Tòa Thánh
Bản mẫu:Infobox geopolitical organization Bản mẫu:Công giáo Tòa Thánh[1][2] (tiếng Latinh: Sancta Sedes, nghĩa gốc là "ngai thánh",[3] tiếng Anh: Holy See), còn gọi là Tòa Rôma, Tòa Phêrô, hoặc Tông Tòa,[4] là cơ quan quản lý trung ương kiêm thẩm quyền tài phán của Giáo hoàng với vai trò Giám mục Rôma. Định chế này nắm giữ quyền lực tinh thần cùng bộ máy hành chính của Giáo hội Công giáo, đồng thời có chủ quyền đối với Thành quốc Vatican.[5] Theo luật pháp quốc tế, nơi đây mang địa vị của một thực thể pháp lý có chủ quyền.[6][7]
Theo truyền thống và các ghi chép lịch sử Công giáo, Tòa Thánh được thiết lập vào thế kỷ 1 bởi 2 Thánh tông đồ Phêrô và Phaolô. Dựa trên giáo lý về quyền tối cao của Phêrô và Giáo hoàng, nơi đây trở thành trung tâm hiệp thông trọn vẹn của các tín hữu trên toàn thế giới.[8] Với tư cách là một thực thể pháp lý có chủ quyền theo luật quốc tế, Tòa Thánh đặt trụ sở và thực thi quyền tài phán tối cao đối với Vatican — một quốc gia độc lập nằm trong lòng thành phố Roma, nơi Giáo hoàng giữ vai trò nguyên thủ quốc gia thông qua hình thức bầu cử.[9][10]
Tòa Thánh được quản lý bởi Giáo triều Rôma, cơ quan quản lý trung ương hỗ trợ Giáo hoàng điều hành các công việc của Giáo hội Công giáo.[11][12] Cơ cấu của Giáo triều bao gồm các bộ (tương đương các cơ quan hành pháp) do các tổng trưởng đứng đầu, trong đó Hồng y Quốc vụ khanh đóng vai trò là người quản lý chính. Đối với việc kế vị, các vị Giáo hoàng sẽ do Mật nghị Hồng y, gồm các thành viên thuộc Hồng y đoàn bầu chọn.
Dù thường được gọi hoán dụ là "Vatican", Thành quốc Vatican thực chất được thành lập riêng biệt theo Hiệp ước Laterano năm 1929 giữa Tòa Thánh và Vương quốc Ý, nhằm bảo đảm sự độc lập về thế tục, ngoại giao và tinh thần của Giáo hoàng.[13] Theo giáo luật, các sứ thần tại các quốc gia và tổ chức quốc tế là đại diện ngoại giao của Tòa Thánh chứ không phải của Thành quốc Vatican. Do đó, Tòa Thánh được xem là cơ quan quản lý trung ương của cả Giáo hội Công giáo lẫn Thành quốc Vatican.[12] Đồng thời, Giáo hội Công giáo cũng là đơn vị cung ứng dịch vụ giáo dục và y tế phi chính phủ lớn nhất thế giới.[14]
Tòa Thánh duy trì quan hệ ngoại giao song phương với 183 quốc gia có chủ quyền, đồng thời tích cực ký kết các hiệp ước và hiệp định quốc tế. Bên cạnh đó, cơ quan này cũng triển khai hoạt động ngoại giao đa phương tại nhiều tổ chức liên chính phủ và quốc tế lớn, bao gồm Liên Hợp Quốc cùng các cơ quan trực thuộc, Hội đồng châu Âu, Liên minh châu Âu, Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu, và Tổ chức các quốc gia châu Mỹ.[15][16][17]
Thuật ngữ
Từ "see" bắt nguồn từ tiếng Latinh sedes, nghĩa là 'ghế', ám chỉ ngai tòa của giám mục. Thuật ngữ "Tòa Tông đồ" có thể dùng để chỉ bất kỳ giáo phận nào do một trong 12 Tông đồ thiết lập. Trong Giáo hội Công giáo, khi đi kèm mạo từ xác định, cụm từ này được dùng để chỉ đích danh tòa của Giám mục Rôma, người được đức tin Công giáo công nhận là đấng kế vị Thánh Phêrô.[18] Dù Vương cung thánh đường Thánh Phêrô tại Vatican là nơi gắn liền nhất với Đức Giáo hoàng, nhưng nhà thờ chính tòa thực sự của Tòa Thánh lại là Vương cung thánh đường Thánh Gioan Latêranô ở Rôma.Bản mẫu:NoteTag
