh bại Tallinna Kalev với tổng tỉ số 4–2 trong vòng play-off xuống hạng. Đội đứng thứ bảy ở mùa giải 2016. Tháng 11 năm 2016, Tammeka thông báo Mario Hansi và Kaido Koppel sẽ thay Koser trong mùa giải tới.

Khát vọng vào tốp ba (2017–nay)

Tập tin:Tartu Tammeka 2023.jpg
Tammeka ăn mừng bàn thắng trước các cổ động viên của họ năm 2023

Tháng 3 năm 2017, giám đốc điều hành Tammeka Kristjan Tiirik thông báo trong một cuộc phỏng vấn với ERR rằng câu lạc bộ đã xây dựng một kế hoạch chiến lược, theo đó họ sẽ cạnh tranh huy chương và suất dự cúp châu Âu vào năm 2020.[13] Tammeka lọt vào chung kết Cúp bóng đá Estonia 2016–17, nhưng thua 0–2 trước FCI Tallinn. Dưới quyền huấn luyện viên trưởng Kaido Koppel, người tiếp tục dẫn dắt đội trong gần năm mùa giải, Tammeka dần cải thiện thành tích giải vô địch, tiến từ vị trí thứ bảy lên hai mùa liên tiếp đứng thứ năm vào 20192020. Tuy nhiên, câu lạc bộ không đạt được những tham vọng đã đặt ra vào năm 2017[14] và trong nửa thập niên tiếp theo, Tammeka luân phiên giữa các vị trí nửa dưới bảng xếp hạng và các cuộc chiến trụ hạng.

Tháng 8 năm 2025, cựu đội trưởng Tammeka Kaarel Kiidron được bầu làm chủ tịch câu lạc bộ, và Tammeka bổ nhiệm Karel Voolaid làm huấn luyện viên trưởng cho mùa giải 2026.

Trang phục

Màu sắc

Màu sắc của Tammeka - xanh lam và trắng - bắt nguồn từ màu của quốc kỳ Estonia và được thiết lập trong thời điểm thành lập câu lạc bộ vào năm 1989 như một tuyên bố trực tiếp ủng hộ phong trào độc lập Estonia.[15]

Nhà sản xuất trang phục và nhà tài trợ áo đấu

Giai đoạn Nhà sản xuất trang phục Nhà tài trợ áo đấu Tham khảo
2014–2015 Nike Goldtime [16]
2016 Sportland
2017–2021 Metec
2022–2025
2025– Livida

Sân vận động

Sân vận động Tamme

Tập tin:Tamme staadion 2024.jpg
Khán đài chính của Sân vận động Tamme Tartu

Sân nhà của câu lạc bộ là Sân vận động Tamme Tartu có 1.750 chỗ ngồi.[1] Khai trương lần đầu vào năm 1932, đây là sân vận động bóng đá lớn nhất tại Tartu. Sân được cải tạo và mở cửa trở lại vào năm 2011. Sân vận động Tamme Tartu tọa lạc tại Tamme 1, Tammelinn, Tartu.[17]

Sepa Jalgpallikeskus

Tập tin:Sepa jalgpallikeskus okt2017 kallepaas.jpg
Sepa Jalgpallikeskus là trung tâm tập luyện của Tartu Tammeka

Trung tâm tập luyện của Tammeka là Sepa Jalgpallikeskus, nằm tại Khu công nghiệp Ropka. Được khai trương vào năm 2016, trung tâm bóng đá này có một sân tập cỏ tự nhiên và một sân cỏ nhân tạo 504 chỗ ngồi với hệ thống sưởi dưới mặt sân, trong đó sân cỏ nhân tạo được đội một sử dụng làm sân nhà trong các tháng mùa đông và đầu mùa xuân.

