Bước tới nội dung

Tokugawa Ienari

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bản mẫu:Hatnote2

Tokugawa Ienari
徳川 家斉
Mạc chúa
Mạc Chúa Edo Tokugawa Ienari
Tướng Quân Giang Hộ thứ 11
Tại vị23 tháng 4 năm 17876 tháng 5 năm 1837
(50 năm, 13 ngày)
Thiên hoàngQuang Cách Thiên Hoàng
Nhân Hiếu Thiên Hoàng
Tiền nhiệmTokugawa Ieharu
Kế nhiệmTokugawa Ieyoshi
Thông tin chung
Sinh(1773-11-18)18 tháng 11, 1773
Mất22 tháng 3, 1841(1841-03-22) (67 tuổi)
Phối ngẫuKodaiin
Korin'in
Và những phi tần khác
Hậu duệToshihime
Koso-in
Tokugawa Takechiyo
Tokugawa Ieyoshi
Và những người con giá thú và ngoài giá thú khác
Gia tộcTokugawa
Thân phụTokugawa Hasurada
Thân mẫuO-Tomi no Kata

Tokugawa Ienari (徳川 家斉 (Đức Xuyên Gia Tề)? 18 tháng 11 năm 1773 – 22 tháng 3 năm 1841) là vị Tướng Quân thứ 11 của Mạc phủ Tokugawa tại Nhật Bản, ông cũng là vị Tướng Quân nắm quyền lâu nhất (từ 1787 đến 1837).[1]

Tiểu sử

Năm 1778, Hitotsubashi Toyochiyo, một thành viên mới 4 tuổi thuộc thứ bậc thấp trong gia tộc Tokugawa, đã đính hôn với Shimazu no Shige-hime[2] (hay Tadako-hime), người con gái 4 tuổi của Shimazu Shigehide, Daimyō Tozama (Ngoại dạng đại danh) của phiên Satsuma trên hòn đảo lớn Kyūshū. Ý nghĩa của việc này là nhằm giúp sự liên kết giữa hai bên được tăng cường và năm 1781, Hitotsubashi Toyochiyo đã được Tướng Quân Tokugawa Ieharu nhận làm con nuôi do ông không có con ruột. Việc này giúp cho Hitotsubashi Toyochiyo trở thành Tướng Quân Ienari vào năm 1786, Shimazu Shigehide khi đó cũng trở thành nhạc phụ của Tướng Quân.[3] Hỗn lễ hoàn thành vào năm 1789, sau đó Tadako chính thức trở thành Ngự đài sở Sadako, tức người vợ cả Sadako. Lễ tấn phong chính thức được Hội đồng gia tộc Tokugawa chấp thuận, và gia tộc Konoe đồng thuận khai trừ cô song đây chỉ đơn giản là vấn đề thủ tục.[4]

Hậu duệ

Tokugawa Ienari được người đời biết đến là một Tướng Quân thoái hóa khi trong hậu cung của ông có đến 900 phụ nữ và ông đã trở thành cha của trên 75 đứa trẻ. Trong số những người con của Ienari trở thành các Daimyo tại các phiên khác nhau trên khắp Nhật Bản, và một số đã đóng vai trò quan trọng trong thời kỳ lịch sử Bakumatsuchiến tranh Boshin. Một số người nổi bật trong số họ là: Hachisuka Narihiro (phiên Tokushima), Matsudaira Naritami (phiên Tsuyama), Tokugawa Narikatsu (ban đầu thuộc ngự tam khanh, sau thuộc phiên Wakayama), Matsudaira Narisawa (phiên Fukui).