Trong Giáo hội Công giáo Rôma, thông thường chỉ tòa giám mục của Giáo hoàng mới có quyền mang danh hiệu tượng trưng là "Thánh".[19] Tuy nhiên, Giáo phận Mainz là một ngoại lệ. Thời Đế quốc La Mã Thần thánh, vị Tổng giám mục Mainz, người đồng thời giữ tước vị Tuyển đế hầu và đứng đầu hàng giáo phẩm, từng có đặc quyền sử dụng danh xưng "Tòa Thánh Mainz" (tiếng Latinh: Sancta Sedes Moguntina).[20] Đến nay, giáo phận này vẫn giữ cách gọi tôn kính đó.[21]
Lịch sử
Theo truyền thống Công giáo, giáo phận tông tòa Roma được Thánh Phêrô và Thánh Phaolô thiết lập vào thế kỷ 1.
Năm 313, địa vị pháp lý và tài sản của Giáo hội Công giáo được công nhận thông qua Sắc lệnh Milan do Hoàng đế La Mã Constantinus Đại đế ban hành. Trong khi đó, văn kiện mang tên "Sắc lệnh hiến tặng của Constantine" vốn được cho là đã chuyển giao quyền lực chính trị tại Đế chế La Mã phương Tây cho Giáo hoàng, từng được thừa nhận rộng rãi trước khi bị vạch trần là một giả mạo ngay trước thời kỳ Cải cách tôn giáo.
Năm 380, Giáo hội La Mã trở thành quốc giáo của Đế quốc La Mã theo Sắc lệnh Thessalonica do Hoàng đế Theodosius I ban hành. Sau khi Đế quốc Tây La Mã sụp đổ vào năm 476, quyền tài phán thế tục của Giáo hoàng tiếp tục được luật Giáo hội công nhận rộng rãi hơn. Đến năm 728, Tòa Thánh được Vua người Lombard là Liutprand trao tặng lãnh thổ tại Công quốc Roma thông qua Hiến chương Sutri. Năm 756, cơ quan này chính thức có chủ quyền lãnh thổ riêng theo Hiến chương Pepin của Vua người Frank.
Giai đoạn 756–1870, Giáo hoàng nắm giữ lực lượng vũ trang hùng mạnh cùng lãnh thổ rộng lớn. Năm 800, Giáo hoàng Leo III phong Charlemagne làm Hoàng đế La Mã thông qua sắc lệnh chuyển giao quyền lực. Quyền lực thế tục của Tòa Thánh đạt đỉnh cao từ sau các lễ đăng quang của các hoàng đế thuộc Đế quốc La Mã Thần thánh vào năm 858, cùng sắc lệnh Dictatus papae năm 1075 quy định quyền phế truất của Giáo hoàng. Một số quốc gia hiện đại thậm chí coi chủ quyền của mình bắt nguồn từ sự công nhận trong các sắc lệnh thời Trung cổ này. Bất chấp nhiều lần thành Rome bị cướp phá trong thời kỳ đầu Trung cổ, chủ quyền của Tòa Thánh vẫn được duy trì. Mối quan hệ giữa định chế này với Vương quốc Ý và Đế quốc La Mã Thần thánh từng có nhiều giai đoạn căng thẳng, từ các văn bản về "Tài sản của Thánh Phêrô" thế kỷ 10 đến cuộc Tranh chấp quyền bổ nhiệm (1076–1122), vốn chỉ được dàn xếp bằng Hiệp ước Worms. Giai đoạn lưu vong tại Avignon (1309–1376) cũng gây nhiều áp lực, buộc Giáo hoàng phải trở lại Rome. Đến năm 1648, Giáo hoàng Innocent X đã phản đối Hòa ước Westphalia do văn kiện này làm suy giảm vị thế của Tòa Thánh tại châu Âu. Cuối cùng, dưới tác động của Cách mạng Pháp, Lãnh địa Giáo hoàng từng bị chiếm đóng ngắn hạn (1798–1799) để thành lập Cộng hòa La Mã, một nhà nước vệ tinh của Napoléon, trước khi được phục hồi sau đó.