Tháng 4 năm 2022, một cơ sở bóng đá trong nhà mang tên Annemõisa Jalgpallihall được khai trương tại Tartu. Với chi phí hơn 3 triệu euro, khu phức hợp này phục vụ các cầu thủ trong những tháng mùa đông và mùa xuân có tuyết.[18]

Cầu thủ

Đội hình một

Tính đến 5 tháng 5 năm 2026.[19][20]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
3 HV   Pedro Manoel
4 HV   Mait Vaino
5 HV   Marius Vister
6 TV   Mattis Karis
7 TV   Thomas Lisboa
8 TV   Karl Kiidron
9 HV   Mairo Miil
10 TV   Giacomo Uggeri
11 TV   Robin Mathias Müür
12 TM   Kristofer Sahtel
13 TV   Reio Laabus
15 TV   David Epton
17   Chilem Williams
19   Tristan Koskor
22 TV   Tanel Lang
Số VT Quốc gia Cầu thủ
23 TV   Patrick Genro Veelma
24 TV   Herman Pedmanson
25 TV   Arti Viinapuu
26 TM   Kristen Lapa (mượn từ Flora)
27 HV   Laurits Õunpuu
28 HV   Rasmus Kallas
29   Romet Silov
44 HV   Oliver Kangaslahti (đội trưởng)
72 HV   German Jürgenthal
77 TM   Carl Kiidjärv
79 TV   Pavel Marin
89   Kauan Pereira
94 TM   Richard Aland
99 TV   Muhammed Hydara

Cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
18 HV   Mihkel Sepp (tại Welco đến ngày 31 tháng 12 năm 2026)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
TV   Kevin Burov (tại Elva đến ngày 31 tháng 12 năm 2026)

Đội U-21 và học viện

Quan chức câu lạc bộ

Danh hiệu

Giải vô địch

Cúp

Các mùa giải và thống kê

Các mùa giải

Mùa giải Hạng đấu VT ST T H B BT BB HS Đ Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất Cúp
2000 III liiga (S) 1 20 15 1 4 75 24 +51 46   Vitali Gussev (22)
2001 II liiga (S/W) 1 20 15 0 5 72 29 +43 45   Kristjan Tiirik (20)
2002 Esiliiga 6 28 9 6 13 47 66 −19 33   Kristjan Tiirik (11)
2003 7 28 3 5 20 44 99 −55 14   Kristjan Tiirik (20)
2004 1 28 17 7 4 74 34 +40 58   Oliver Konsa (25) Vòng Hai
2005 Meistriliiga 7 36 8 5 23 50 88 −38 29   Kristjan Tiirik (15)
2006 6 36 12 7 17 45 57 −12 43   Oliver Konsa (12)
2007 5 36 18 8 10 54 40 +14 62   Siksten Kasimir
  Nikolai Lõsanov (10)
Tứ kết
2008 7 36 9 4 23 45 76 −31 31   Kristjan Tiirik (11) Á quân
2009 7 36 7 3 26 29 86 −57 24   Albert Prosa (6) Tứ kết
2010 6 36 11 7 18 50 66 −16 40   Albert Prosa (12) Bán kết
2011 7 36 11 6 19 57 75 −18 39   Albert Prosa (22) Vòng Bốn
2012 10 36 4 8 24 30 79 −49 20   Kaspar Kaldoja (5) Tứ kết
2013 9 36 8 8 20 30 68 −38 32   Kristjan Tiirik (6) Bán kết
2014 7 36 7 7 22 37 83 −46 28   Kristjan Tiirik (13) Vòng Ba
2015 9 36 7 4 25 39 96 −57 25   Kristjan Tiirik (10) Vòng Ba
2016 7 36 12 5 19 43 65 −22 41   Kristjan Tiirik (12) Bán kết
2017 7 36 9 10 17 40 63 −23 37   Tristan Koskor (10) Á quân
2018 6 36 14 7 15 56 58 −2 49   Tristan Koskor (21) Vòng Hai
2019 5 36 14 7 15 57 62 −5 49   Sten Reinkort (11) Tứ kết
2020 5 28 8 8 12 33 44 −11 32   Tristan Koskor (12) Tứ kết
2021 9 30 7 4 19 34 72 −38 25   Tristan Koskor (11) Tứ kết
2022 6 36 10 9 17 38 57 −19 39   Kevin Mätas (10) Tứ kết
2023 9 36 5 12 19 33 65 −32 27   Kevin Mätas (10) Bán kết
2024 5 36 11 9 16 47 54 −7 42   Ahmed Adebayo (15) Vòng Bốn
2025 8 36 9 3 24 47 83 −36 30   Ahmed Adebayo (11) Vòng Ba