Các sự kiện trong những năm cai trị

  • 1787 (năm Thiên Minh thứ 7): Ienari trở thành Tướng Quân thứ 11 của chế độ Mạc phủ Tokugawa.[1]
  • 1788 (năm Thiên Minh thứ 8): Các cuộc nổi loạn diễn ra tại các hiệu buôn gạo tại EdoOsaka.
  • 6–11 tháng 3 năm 1788 (29 tháng 1 đến 4 tháng 2 năm Thiên Minh thứ 8): Đại hỏa hoạn tại Kyoto. Lửa cháy trong thành bắt đầu từ 3 sáng (giờ Dần) ngày 6 tháng 3), sau đó tiếp tục lan rộng một cách không thể kiểm soát cho đến ngày thứ nhất 1 của tháng 2 (8 tháng 3); và than của vụ cháy vẫn còn âm ỉ cho đến khi bị một cơn mưa lớn đập tắt vào ngày thứ tư của tháng thứ 2 (11/3). Thiên Hoàng cùng các thành viên hoàng tộc đã thoát khỏi hỏa hoạn song Hoàng cung đã bị tàn phá. Không có một hành động tái xây dựng nào trong thành được cho phép cho đến khi Hoàng cung mới hoàn tất."[5]
  • 28 tháng 2 năm 1793 (ngày 18 tháng 1 năm Khoan Chính thứ 5): Một vòm dung nhan của núi Unzen bị sụp.[6]
  • 17 tháng 3 năm 1793 (ngày 6 tháng 2 năm Khoan Chính thứ 5)<: Núi lửa Biwas-no-kubi phun trào[6]
  • 15 tháng 4 năm 1793 (ngày 1 tháng 3 năm Khoan Chính thứ 5): Động đất Shimabara.[7]
  • 10 tháng 5 năm 1793 (ngày 1 tháng 4 năm Khoan Chính thứ 5): Núi lửa Miyama phun trào.[6]
  • Tháng 9 năm 1817, Tướng Quân ra lệnh trục xuất Titia Bergsma, người phụ nữ châu Âu đầu tiên đến Nhật Bản.
  • 1837 (năm Thiên Bảo thứ 7): Tokugawa Ieyoshi trở thành Tướng Quân thứ 12 của chế độ Mạc phủ Tokugawa.[1]

Thời kỳ cai trị của ông được sử sách ghi lại là ham mê tửu sắc và tham nhũng kết thúc với nạn đói Thiên Bảo thảm khốc trong thời kỳ 1832-1837 khiến hàng nghìn người chết đói.

Gia quyến

Chính thất

  • Kōdai-in
    Kōdai-in (広大院, Quảng Đại Viện, 6 tháng 8 năm 1773 – 19 tháng 12 năm 1844), con gái của thành chủ phiên bang KatsumaShimazu Shigehide và trắc thất phu nhân O-tose, về sau trở thành dưỡng nữ của quan đại thần Konoe Tsunehiro. Sau khi Tokugawa Ieyoshi kế vị, bà được triều đình ban Tòng Nhất vị, qua đời không lâu sau hỏa hoạn tại thành Edo.