Tại Đại hội Vienna (1814–1815), Tòa Thánh được công nhận là chủ thể thường trực của luật quốc tế thông lệ, đồng thời phần lớn Lãnh thổ Giáo hoàng dưới quyền cai trị của Giáo hoàng cũng được khôi phục.[22] Dù Rome bị Vương quốc Ý chiếm đóng vào năm 1870 dẫn đến "Vấn đề La Mã" và khiến Giáo hoàng trở thành "tù nhân ở Vatican" cho đến năm 1929, tư cách pháp lý quốc tế của Tòa Thánh vẫn được duy trì và mở rộng thông qua các mối quan hệ ngoại giao liên tục. Đến năm 1929, Hiệp ước Lateran giữa Tòa Thánh và Ý đã chính thức công nhận Thành Vatican cùng các tài sản ngoại giao phụ cận là một quốc gia độc lập. Kể từ đó, Thành Vatican tồn tại biệt lập nhưng vẫn chịu quyền sở hữu, thống trị và tài phán tối cao của Tòa Thánh.Bản mẫu:NoteTag[23]
Tổ chức
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”. Tòa Thánh là một trong bảy chế độ quân chủ chuyên chế cuối cùng trên thế giới, bên cạnh Ả Rập Xê Út, Eswatini, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Qatar, Brunei và Oman.[24][25][26] Giáo hoàng điều hành Giáo hội Công giáo thông qua Giáo triều La Mã. Đây là hệ thống cơ quan trung ương quản lý các sự vụ cấp cao nhất của Giáo hội, bao gồm Phủ Quốc vụ khanh, 19 bộ, 3 tòa án, 11 hội đồng và 7 ủy ban Giáo hoàng.
Phủ Quốc vụ khanh, dưới sự chỉ đạo của Đức Hồng y Quốc vụ khanh, điều hành và phối hợp các hoạt động của Giáo triều Rôma. Người nắm giữ chức vụ này là Hồng y Pietro Parolin,[27] vai trò tương đương Thủ tướng Tòa Thánh, được Giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm ngày 31 tháng 8 năm 2013. Trong khi đó, Tổng Giám mục Paul Gallagher, Ngoại trưởng thuộc Phủ Quốc vụ khanh, đảm nhiệm vai trò như Bộ trưởng Ngoại giao của Tòa Thánh.
Phủ Quốc vụ khanh là cơ quan duy nhất thuộc Giáo triều nằm trong phạm vi Thành quốc Vatican. Các bộ phận còn lại được phân bổ tại nhiều tòa nhà khác nhau ở Rome, vốn được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao tương tự như các tòa đại sứ.
Các cơ quan hoạt động tích cực hàng đầu của Giáo triều bao gồm: Bộ Giáo lý Đức tin, chịu trách nhiệm giám sát giáo lý Công giáo; Bộ Giám mục, điều phối việc bổ nhiệm giám mục toàn cầu; Bộ Truyền giáo, quản lý các hoạt động truyền giáo; và Bộ Phục vụ Phát triển Con người Toàn diện, chuyên giải quyết các vấn đề hòa bình cùng xã hội quốc tế.