Tham khảo

  1. ^ a b "Tamme staadion". Eesti spordiregister.
  2. ^ "Galerii ⟩ Tammeka tutvustas esindusvõistkondi, aga ka tulevikuplaane". Tartu Postimees (bằng tiếng Estonia). ngày 6 tháng 3 năm 2024.
  3. ^ "Tammeka tähistab veerandsajandi möödumist klubi asutamisest" [Tammeka marks quarter of a century since the club's founding] (bằng tiếng Estonia). JK Tammeka.
  4. ^ "Noored lõid 35 aastat tagasi võõrvõimu all salamisi eestlust kuulutava jalgpalliklubi" [35 years ago, youngsters created a football club secretly proclaiming Estonian nationalism under foreign rule]. Tartu Postimees (bằng tiếng Estonia). ngày 19 tháng 7 năm 2024.
  5. ^ a b c d "Ajalugu" [History] (bằng tiếng Estonia). JK Tammeka. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2015.
  6. ^ "Ajalugu". Tammeka (bằng tiếng Estonia).
  7. ^ Treial, Mart (ngày 15 tháng 1 năm 2013). "Babak Afshar: sisimas oleme profid". Soccernet.ee.
  8. ^ "Tammeka's Spin-Off to Play in Top Football League". ERR (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 2 năm 2014.
  9. ^ "Jalgpalliliit tegi Tammekale saneerimisettepaneku". Postimees Sport (bằng tiếng Estonia). ngày 12 tháng 1 năm 2014.
  10. ^ "Tammeka ei võtnud saneerimispakkumist vastu. Meistriliiga kohast tuleb loobuda?". Postimees Sport (bằng tiếng Estonia). ngày 16 tháng 1 năm 2014.
  11. ^ "Popular Tartu Football Club Booted From Top League". ERR (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 2 năm 2014.
  12. ^ "Tartu jalgpalli pääsemine: EJL pakub kõrgliigakohta Tammeka jalgpallikoolile" [The salvation of Tartu's football: Estonian FA offers the top division spot to Tammeka's academy]. Postimees Sport (bằng tiếng Estonia). ngày 11 tháng 2 năm 2014.
  13. ^ "Kristjan Tiirik: Tartu-suguses linnas peab kindlasti olema sisehall". ERR (bằng tiếng Estonia). ngày 18 tháng 3 năm 2017.
  14. ^ Järvela, Ott (ngày 21 tháng 12 năm 2020). "Videokohtunik | Oli ju jutt, et 2020 mängib Tartu Tammeka medalitele!?" [Video referee | There was talk that Tartu Tammeka will play for medals in 2020!?]. Soccernet.ee.
  15. ^ "Tammeka sümboolika". tammeka (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2024.
  16. ^ "JK Tammeka Tartu Kit History". Football Kit Archive (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2023.
  17. ^ "Tartu Tamme staadion" (bằng tiếng Estonia). Liên đoàn bóng đá Estonia.
  18. ^ "Linnavalitsus avab uue Annemõisa jalgpallihalli neljapäeval". Tartu Postimees (bằng tiếng Estonia). ngày 4 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2023.
  19. ^ a b "Koosseis". jktammeka.ee (bằng tiếng Estonia). Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2026.
  20. ^ "Tartu JK Tammeka". Liên đoàn bóng đá Estonia. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2025.

Liên kết ngoài