Thoát Liệt Ca Na Khả Đôn (còn gọi là Turakina, tiếng Mông Cổ: Дөргэнэ, ᠲᠦᠷᠭᠡᠨ᠎ᠡ; mất năm 1246) là Đại Khả Đôn và nhiếp chính của Đế quốc Mông Cổ từ sau cái chết của chồng bà là Oa Khoát Đài năm 1241 cho đến khi con trai cả của bà là Quý Do được bầu làm Đại Hãn năm 1246.

Thoát Liệt Ca Na
Tiền nhiệmOa Khoát Đài
Kế nhiệmQuý Do
Thông tin chung
Mất1246
Phối ngẫu
Hậu duệQuý Do
Khoát Đoan
Thụy hiệu
Chiêu Từ Hoàng hậu (昭慈皇后)

Thân thế

Thoát Liệt Ca Na xuất thân từ bộ tộc Nãi Man. Người chồng đầu tiên của bà là một người Miệt Nhi Khất. Một số nguồn ghi tên ông là Qudu (mất năm 1217), con trai của Toqto'a Beki thuộc bộ tộc Miệt Nhi Khất.[1] Tuy nhiên, Rashid al-Din Hamadani lại ghi người chồng đầu tiên của bà là Dayir Usun.[2]

Khi Thành Cát Tư Hãn chinh phục người Miệt Nhi Khất năm 1204, ông ban Thoát Liệt Ca Na cho Oa Khoát Đài làm vợ thứ hai. Trong khi người vợ cả Bột Lạt Chân không có con trai, Thoát Liệt Ca Na sinh cho Oa Khoát Đài năm người con trai: Quý Do, Khoát Đoan, Köchü, Qarachar và Qashi (cha của Hải Đô).

 
Bia ký song ngữ Trung–Mông thời Thoát Liệt Ca Na, niên đại 1240.

Bà dần vượt qua các thê tử khác của Oa Khoát Đài và gia tăng ảnh hưởng trong triều đình. Tuy nhiên, Thoát Liệt Ca Na không hài lòng với chính sách tập trung hóa và giảm thuế của các đại thần dưới triều chồng. Bà tài trợ cho việc tái bản bộ Đạo Tạng tại miền Bắc Trung Quốc.[3]

Đại Khả Đôn của Đế quốc Mông Cổ

Ngay sau khi Oa Khoát Đài Hãn qua đời năm 1241, quyền lực ban đầu thuộc về Mộc Ca, một góa phụ khác của ông và trước kia là thê tử của Thành Cát Tư Hãn.[4]

Với sự ủng hộ của dòng dõi Sát Hợp Đài, Thoát Liệt Ca Na giành lấy toàn bộ quyền lực và trở thành nhiếp chính vào mùa xuân năm 1242. Bà bãi chức nhiều đại thần cũ của chồng và thay thế bằng phe cánh riêng, trong đó có Pháp Đề Ma, một phụ nữ Tajik hoặc Ba Tư theo Hồi giáo Shia bị bắt từ Trung Á rồi đưa tới Mông Cổ.

Thoát Liệt Ca Na tìm cách bắt giữ nhiều quan lại quan trọng của Oa Khoát Đài:

  • Trấn Hải bỏ trốn đến chỗ Khoát Đoan ở Bắc Trung Quốc
  • Mahmud Dã Lạp Oa Xích chạy tới lãnh địa của Bạt Đô
  • Khoát Lý Cát Tư ở Khorasan bị bắt và xử tử bởi Hắc Hốt Liệt

Sau đó bà bổ nhiệm A Lỗ Hồn A thuộc bộ tộc Oa Lạt làm tổng đốc Ba Tư.

Vai trò trong các cuộc chinh phục

Trong thời kỳ nhiếp chính của Thoát Liệt Ca Na, quân Mông Cổ tiếp tục chiến tranh với Nam Tống. Các trận chiến diễn ra quanh khu vực Thành Đô. Bà từng cử sứ giả sang đàm phán hòa bình nhưng bị quân Tống bắt giữ.[5]

Quân Mông Cổ sau đó chiếm Hàng Châu và tiến vào Tứ Xuyên năm 1242. Thoát Liệt Ca Na ra lệnh cho Trương Nhu và Chagaan tấn công quân Tống. Sau khi cướp phá lãnh thổ Nam Tống, triều đình Tống xin đình chiến.[6]

Ở phía tây, tướng Bái Trụ đánh bại liên minh Hồi giáo tại trận Köse Dağ năm 1243. Sau thất bại này:

  • Sultan quốc Rum
  • Đế quốc Trebizond
  • Tiểu Armenia

đều thần phục Đế quốc Mông Cổ dưới quyền Thoát Liệt Ca Na.

Đưa Quý Do lên ngôi

Oa Khoát Đài từng muốn cháu nội Shiremun kế vị. Tuy nhiên, Thoát Liệt Ca Na phản đối và muốn con trai mình là Quý Do trở thành Đại Hãn.[7]

Sau khi chồng qua đời, bà trì hoãn việc tổ chức đại hội Kurultai cho đến khi chắc chắn Quý Do được đa số ủng hộ. Nhờ đó, Quý Do được bầu làm Đại Hãn năm 1246.

Tuy nhiên, mối quan hệ giữa hai mẹ con nhanh chóng xấu đi. Em trai Quý Do cáo buộc Pháp Đề Ma dùng phù thủy hại mình. Sau khi người em qua đời, Quý Do yêu cầu xử tử Pháp Đề Ma.[8]

Pháp Đề Ma bị hành quyết bằng cách khâu kín các lỗ trên cơ thể rồi dìm xuống nước. Những người ủng hộ Thoát Liệt Ca Na trong triều cũng bị thanh trừng.

Khoảng 18 tháng sau cái chết của Pháp Đề Ma, Thoát Liệt Ca Na cũng qua đời trong hoàn cảnh chưa rõ nguyên nhân. Sau này, Hốt Tất Liệt truy tôn bà là Chiêu Từ Hoàng hậu vào khoảng năm 1265–1266.[9]

Văn hóa đại chúng

  • Được Thái Văn Yến thủ vai trong phim The Legend of Kublai Khan (2013)
  • Xuất hiện trong manga và anime A Witch's Life in Mongol

Tham khảo

  1. ^ C.P. Atwood, Encyclopedia of Mongolia and the Mongol Empire, tr. 544.
  2. ^ Rashiduddin Fazlullah, Jami'u't-tawarikh: Compendium of Chronicles, Harvard University, 1998, tr. 53.
  3. ^ Australian National University, East Asian History, tr. 75.
  4. ^ Ata-Malik Juvaini, History of the World Conqueror, Harvard University Press, 1958, tr. 240.
  5. ^ Jeremiah Curtin, The Mongols: A History, tr. 343.
  6. ^ J. Bor, Mongol hiiged Eurasiin diplomat shastir, tập II, tr. 224.
  7. ^ C.P. Atwood, tr. 544.
  8. ^ John Man, Kublai Khan: From Xanadu to Superpower, 2006, tr. 76–77.
  9. ^ "Nguyên sử". Guoxue.