Ba tòa án đảm trách quyền tư pháp tại Vatican bao gồm: Tòa Thượng thẩm Rota (Rota Romana) giải quyết các kháng cáo thông thường, phổ biến nhất là các vụ việc liên quan đến tuyên bố vô hiệu hôn nhân.[28] Tòa Tối cao Pháp viện Signatura (Signatura Apostolica) là cơ quan hành chính và phúc thẩm cao nhất, chuyên xét xử các quyết định của Tòa Rota cùng các phán quyết hành chính từ các bề trên giáo hội (như giám mục và bề trên dòng tu) về việc đóng cửa giáo xứ hay bãi nhiệm nhân sự. Đồng thời, cơ quan này cũng chịu trách nhiệm giám sát hoạt động của hệ thống tòa án giáo luật ở mọi cấp độ.[29]
Tòa Ân xá Tông đồ giải quyết các vấn đề thuộc tòa lương tâm, thực hiện việc tha tội, chuẩn chước, hoán cải cùng các ân ban và đặc ân khác. Cơ quan này cũng chịu trách nhiệm ban banh các ơn đại xá.[30]
Phủ Kinh tế của Tòa Thánh chịu trách nhiệm điều phối tài chính và giám sát hoạt động quản lý ngân sách của mọi cơ quan trực thuộc, bất kể mức độ tự chủ của các văn phòng đó. Trong số các đơn vị chịu sự giám sát này, cơ quan quan trọng nhất là Cơ quan Quản lý Tài sản của Tòa Thánh.
Phủ Nội vụ Tòa Thánh chịu trách nhiệm điều hành các công việc nội bộ, tổ chức các buổi tiếp kiến và nghi thức của Vatican, ngoại trừ phần phụng vụ chuyên biệt.
Đức Giáo hoàng Phanxicô đã cải tổ Giáo triều Rôma nhằm đặt sứ mạng truyền giáo của Giáo hội làm ưu tiên hàng đầu. Cuộc cải cách này nhấn mạnh Giáo triều không phải là cơ quan hành chính tập trung, mà đóng vai trò phục vụ Đức Giáo hoàng cùng các giám mục giáo phận, đồng thời kết nối chặt chẽ với các hội đồng giám mục địa phương. Bên cạnh đó, nhiều giáo dân cũng sẽ được tạo điều kiện tham gia và đóng góp ý kiến vào hoạt động của các bộ ngành trực thuộc.[31]
Tòa Thánh không giải thể khi một giáo hoàng băng hà hoặc từ chức, mà chuyển sang hoạt động theo quy chế sede vacante (thời kỳ trống ngôi). Trong giai đoạn chuyển tiếp này, người đứng đầu các cơ quan thuộc Giáo triều Roma lập tức mãn nhiệm, ngoại trừ Chánh án Tòa Ân giải Tối cao tiếp tục thực hiện các thẩm quyền về tha tội, miễn trừ, và Hồng y Nhiếp chính chịu trách nhiệm quản lý tài sản, tài chính của Tòa Thánh. Quyền điều hành Giáo hội Công giáo lúc này thuộc về Hồng y đoàn. Giáo luật nghiêm cấm Hồng y đoàn và Hồng y Nhiếp chính đưa ra bất kỳ cải tổ hay quyết định mang tính thay đổi nào đối với việc quản trị Giáo hội trong thời gian này.
Năm 2001, Tòa Thánh đạt doanh thu 422,098 tỷ ₤ (khoảng 202 triệu USD) và lợi nhuận ròng 17,720 tỷ ₤ (khoảng 8 triệu USD).[32] Theo tờ The Guardian, báo cáo năm 2012 của Hội đồng Châu Âu xác định giá trị một phần bất động sản thuộc Vatican vượt quá 680 triệu € (570 triệu £). Đến tháng 1 năm 2013, quan chức giáo hoàng Paolo Mennini là người quản lý danh mục tài sản này, bao gồm các khoản đầu tư tại Anh, cổ phần tại Châu Âu và danh mục giao dịch ngoại hối. Tờ báo Anh mô tả Mennini như một "chủ ngân hàng thương mại của Giáo hoàng", đứng đầu APSA (Cơ quan Quản trị Tài sản Tòa Thánh) chuyên trách quản lý tài sản của Vatican.[33]
Các huân chương, huy chương của Tòa Thánh do Giáo hoàng trao tặng với tư cách là nguyên thủ quốc gia và là nguồn vinh danh tối cao, tương tự như hệ thống khen thưởng của các vị đứng đầu nhà nước khác trên thế giới.
