Thận tần Kim thị
| Thận tần Kim thị 신빈김씨 | |
|---|---|
| Triều Tiên Thế Tông Chính nhất phẩm Tần | |
| Thông tin chung | |
| Sinh | 1406 Triều Tiên |
| Mất | 13 tháng 10 năm 1464 (59 tuổi) |
| An táng | Namyang-ri, thị trấn Namyang-eup, thành phố Hwaseong, tỉnh Gyeonggi |
| Phối ngẫu | Triều Tiên Thế Tông |
| Hậu duệ | Quế Dương quân Lý Tăng Nghĩa Xương quân Lý Giang Mật Thành quân Lý Thâm Dực Hiện quân Lý Quái Ninh Hải quân Lý Đường Đàm Dương quân Lý Cừ 2 Ông chúa chết yểu |
| Tước hiệu | Cung nữ (宮女) Chiêu dung (소용) Thục nghi (숙의) Chiêu nghi (소의) Quý nhân (귀인) Thận tần (신빈) |
| Gia tộc | Thanh Phong Kim thị (청풍김씨)[1] |
| Thân phụ | Kim Nguyên |
| Thân mẫu | Sóc Ninh Cao thị |
Thận tần Kim thị (Hangul: 신빈김씨, 1406 – 13 tháng 10 năm 1464), là hậu cung tần ngự của Triều Tiên Thế Tông. Bản quán tại Thanh Phong,[1] cha là Kim Nguyên, mẹ là Sóc Ninh Cao thị.
Tiểu sử
Nhập cung
Thận tần Kim thị (김씨), bản quán tại Thanh Phong (청풍),[1] không rõ ngày tháng năm sinh của Kim thị, cha là Kim Nguyên (김원) và mẹ là Sóc Ninh Cao thị (삭녕고씨). Bà vốn là nô tì của Nội tự thị, năm 13 tuổi nhập cung bà được Nguyên Kính Vương hậu ban cho làm cung nữ của Chiêu Hiến Vương hậu.[2] Sau này bà được Thế Tông sủng hạnh, vào năm Thế Tông thứ 9 (1427) sinh hạ Quế Dương quân Lý Tăng.
Nội mệnh phụ Triều Tiên
Một năm sau năm Thế Tông thứ 10 (1428) được phong làm Chiêu dung (소용), năm thứ 14 (1432) phong làm Thục nghi (숙의), năm kế tiếp (1433) lại thăng làm Chiêu nghi (소의), năm thứ 21 (1439) phong làm Quý nhân (귀인).[2] Mặc dù Kim thị có xuất thân thấp kém, nhưng bà đã sinh cho Thế Tông 6 con trai và 2 con gái. Trong đó 2 vị Ông chúa đều mất sớm, nhưng cả 6 vị Vương tử đều thuận lợi trưởng thành, vì vậy bà được xem là người có phúc đức.
Hơn nữa, tính cách của bà vững vàng, thận trọng, nhận được sự tin tưởng của Chiêu Hiến Vương hậu, Chiêu Hiến Vương hậu thậm chí còn để bà chăm sóc con trai út là Vĩnh Ưng Đại quân.[2] Do đó, Thế Tông sau khi thảo luận với các đại thần vẫn quyết định thăng bà lên làm Quý nhân. Năm Thế Tông thứ 29 (1447), bà lại được sách phong làm Thận tần (신빈).
Cuối đời
Sau khi Thế Tông qua đời, , bà được triều đình ban tặng 500 thạch gạo làm chi phí in kinh văn để cầu nguyện cho con trai út là Đàm Dương quân qua đời,[3] sau đó bà xuất gia làm ni cô. Ban đầu Văn Tông không tán thành và hết lời khuyên giải, nhưng bà kiên quyết xuất gia. Thời Đoan Tông, vua lệnh cho con trai bà là Nghĩa Xương quân khuyên bà hoàn tục, nhưng ý chí của bà kiên định, giữ vững việc tu hành để cầu phúc cho Thế Tông.[4]
Qua đời và mộ chí
Sau khi Thế Tổ lên ngôi, ông đối đãi với bà vô cùng lễ độ. Bà qua đời vì bệnh vào ngày 4 tháng 9 năm Thế Tổ thứ 10 (1464), hưởng thọ 59 tuổi (tuổi mụ). Mộ của bà hiện nằm tại Namyang-ri, thị trấn Namyang-eup, thành phố Hwaseong, tỉnh Gyeonggi.
