Bước tới nội dung

Thái Văn Lung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thái Văn Lung
Tập tin:Thaivanlung.jpg
Luật sư, Đại biểu Quốc hội khóa I, liệt sĩ Thái Văn Lung
SinhAlbert Thái Văn Lung
14 tháng 7 năm 1916 (có tài liệu ghi 1914)
Thủ Đức, Gia Định, Đông Dương thuộc Pháp
Mất2 tháng 7 năm 1946 (29 tuổi)
Sài Gòn
Quốc tịch Việt Nam (trước năm 1945 có quốc tịch Pháp)
Trường lớpCử nhân Luật khoa hạng ưu (Đại học Paris)
Nghề nghiệpLuật sư, Chỉ huy quân sự
Tổ chứcThanh niên Tiền phong, Mặt trận Việt Minh
Tôn giáoCông giáo Rôma
Cha mẹKỹ sư Thái Văn Lân
Người thânThái Thị Liên (Em gái)
Đặng Thái Sơn (Cháu gọi bằng bác)

Thái Văn Lung (14 tháng 7 năm 1916 - 2 tháng 7 năm 1946) là một luật sư, đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I và là một chiến sĩ cách mạng, chỉ huy quân sự nổi bật trong thời kỳ Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp. Vốn xuất thân là một sĩ quan mang quốc tịch Pháp, ông đã từ bỏ mọi vinh hoa phú quý để tham gia lực lượng Việt Minh, trở thành thủ lĩnh của tổ chức lực lượng vũ trang "Bộ đội Thái Văn Lung" khét tiếng tại cửa ngõ phía đông Sài Gòn và đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập của nước nhà khi chưa tròn 30 tuổi.[1]

Thân thế và học vấn

Thái Văn Lung sinh ngày 14 tháng 7 năm 1916 (một số tài liệu ghi năm 1914) tại huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định, xuất thân trong một gia đình trí thức khá giả thuộc "làng Tây" theo đạo Thiên Chúa giáo. Ông có tên Thánh là Albert. Cha ông là kỹ sư Thái Văn Lân, một nhân sĩ giao du rộng trong giới văn nghệ sĩ thời bấy giờ. Em gái ông là Thái Thị Liên (1918–2023), sau này trở thành Nhà giáo Nhân dân, Nghệ sĩ Nhân dân và là nghệ sĩ piano nổi tiếng, mẹ của hai nghệ sĩ nhân dân Đặng Thái SơnTrần Bạch Thu Hà.[2]

Ngay từ thời thiếu niên, ông đã được gia đình cho sang Pháp du học. Ông thi đỗ Cử nhân Khoa Luật hạng ưu tại Đại học Paris, đồng thời theo học thêm tại Trường Khoa học Chính trị (trường chuyên đào tạo các chính khách) và Trường Thuộc địa (Ecole Coloniale).

Năm 1930, ông chính thức mang quốc tịch Pháp. Nhờ đó, ông phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia học tại Trường võ bị nổi tiếng Saint Cyr (hoặc Trường Sĩ quan Pháo binh), ra trường với quân hàm Chuẩn úy. Trong 4 năm phục vụ trong quân đội Pháp, ông đã tham gia chiến đấu trong cuộc chiến tranh Pháp - Xiêm (Thái Lan) và Chiến tranh thế giới thứ hai. Năm 1941, ông được thăng hàm Trung úy, sau đó xin giải ngũ.[3]

Năm 1941 (có nguồn ghi tháng 3 năm 1945), ông trở về Việt Nam và làm tập sự trạng sư, rồi trở thành trạng sư (luật sư) chính thức tại Tòa Thượng thẩm Sài Gòn. Hành nghề luật, ông tiếp xúc nhiều với dân nghèo, thấu hiểu nỗi khổ cực của họ bị chà đạp, áp bức nên thường đứng ra bênh vực.[3]

Hoạt động cách mạng

Thanh niên Tiền phong và Cách mạng tháng Tám

Tháng 3 năm 1945, khi phát xít Nhật đảo chính Pháp để độc chiếm Đông Dương, Xứ ủy Nam Kỳ (do đồng chí Trần Văn Giàu đứng đầu) đã tương kế tựu kế, lợi dụng đề nghị của Nhật để xây dựng một lực lượng thanh niên công khai nhưng thực chất là một tổ chức yêu nước, chống cả Pháp và Nhật. Đó chính là tổ chức Thanh niên Tiền phong.[4]