Vị thế trong luật quốc tế
Tòa Thánh được thực tiễn quốc tế và giới học giả luật học hiện đại công nhận là một chủ thể của công pháp quốc tế, có các quyền và nghĩa vụ tương đương một quốc gia. Mặc dù không đáp ứng đầy đủ các tiêu chí kinh điển về tư cách quốc gia như Thành quốc Vatican, gồm dân số thường trú, lãnh thổ xác định, chính phủ ổn định và khả năng thiết lập quan hệ quốc tế[34], Tòa Thánh vẫn sở hữu tư cách pháp nhân quốc tế trọn vẹn. Điều này được chứng minh qua việc cơ quan này duy trì quan hệ ngoại giao với 180[35] quốc gia và là thành viên của nhiều tổ chức liên chính phủ.[36] Cộng đồng quốc tế tôn trọng và đối xử với Tòa Thánh như một thực thể có năng lực thực hiện hoạt động ngoại giao, cũng như ký kết các hiệp ước ràng buộc nhằm mục đích thiết lập và gìn giữ hòa bình thế giới.[37]
Ngoại giao
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.
Kể từ thời Trung Cổ, tòa giám mục Roma đã được công nhận là một thực thể có chủ quyền. Tòa Thánh (phân biệt với Thành quốc Vatican) duy trì quan hệ ngoại giao chính thức với 183 quốc gia,[35] Liên minh Châu Âu và Dòng Chiến sĩ Malta, đồng thời có mối quan hệ đặc biệt với Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO).[38][39] Hiện có 69 phái đoàn ngoại giao đặt tại Roma được công nhận bên cạnh Tòa Thánh. Cơ quan này cũng duy trì 180 phái đoàn ngoại giao thường trực ở hải ngoại, bao gồm 74 phái đoàn kiêm nhiệm. Các hoạt động đối ngoại của Tòa Thánh do Phủ Quốc vụ khanh điều hành thông qua Vụ Quan hệ với các Quốc gia. Hiện còn 12 quốc gia được quốc tế công nhận chưa thiết lập bang giao với Tòa Thánh.Bản mẫu:NoteTag Đáng chú ý, đây là chủ thể luật quốc tế duy nhất tại châu Âu duy trì quan hệ ngoại giao với chính quyền Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) thay vì Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.[40][41]
Bộ Ngoại giao và Khối Thịnh vượng chung Anh coi Thành quốc Vatican là "thủ đô" của Tòa Thánh, dù có sự tương đồng về tư cách pháp nhân giữa Tòa Thánh và Vương quyền trong các vương quốc Kitô giáo, đồng thời khẳng định đây là 2 thực thể quốc tế độc lập. Cơ quan này phân biệt rõ giữa 3.083 nhân sự thuộc Tòa Thánh (gồm người làm việc tại Giáo triều La Mã và các phái đoàn ngoại giao hải ngoại) với 1.909 nhân viên thuộc Nhà nước Thành quốc Vatican.[16] Đồng quan điểm, Đại sứ Anh tại Tòa Thánh và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đều định nghĩa chuẩn xác hơn rằng Tòa Thánh không đồng nhất với Nhà nước Thành phố Vatican,[42] mà là cơ quan quản trị toàn cầu của Giáo hội Công giáo và "hoạt động từ bên trong Nhà nước Thành quốc Vatican".[43]
Tòa Thánh là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA), Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE), Tổ chức Cấm Vũ khí Hóa học (OPCW) và Cao ủy Liên Hợp Quốc về Người tị nạn (UNHCR). Ngoài ra, cơ quan này còn giữ vai trò quan sát viên thường trực tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, Hội đồng châu Âu, UNESCO, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO).
Quan hệ với Thành quốc Vatican và các vùng lãnh thổ khác
Tòa Thánh tham gia với tư cách quan sát viên tại Liên minh châu Phi, Liên đoàn Ả Rập, Hội đồng châu Âu, Phong trào Không liên kết (NAM), Tổ chức các quốc gia châu Mỹ, Tổ chức Di cư Quốc tế, cùng Liên Hợp Quốc và các cơ quan trực thuộc (như FAO, ILO, UNCTAD, UNEP, UNESCO, UN-HABITAT, UNHCR, UNIDO, UNWTO, WFP, WHO, WIPO). Ngoài ra, đây còn là thành viên chính thức của IAEA, OPCW và Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE).