Xung quanh mộ có Mộ cát (tấm bia đá nhỏ dựng trước mộ không có trang trí đặc biệt), và Mộ bia được dựng vào năm Thế Tổ thứ 11 (1465), Trường minh đăng (đèn đá thắp sáng), 1 cặp Văn nhân thạch (tượng quan văn bằng đá), Bàn đá (bàn đá để bày lễ vật và cúng tế), và xung quanh mộ được bao bọc bởi tường đá. Năm 1994, nơi này được xếp hạng là Di tích lịch sử số 153 của tỉnh Gyeonggi. Cẩn tần
Gia quyến
- Cha: Kim Nguyên (金元).
- Mẹ: Sóc Ninh Cao thị (朔寧高氏).
- Chồng: Lý Đào (1397 – 1450) [Triều Tiên Thế Tông].
- Con trai:
- Lý Tăng (1427 – 1464) [Quế Dương quân]. Vợ là Tinh Thiện Quận phu nhân Hàn Hữu Sơn con gái Tây Nguyên phủ viện quân Hàn Xác.
- Lý Giang (1428 – 1460) [Nghĩa Xương quân]. Vợ là Lương Nguyên Quận phu nhân Diên An Kim thị.
- Lý Thâm (1430 – 1479) [Mật Thành quân]. Vợ là Phong Đức Quận phu nhân Lệ Hưng Mẫn thị.
- Lý Quái (1431 – 1463) [Dực Hiện quân]. Vợ là Kim Đê Quận phu nhân Bình Nhưỡng Triệu thị.
- Lý Đường (1435 – 1477) [Ninh Hải quân]. Vợ là Lâm Xuyên Quận phu nhân Bình Sơn Thân thị.
- Lý Cừ (1439 – 1450) [Đàm Dương quân]. Mất sớm, thụy hiệu là Di Ai. Lấy cháu trai là [Giang Dương quân] Lý Túc (con của Quế Dương quân) làm người kế tự.
- Con gái:
- 2 Ông chúa, mất sớm.
Trong văn hóa đại chúng
| Năm | Phim ảnh | Diễn viên | Nhân vật |
| 2008 | Thế Tông Đại Vương | Lee Jung-hyun | Thận tần Kim thị |
Tham khảo
- Triều Tiên Vương Thực lục
- Nhiên Lê Thực ký, Quyển 3
- Thận tần Kim thị - Viện Nghiên cứu Hàn Quốc học Trung ương
Chú thích
- ^ a b c Hoàng Nhân Khuê, Luận văn 《Sự xuất gia đi tu và việc thực hành tín ngưỡng Phật giáo của hậu cung thời kỳ đầu Triều Tiên》, 2011, xác nhận ngày 29 tháng 11 năm 2016. (Gốc) 황인규, 논문 《조선전기 후궁의 비구니 출가와 불교신행》, 2011, 2016-11-29 확인
- ^ a b c 《Triều Tiên Vương Triều Thực Lục》Thế Tông quyển thứ 84, Thế Tông năm thứ 21 (1439), ngày 27 tháng 1, bài ghi chép thứ 2. (Gốc) 《조선왕조실록》 세종 84권, 세종21(1439) 1월 27일 2번째 기사
- ^ 《Triều Tiên Vương Triều Thực Lục》Văn Tông quyển thứ 1, Văn Tông năm tức vị (1450), ngày 16 tháng 3, bài ghi chép thứ 2. (Gốc) 《조선왕조실록》 문종 1권, 문종 즉위년(1450) 3월 16일 2번째 기사
- ^ 《Triều Tiên Vương Triều Thực Lục》Đoan Tông quyển thứ 3, Đoan Tông năm tức vị (1452), ngày 12 tháng 9, bài ghi chép thứ 1. (Gốc) 《조선왕조실록》 단종 3권, 단종 즉위년(1452) 9월 12일 1번째 기사