Luật sư Thái Văn Lung cùng với các trí thức như bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, nha sĩ Nguyễn Văn Thủ, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng... đã tham gia sáng lập và trở thành một trong những thủ lĩnh của lực lượng này. Với những kiến thức quân sự bài bản từ Pháp, ông được phân công phụ trách công tác huấn luyện quân sự cho các đội viên, góp phần quan trọng chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại Sài Gòn vào ngày 25 tháng 8 năm 1945.[5]

Nam Bộ kháng chiến và Bộ đội Thái Văn Lung

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm trụ sở chính quyền cách mạng ở trung tâm Sài Gòn, mở đầu cuộc Nam Bộ kháng chiến. Ngay trong buổi sáng hôm đó, quân Pháp lùng sục và bắt giữ Thái Văn Lung. Bị địch tra tấn nhưng ông vẫn nén đau, không để lộ thân phận và sau đó đã mưu trí trốn thoát khỏi sự kiểm soát của giặc.[1]

Thoát ly gia đình, ông trở về ngoại thành Thủ Đức tham gia kháng chiến và được cử làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến quận Thủ Đức. Tại đây, ông tập hợp các đoàn viên Thanh niên Cứu quốc từ các xã Linh Trung, Phong Phú, Xuân Hiệp, Trường Thọ tổ chức cướp súng giặc để tự vũ trang. Ngày 26 tháng 9 năm 1945, ông bí mật đưa lực lượng từ Thủ Đức đánh vào Cầu Bông, rồi phối hợp với lực lượng Gò Vấp phục kích địch tại ngã ba Chú Ía, bắn cháy xe Jeep và tiêu diệt nhiều lính Pháp.

Cuối tháng 11 năm 1945, từ các lớp huấn luyện quân sự của Tỉnh ủy Gia Định, khu vực Thủ Đức hình thành 4 phân đội vũ trang lấy phiên hiệu là 43 (gồm bộ phận Tân Bình rút qua), 44, 45, và 46. Cả 4 đơn vị này đều do Thái Văn Lung chỉ huy, nhờ sự dũng cảm và uy tín của ông, nhân dân địa phương gọi chung lực lượng này bằng cái tên trìu mến là "Bộ đội Thái Văn Lung".[5] Lính Pháp ở Thủ Đức đặc biệt e ngại và khiếp sợ lực lượng này vì biết thủ lĩnh của họ là một cựu sĩ quan được đào tạo bài bản trong quân đội Pháp.

Đầu năm 1946, khi Pháp đánh nống ra vùng ven nội đô, ngoài việc cầm quân, Thái Văn Lung còn cùng luật sư Phạm Ngọc Thuần (Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính - Kháng chiến Nam Bộ) tích cực làm công tác dân vận, quyên góp tiền, gạo, viết thư kêu gọi anh em trí thức Sài Gòn ủng hộ tiếp tế cho bộ đội.[5]

Đại biểu Quốc hội và Liên quân Chi đội 6

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, trong cuộc bầu cử Tổng tuyển cử đầu tiên của cả nước, Luật sư Thái Văn Lung đã trúng cử và trở thành một trong 6 Đại biểu Quốc hội khóa I đại diện cho tỉnh Gia Định (cùng với Phạm Văn Khung, Lê Văn Mảng, Trịnh Thị Miếng, Trần Văn Nguyên và Nguyễn Oắng).

Tháng 3 năm 1946, Tỉnh ủy Gia Định thành lập Chi đội 6 tại Chiến khu An Phú Đông (chi đội bộ đội chủ lực đầu tiên của tỉnh). Chi đội 6 gồm 3 đại đội, trong đó Đại đội 15 do Luật sư Thái Văn Lung làm Đại đội trưởng (tập hợp lực lượng vũ trang của Nguyễn Văn Banh, Mai Văn Trừ, Trần Văn Cam và Thái Văn Lung).[1] Nhận lệnh từ Tư lệnh Nam Bộ Nguyễn Bình rút về chiến khu Đ an toàn, nhưng ông đã kiên quyết xin được ở lại cửa ngõ Sài Gòn để sống chết cùng bộ đội của mình.

Bị bắt và anh dũng hy sinh

Đầu tháng 7 năm 1946 (khoảng cuối tháng 6), thực dân Pháp mở trận càn lớn vào xã Phước Long, huyện Thủ Đức. Trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt. Do lực lượng địch quá đông và hỏa lực mạnh, Thái Văn Lung ra lệnh cho bộ đội rút xuống hầm bí mật để bảo toàn lực lượng. Không may, ông bị tên Hương quản Tâm (tay sai của địch) chỉ điểm nên Pháp đã bao vây và bắt được ông cùng một đồng đội dưới hầm ẩn náu.