Dù có mối liên hệ mật thiết với Thành quốc Vatican, vùng lãnh thổ độc lập thuộc chủ quyền của mình, nhưng Tòa Thánh và Vatican là 2 thực thể tách biệt. Sau khi Ý chiếm đóng Lãnh địa Giáo hoàng vào năm 1870, Tòa Thánh không còn chủ quyền lãnh thổ. Dù giới luật gia từng hoài nghi về khả năng hoạt động độc lập của Tòa Thánh trong quan hệ quốc tế, nhưng trên thực tế, thực thể này vẫn tiếp tục phái cử, tiếp nhận đại diện ngoại giao và duy trì quan hệ với nhiều nước, bao gồm cả các cường quốc như Nga, Phổ và Áo - Hung.[44]
Theo quyết định từ Đại hội Vienna năm 1815, Sứ thần Tòa Thánh là thành viên và là trưởng đoàn ngoại giao, một sự sắp xếp tiếp tục được các đại sứ khác công nhận. Trong suốt 59 năm Tòa Thánh không có chủ quyền lãnh thổ, số lượng quốc gia duy trì quan hệ ngoại giao với cơ quan này thay vì sụt giảm xuống 16 đã tăng lên con số 29.[44]
Thành quốc Vatican được thành lập theo Hiệp ước Lateran năm 1929 nhằm "đảm bảo sự độc lập tuyệt đối, hữu hình" và "chủ quyền không thể tranh cãi trong các vấn đề quốc tế" của Tòa Thánh. Cựu Ngoại trưởng Tòa Thánh, Tổng giám mục Jean-Louis Tauran, nhận định Vatican là một "quốc gia hỗ trợ nhỏ bé với lãnh thổ tối thiểu nhằm bảo tồn tự do tinh thần cho Đức Giáo hoàng".[45]
Tòa Thánh, chứ không phải Thành quốc Vatican, là thực thể duy trì quan hệ ngoại giao với các nước.[46] Các đại sứ quán nước ngoài được bổ nhiệm đến Tòa Thánh, và chính cơ quan này tiến hành ký kết các điều ước cũng như thỏa thuận quốc tế với những chủ thể có chủ quyền khác. Trong trường hợp cần thiết, Tòa Thánh sẽ đại diện cho Thành Vatican để giao kết các hiệp ước này.
Theo Hiệp ước Lateran, Tòa Thánh nắm quyền tài phán ngoại giao đối với nhiều cơ sở tại Rome và hai địa điểm khác ngoài thành phố này thuộc Ý, bao gồm Cung điện Giáo hoàng tại Castel Gandolfo. Theo luật pháp quốc tế, quyền hạn tương tự cũng được áp dụng đối với Tòa Sứ thần Tòa Thánh đặt tại các quốc gia khác.
Quân đội
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Labelled list hatnote”.
Tương tự như nhiều cường quốc châu Âu, các giáo hoàng trước đây từng tuyển mộ lính đánh thuê Thụy Sĩ vào quân đội. Vệ binh Thụy Sĩ được Giáo hoàng Julius II thành lập vào tháng 1 năm 1506 với vai trò bảo vệ an ninh cá nhân cho Giáo hoàng và duy trì nhiệm vụ đó cho đến nay.[47][48] Lực lượng này được xếp trong Niên giám Tòa Thánh (Annuario Pontificio) dưới mục "Tòa Thánh", thay vì mục "Quốc gia Thành quốc Vatican".[49]
Đến năm 2026, Đội vệ binh có quân số cố định là 135 người,[50] được tuyển chọn theo thỏa thuận đặc biệt giữa Tòa Thánh và Thụy Sĩ. Các ứng viên phải là nam giới Công giáo độc thân, mang quốc tịch Thụy Sĩ, nằm trong độ tuổi 19-30, cao từ 175 cm trở lên và đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại quê nhà với chứng nhận hạnh kiểm tốt.[51]
Lực lượng này được trang bị giáo mác truyền thống cùng vũ khí nhẹ, đồng thời được huấn luyện về chiến thuật phòng thủ.[52]
Lực lượng cảnh sát tại thành quốc Vatican, được gọi là Hiến binh Giáo hoàng, thuộc quyền quản lý của quốc gia thành quốc này chứ không thuộc Tòa Thánh.