Trắc thất

  • Seishin-in (勢真院, Thế Chân Viện, ? – 8 tháng 2 năm 1835), còn gọi Oman no Kata, con gái của võ sĩ Hiratsuka Tameyoshi.
    • Vương nữ: Shuku-hime (1789 - 1817), con gái đầu lòng của Ienari. Gả cho lãnh chúa Tokugawa Naritomo, đương chủ nhà Owari.
    • Vương nữ: Kigan-in (1790)
    • Vương tử: Tokugawa Takechiyo (1792 - 1793)
    • Vương nữ: Ayahime (1796 - 1798)
  • Kōrin-in (香林院, Hương Lâm Viện, ? – 21 tháng 6 năm 1810), còn gọi Oraku no Kata, hậu duệ của Kinoshita Toshitsugu, con gái của quan tiểu tính Oshida Toshikatsu. Tiến cung vào năm Tenmei thứ 7 (1787), về sau thăng đến Ngự niên ký thượng tọa.
  • Shinshō-in (真性院, Chân Tính Viện, ? – 28 tháng 6 năm 1794), tên thật là Ume (梅), còn gọi Oume no Kata, con gái của võ thần Mizuno Tadayoshi. Qua đời không lâu sau khi sinh con do biến chứng sinh nở.
    • Vương tử: Tansei-in (1794)
  • Hōchi-in (宝池院, Bảo Trì Viện, ? – 2 tháng 9 năm 1851), tên thật là Taka (鷹), còn gọi Outa no Kata, con gái của tiểu quan Mizuno Tadanao. Tiến cung năm Kansei thứ 4 (1792).
    • Vưong tử: Keinosuke (1795 – 1797)
    • Vương tử: Toyosaburō (1798)
    • Vương nữ: Iohime (1799 - 1800)
    • Vương nữ: Nobuhime (1802 - 1803)
  • Keimei-in (慧明院, Tuệ Minh Viện, ? – 9 tháng 11 năm 1813), tên thật là Shiga (志賀), còn gọi Oshiga no Kata, con gái của võ sĩ Nose Yoriyoshi.
    • Vương nữ: Sōhime (1796 - 1797)
    • Bào thai chết lưu (1798)
    • Vương nữ: Kakuhime (1798 - 1799)
  • Chōsō-in (超操院, Siêu Thao Viện, ? – 2 tháng 4 năm 1800), tên thật là Satō (里尾), còn gọi Osatoo no Kata, con gái của võ sĩ Asahina Noriharu, qua đời không lâu sau khi sinh con.
    • Vương nữ: Minehime (1800 – 1853), gả cho Tokugawa Narinari, đương chủ nhà Mito.
  • Myōsō-in (妙操院, Diệu Thao Viện, ? – 11 tháng 11 năm 1832), còn gọi Otose no Kata, con gái của Kaji Katsutoshi.
    • Vương tử: Tokugawa Nariyuki (1801 – 1846), làm con nuôi nhà Shimizu Tokugawa, sau đó kế thừa nhà Kii Tokugawa với tư cách là con nuôi nối dõi của Tokugawa Harutomi, là thân phụ của Tướng quân đời thứ 14 Tokugawa Iemochi.
    • Bào thai chết lưu (1803)
    • Vương nữ: Kotohime (1803 - 1804)
    • Vương nữ: Haruhime (1805 - 1807)
  • Sokusei-in (速成院, Tốc Thành Viện, ? – 23 tháng 7 năm 1852), tên thật là O-chō (お蝶), còn gọi Ochō no Kata, con gái của Sone Shigetatsu.
    • Vương nữ: Takahime (1801 - 1802)
    • Vương tử: Tokinosuke (1803 - 1805)
    • Vương tử: Torachiyo (1806 - 1810)
    • Vương tử: Tomomatsu (1809 - 1813)
    • Vương tử: Tokugawa Naritaka (1810 - 1845), làm con nuôi của Tokugawa Nariasa (nhà Tayasu Tokugawa), sau đó làm con nuôi của Tokugawa Narifusa, đương chủ nhà Owari Tokugawa.
    • Vương nữ: Kazuhime (1813 - 1830), lấy Mōri Narihiro, phiên chủ phiên Chōshū.
    • Vương tử: Kyūgorō (1815 - 1817)
  • Hōshin-in (芳心院, Phương Tâm Viện, ? – 29 tháng 7 năm 1808), tên thật là Mio (美尾), còn gọi Omio no Kata, con gái của lãnh chúa Kimura Shigeyamu.
    • Bào thai chết lưu (1802)
    • Vương nữ: Asahime (1803 – 1857), gả cho Matsudaira Naritsugu, phiên chủ phiên Fukui.
    • Vương nữ: Takahime (1806)
  • Seishō-in (清昇院, Thanh Thăng Viện, ? – 9 tháng 4 năm 1810), tên thật là Yachi (屋知), còn gọi Oyachi no Kata, con gái của Ōiwa Morihide.
  • Honshō-in (本性院, Bản Tính Viện, ? – 31 tháng 3 năm 1830), tên thật là Sode (袖), còn gọi Osode no Kata, con gái của Yoshie Masatomi.
    • Vương nữ: Kishihime (1807 - 1811)
    • Vương nữ: Fumihime (1809 – 1837), gả cho Matsudaira Yoritane, phiên chủ phiên Takamatsu.
    • Vương nữ: Tsuyahime (1811)
    • Vương nữ: Takahime (1813 - 1814)
    • Vương tử: Yōshichirō (1818 - 1821)
    • Vương tử: Tokugawa Narikatsu (1820 – 1849), kế thừa nhà Shimizu Tokugawa, sau đó làm con nuôi nối dõi của người anh cùng cha khác mẹ là Tokugawa Nariyuki, đương chủ nhà Kii Tokugawa.
    • Vương tử: Tomihachirō (1822 - 1823)
  • Kaishun-in (皆春院, Giai Xuân Viện, ? – 7 tháng 6 năm 1843), tên thật là Yae (八重), con gái của võ sĩ Makino Tamon Tadakatsu.
    • Vương tử: Tokugawa Nariaki (1809 – 1827), lấy làm con nuôi nhà Shimizu Tokugawa.
    • Vương nữ: Morihime (1811 – 1846), gả cho Nabeshima Naomasa, phiên chủ phiên Saga. Pháp danh là Kōsei-in.
    • Vương tử: Narimoto (1812 - 1826)
    • Vương tử: Tokugawa Naritami (1814 – 1891), lấy làm con nuôi của Matsudaira Naritaka, phiên chủ phiên Tsuyama. (Dòng nam duệ của Shogun Ienari còn lưu truyền đến ngày nay chỉ duy nhất là hậu duệ của Naritami).
    • Vương tử: Nobunoshin (1817)
    • Vương nữ: Kiyohime (1818 – 1869), gả cho Sakai Tadamitsu, phiên chủ phiên Himeji.
    • Vương tử: Nariryō (1819 – 1839), lấy làm con nuôi của Matsudaira Nariatsu, phiên chủ phiên Hamada.
    • Vương tử: Narihiro (1821 – 1868), lấy làm con nuôi của Hachisuka Narimasa, phiên chủ phiên Tokushima.
  • Senkō-in (専行院, Chuyên Hành Viện, 1797 – 16 tháng 7 năm 1872), tên thật là Ine (伊根), còn gọi Omiyo no Kata, không rõ xuất thân. Nhờ có nhan sắc lộng lẫy và khéo ăn nói, bà trở thành thiếp thất được sủng hạnh bậc nhất của Ienari, vô cùng được cưng chiều. Âm mưu đưa cháu ngoại lên làm Tướng quân kế vị nhưng thất bại, bị giam lỏng rồi qua đời không lâu sau đó.
    • Vương nữ: Yasuhime (1813 – 1868), gả cho Maeda Nariyasu, phiên chủ phiên Kaga.
    • Vương nữ: Nakahime (1815 - 1817)
    • Vương nữ: Suehime (1817 – 1872), gả cho Asano Naritaka, phiên chủ phiên Hiroshima.
  • Chishō-in (智照院, Trí Chiếu Viện, ? – 1813), tên thật là Yao (八百), con gái của Abe Masayoshi, qua đời không lâu sau khi sinh con.
    • Vương tử: Okugorō (1813 - 1814)
  • Honrin-in (本輪院, Bản Luân Viện, ? – 24 tháng 4 năm 1850), tên thật là Ito (以登), không rõ xuất thân.
    • Vương nữ: Kotohime (1815 - 1816)
    • Vương nữ: Nagahime (1819 – 1875), gả cho Tokugawa Narisada, đương chủ nhà Hitotsubashi Tokugawa.
    • Vương tử: Tokugawa Nariyoshi (1820 – 1838), lấy làm con nuôi của Matsudaira Naritsugu, phiên chủ phiên Fukui.
    • Vương tử: Tokugawa Naritsune (1823 – 1841), lấy làm con nuôi của Matsudaira Naritsune, phiên chủ phiên Kawagoe.
    • Vương tử: Tokugawa Narinori (1825 – 1844), lấy làm con nuôi của Matsudaira Naritsugu, phiên chủ phiên Akashi.
  • Seiren-in (青蓮院, Thanh Liên Viện, ? – 5 tháng 1 năm 1845), tên thật là Ruri (瑠璃), con gái của Toda Masakata.
    • Vương tử: Tokugawa Narifusa (1819 – 1839), lấy làm con nuôi của Tokugawa Naritomo, đương chủ nhà Owari Tokugawa.
    • Vương nữ: Yasuhime (1827 – 1843), gả cho Ikeda Narimichi, phiên chủ phiên Tottori.