Biết ông là người từng có quốc tịch Pháp và là cựu sĩ quan Pháp, tên chỉ huy trưởng Tiểu khu Thủ Đức đã dụ hàng, dọa xử bắn nếu không khai báo bí mật quân sự. Thái Văn Lung khẳng khái đáp trả:

Kẻ thù tức lộn ruột, chuyển sang tra tấn ông vô cùng dã man. Có lúc tỉnh lại, ông yêu cầu cho gặp gia đình. Bọn giặc mừng rỡ tưởng gia đình sẽ thuyết phục được ông cộng tác, nhưng khi gặp vợ, ông trăng trối:

Cũng trong nhà lao, ông nhắn nhủ một người bạn tù trẻ tuổi: "Tôi chắc không sống bao lâu nữa; dù phải chết tôi cũng không luyến tiếc gì cả... Nếu như em còn sống và được thả ra, em hãy nói với đồng đội của chúng ta hãy cố gắng hết sức mình, hướng về mục đích mà chúng ta đã xác định cho đến ngày chiến thắng cuối cùng".

Ngày 2 tháng 7 năm 1946 (có nguồn ghi ngày 1 tháng 7), Luật sư Thái Văn Lung trút hơi thở cuối cùng trong tù do đòn roi tra tấn tàn bạo của địch, khi chưa tròn 30 tuổi. Sau đó, người phát ngôn quân đội Pháp tại Sài Gòn đã bịa đặt thông tin rằng ông "tự tử vì không chịu nổi cực hình" nhằm trút bỏ trách nhiệm giết hại một trí thức nổi tiếng và mỉa mai người thủ lĩnh kháng chiến.[6]

Vinh danh và di sản

Sự hy sinh của Luật sư Thái Văn Lung gây chấn động mạnh mẽ trong giới trí thức và quân dân Nam Bộ bấy giờ.

  • Ngày 8 tháng 7 năm 1946, người bạn chiến đấu chí thân - luật sư Phạm Ngọc Thuần đã sáng tác bài thơ "Bó hoa hồng" (Gerbes) khóc bạn, có đoạn: "Mạng tuy yểu, anh là bất tử / Bạn đồng liêu tưởng nhớ không nguôi / Lời xưa nung nấu sục sôi / Ghi vào tấc dạ, chí người trượng phu".
  • Trong tờ báo La Voix du Maquis (Tiếng nói kháng chiến), ở mục Variétés du Maquis (Bưng biền phong phú), luật sư Phạm Ngọc Thuần đã viết:[7]
  • Trên báo Cứu quốc số 294, ra ngày 17 tháng 7 năm 1946, Trưởng Ban Thường trực Quốc hội (Chủ tịch Quốc hội) Nguyễn Văn Tố đã đăng bài điếu văn "Một cái tang đau đớn cho quân đội Việt Nam, cho Quốc hội, cho giới trí thức, và cho toàn quốc đồng bào: Ông Albert Thái Văn Lung đã bỏ mình vì nước",[6] có đoạn:

Chú thích

  1. ^ a ă â b c d Nguyên Hùng (2003), Nam bộ, những nhân vật một thời vang bóng, Chương IV: "Các thầy kiện khoác áo chiến bào", Nhà xuất bản Công an nhân dân.
  2. ^ "Sài Gòn nhân vật - Thái Văn Lung". Trang thông tin điện tử Thành phố Hồ Chí Minh. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2008.
  3. ^ a ă Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch nhận xét về Luật sư Thái Văn Lung.
  4. ^ Bài viết của Trưởng ban Thường trực Quốc hội Nguyễn Văn Tố trên báo Cứu quốc số 294, ra ngày 17 tháng 7 năm 1946.
  5. ^ a ă â "Tiểu sử luật sư, liệt sỹ Thái Văn Lung". Trường THCS Thái Văn Lung. ngày 17 tháng 8 năm 2015.
  6. ^ a ă "Cứu Quốc 17 Tháng Bảy 1946 — Thư viện báo chí của Thư viện Quốc gia Việt Nam". baochi.nlv.gov.vn. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2024.
  7. ^ "Thái Văn Lung, một chiến sĩ chống Pháp bất khuất". PA Foundation. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2024.

Thư mục

  • Nguyên Hùng (2003), Nam Bộ - Những nhân vật một thời vang bóng, Nhà xuất bản Công An Nhân dân.
  • Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (1999, tái bản 2004), Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục.

Liên kết ngoài