Tòa Thánh đã ký kết Hiệp ước Cấm vũ khí hạt nhân của Liên Hợp Quốc, một thỏa thuận mang tính ràng buộc nhằm thúc đẩy các cuộc đàm phán hướng tới loại bỏ hoàn toàn loại vũ khí này.[53][54]
Huy hiệu
Bản mẫu:Multiple image Huy hiệu của Tòa Thánh có 2 chiếc chìa khóa vàng và bạc bắt chéo nhau,[55][56] xuất hiện trên huy hiệu Trống Tòa (Sede Vacante) cũng như phần trang trí bên ngoài huy hiệu riêng của các Giáo hoàng. Đến năm 1929, khi Thành quốc Vatican được thành lập, cách sắp xếp vị trí của 2 chiếc chìa khóa này đã được đảo ngược lại để làm huy hiệu chính thức cho quốc gia mới.[57]
Huy hiệu của Tòa Thánh không sử dụng khiên nền, điều này được thể hiện rõ trên trang web chính thức cũng như trên hộ chiếu của cơ quan này.[58]
Ghi chú
Tham khảo
Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Code of Canon Law, canons 1443–1444 Bản mẫu:Webarchive. The Holy See. Retrieved 11 September 2011.
- ^ Code of Canon Law, canon 1445 Bản mẫu:Webarchive. The Holy See. Retrieved 11 September 2011.
- ^ Pastor bonus, articles 117–120 Bản mẫu:Webarchive. The Vatican. (28 June 1988). Retrieved 11 September 2011.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ "Economic Report of the Holy See for 2000" Zenit 6 July 2001
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Các tiêu chí về tư cách quốc gia này lần đầu tiên được tuyên bố một cách chính thức tại Công ước Montevideo về Quyền và Nghĩa vụ của các Quốc gia, ký kết bởi các nước châu Mỹ vào ngày 26 tháng 12 năm 1933. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ e.g. IAEA Bản mẫu:Webarchive, OSCE Bản mẫu:Webarchive, IOM
- ^ Robert Araujo and John Lucal, Papal Diplomacy and the Quest for Peace, the Vatican and International Organizations from the early years to the League of Nations, Sapienza Press (2004), ISBN 1-932589-01-5Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check isxn”., p. 16. See also James Crawford, The Creation of States in International Law, (1979) p. 154.
- ^ Bilateral and Multilateral Relations of the Holy See Bản mẫu:Webarchive. The Vatican. (31 May 2007). Retrieved 11 September 2011.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Holy See Press Office: "Bilateral and Multilateral Relations of the Holy See" Bản mẫu:Webarchive
- ^ Annuario Pontificio 2013 (Libreria Editrice Vaticana, 2013, ISBN 978-88-209-9070-1Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check isxn”.), pp. 1307 (Rappresentanze Pontificie) and 1338 (Corpo Diplomatico presso la Santa Sede)
- ^ Ambassador's Address on UK-Holy See Relations Bản mẫu:Webarchive (emphasis added)
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lecture by Archbishop Giovanni Lajolo, 16 February 2006 Bản mẫu:Webarchive. 30giorni.it. Retrieved 11 September 2011.
- ^ Lecture by Archbishop Jean-Louis Tauran, 22 April 2002 Bản mẫu:Webarchive. The Holy See. Retrieved 11 September 2011.
- ^ Bilateral and Multilateral Relations of the Holy See Bản mẫu:Webarchive. The Holy See. Retrieved 11 September 2011.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Annuario Pontificio 2013 (Libreria Editrice Vaticana 2013), p. 1269
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ "The golden key, which points upwards on the dexter side, signifies the power that extends even to Heaven. The silver key, which must point up to the sinister side, symbolizes the power over all the faithful on earth." Bruno Bernhard Heim, Heraldry in the Catholic Church: Its Origin, Customs and Laws (Van Duren 1978 ISBN 9780391008731Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check isxn”.), p. 54.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
Đọc Thêm
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.