Thực quản Barrett
Bài này cần được chia thành nhiều đề mục nhỏ cho dễ đọc và bớt lan man. (tháng 2/2026) |
| Thực quản Barrett | |
|---|---|
| Tên khác | Barrett's oesophagus, dị dạng Allison-Johnstone, biểu mô trụ lót thực quản dưới (CELLO) |
| Hình ảnh nội soi thực quản Barrett: vùng niêm mạc đỏ nâu sẫm ở đáy thực quản. | |
| Khoa/Ngành | Tiêu hóa, ngoại tổng quát |
| Triệu chứng | Ợ nóng, trào ngược axit[1] |
| Nguyên nhân | Bệnh trào ngược dạ dày-thực quản[1] |
| Phương pháp chẩn đoán | Nội soi, sinh thiết mô[1] |
| Chẩn đoán phân biệt | Viêm dạ dày, co thắt thực quản, nhiễm Helicobacter pylori, sỏi mật, bệnh tim[1] |
| Điều trị | Theo dõi định kỳ, đốt, cắt[1] |
| Thuốc | Ức chế bơm proton[1] |
| Dịch tễ | 1,5%[1] |
Thực quản Barrett (BE) là tình trạng thay đổi bất thường của các tế bào lót phần dưới của thực quản, từ biểu mô lát tầng sang biểu mô trụ.[1] Mặc dù bản thân tình trạng này không gây triệu chứng trực tiếp, nhưng các triệu chứng liên quan có thể bao gồm ợ nóng, trào ngược axit và khó nuốt.[1][2] Đây là một tình trạng tiền ung thư, trong đó dưới 5% trường hợp tiến triển thành ung thư biểu mô tuyến thực quản.[3][1]
Cơ chế bệnh sinh được cho là sự thích nghi của niêm mạc thực quản với tình trạng tiếp xúc axit kéo dài do bệnh trào ngược dạ dày-thực quản (GERD).[1] Một số trường hợp có thể có yếu tố gia đình.[1] Các yếu tố nguy cơ bao gồm thoát vị hoành, mang thai, béo phì, hen suyễn, đái tháo đường và loét dạ dày-tá tràng.[1] Bệnh được phân thành bốn loại: không loạn sản, loạn sản độ thấp, loạn sản độ cao và ung thư biểu mô tuyến xâm lấn.[1] Khuyến nghị tầm soát bệnh ở nam giới có triệu chứng kéo dài trên 5 năm kèm theo các yếu tố nguy cơ khác.[1] Chẩn đoán xác định bằng hình ảnh đặc trưng khi nội soi và sinh thiết mô.[1]
Điều trị thường bằng thuốc ức chế bơm proton (PPI), các phương pháp tiếp theo tùy thuộc vào mức độ bệnh.[1][4] Khi không có loạn sản, nên theo dõi định kỳ mỗi 3-5 năm một lần.[1] Đối với loạn sản độ thấp, nên theo dõi mỗi 6-12 tháng một lần hoặc cắt đốt nội soi.[1] Đối với loạn sản độ cao, phương pháp điều trị là cắt bỏ niêm mạc tổn thương kết hợp đốt.[1] Nếu niêm mạc nhìn bình thường nhưng sinh thiết có dấu hiệu đáng lo ngại thì khuyến nghị phương pháp đốt sóng cao tần.[1][5] Nếu đã có ung thư, có thể người bệnh sẽ cần phải phẫu thuật.[1]
Khoảng 1,5% dân số chung và 10% người mắc GERD bị ảnh hưởng.[1] Tuổi trung bình khi được chẩn đoán là 55.[6] Nam giới mắc nhiều hơn nữ giới.[1] Tình trạng này có thể được mô tả lần đầu tiên vào năm 1879 bởi Heinrich Quinke và năm 1906 bởi Wilder Tileston.[7] Mô tả chi tiết hơn được đưa ra năm 1950 bởi bác sĩ phẫu thuật Norman Barrett, và bệnh được đặt theo tên ông.[8]
Tài liệu tham khảo
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).