Ngự thiếp

  • Chōkin-in (澄心院, Trừng Tâm Viện, ? – 1830), con gái một người thợ tên Mizuno.
  • Mitsu-in (じょうこういん, Thừa Quang Viện, ? – 1812), con gái của Yada Shigetoyo.
  • Omino no Kata (みょうかんいん, Diệu Hoàn Viện, ? – 1850), con gái của Mizuno Shigetoyo.
  • Riyo-in (しんちょくいん, Chân Trực Viện, ? – 1831), con gái của võ sĩ Atano Masatada.
  • Tsuyu-in (ちじょういん, Trí Thừa Viện, ? – 1823), con gái ngự y Takahashi Tsunenori.

Niên đại

Những năm Ienari làm Tướng Quân có hơn một niên đại (nengō).[8]

  • Tenmei (天明, Thien Minh) (1781–1789)
  • Kansei (寛政, Khoan Chính) (1789–1801)
  • Kyōwa (享和, Hưởng Hòa) (1801–1804)
  • Bunka (文化, Văn Hóa) (1804–1818)
  • Bunsei (文政, Văn Chính) (1818–1830)
  • Tenpō (天保, Thiên Bảo) (1830–1844)

Chú thích

  1. ^ a ă â Hall, John Whitney et al. (1991). Early Modern Japan, p. 21.
  2. ^ Screech, Timon. (2006). Secret Memoirs of the Shoguns: Isaac Titsingh and Japan, 1779-1822, p. 234 n12.
  3. ^ Screech, p. 11.
  4. ^ Screech, p. 221 n35.
  5. ^ Screech, pp. 152-154, 249-250
  6. ^ a ă â Screech, p.154.
  7. ^ Screech, p. 155.
  8. ^ Titsingh, Isaac. (1834). Annales des empereurs du japon, p. 420.

Tham khảo

Liên kết ngoài

Tiền nhiệm:
Tokugawa Ieharu
Tướng Quân Giang Hộ:
Tokugawa Ienari

1786-1837
Kế nhiệm:
Tokugawa Ieyoshi

Bản mẫu:Shogun