Tokugawa Ienari (徳川 家斉 (Đức Xuyên Gia Tề),Tokugawa Ienari? 18 tháng 11 năm 1773 – 22 tháng 3 năm 1841) là vị Tướng Quân thứ 11 của Mạc phủ Tokugawa tại Nhật Bản, ông cũng là vị Tướng Quân nắm quyền lâu nhất (từ 1787 đến 1837).[1]
Tiểu sử
Năm 1778, Hitotsubashi Toyochiyo, một thành viên mới 4 tuổi thuộc thứ bậc thấp trong gia tộc Tokugawa, đã đính hôn với Shimazu no Shige-hime[2] (hay Tadako-hime), người con gái 4 tuổi của Shimazu Shigehide, DaimyōTozama (Ngoại dạng đại danh) của phiên Satsuma trên hòn đảo lớn Kyūshū. Ý nghĩa của việc này là nhằm giúp sự liên kết giữa hai bên được tăng cường và năm 1781, Hitotsubashi Toyochiyo đã được Tướng Quân Tokugawa Ieharu nhận làm con nuôi do ông không có con ruột. Việc này giúp cho Hitotsubashi Toyochiyo trở thành Tướng Quân Ienari vào năm 1786, Shimazu Shigehide khi đó cũng trở thành nhạc phụ của Tướng Quân.[3] Hỗn lễ hoàn thành vào năm 1789, sau đó Tadako chính thức trở thành Ngự đài sở Sadako, tức người vợ cả Sadako. Lễ tấn phong chính thức được Hội đồng gia tộc Tokugawa chấp thuận, và gia tộc Konoe đồng thuận khai trừ cô song đây chỉ đơn giản là vấn đề thủ tục.[4]
1788 (năm Thiên Minh thứ 8): Các cuộc nổi loạn diễn ra tại các hiệu buôn gạo tại Edo và Osaka.
6–11 tháng 3 năm 1788 (29 tháng 1 đến 4 tháng 2 năm Thiên Minh thứ 8): Đại hỏa hoạn tại Kyoto. Lửa cháy trong thành bắt đầu từ 3 sáng (giờ Dần) ngày 6 tháng 3), sau đó tiếp tục lan rộng một cách không thể kiểm soát cho đến ngày thứ nhất 1 của tháng 2 (8 tháng 3); và than của vụ cháy vẫn còn âm ỉ cho đến khi bị một cơn mưa lớn đập tắt vào ngày thứ tư của tháng thứ 2 (11/3). Thiên Hoàng cùng các thành viên hoàng tộc đã thoát khỏi hỏa hoạn song Hoàng cung đã bị tàn phá. Không có một hành động tái xây dựng nào trong thành được cho phép cho đến khi Hoàng cung mới hoàn tất."[5]
28 tháng 2 năm 1793 (ngày 18 tháng 1 năm Khoan Chính thứ 5): Một vòm dung nhan của núi Unzen bị sụp.[6]
17 tháng 3 năm 1793 (ngày 6 tháng 2 năm Khoan Chính thứ 5)<: Núi lửa Biwas-no-kubi phun trào[6]
15 tháng 4 năm 1793 (ngày 1 tháng 3 năm Khoan Chính thứ 5): Động đấtShimabara.[7]
10 tháng 5 năm 1793 (ngày 1 tháng 4 năm Khoan Chính thứ 5): Núi lửa Miyama phun trào.[6]
Tháng 9 năm 1817, Tướng Quân ra lệnh trục xuất Titia Bergsma, người phụ nữ châu Âu đầu tiên đến Nhật Bản.
Thời kỳ cai trị của ông được sử sách ghi lại là ham mê tửu sắc và tham nhũng kết thúc với nạn đói Thiên Bảo thảm khốc trong thời kỳ 1832-1837 khiến hàng nghìn người chết đói.
Gia quyến
Chính thất
Kōdai-inKōdai-in (広大院, Quảng Đại Viện, 6 tháng 8 năm 1773 – 19 tháng 12 năm 1844), con gái của thành chủ phiên bang Katsuma là Shimazu Shigehide và trắc thất phu nhân O-tose, về sau trở thành dưỡng nữ của quan đại thần Konoe Tsunehiro. Sau khi Tokugawa Ieyoshi kế vị, bà được triều đình ban Tòng Nhất vị, qua đời không lâu sau hỏa hoạn tại thành Edo.
Kōrin-in (香林院, Hương Lâm Viện, ? – 21 tháng 6 năm 1810), còn gọi Oraku no Kata, hậu duệ của Kinoshita Toshitsugu, con gái của quan tiểu tính Oshida Toshikatsu. Tiến cung vào năm Tenmei thứ 7 (1787), về sau thăng đến Ngự niên ký thượng tọa.
Vương tử: Tokugawa Ieyoshi (1793 - 1853), Tướng quân đời thứ 12.
Shinshō-in (真性院, Chân Tính Viện, ? – 28 tháng 6 năm 1794), tên thật là Ume (梅), còn gọi Oume no Kata, con gái của võ thần Mizuno Tadayoshi. Qua đời không lâu sau khi sinh con do biến chứng sinh nở.
Vương tử: Tansei-in (1794)
Hōchi-in (宝池院, Bảo Trì Viện, ? – 2 tháng 9 năm 1851), tên thật là Taka (鷹), còn gọi Outa no Kata, con gái của tiểu quan Mizuno Tadanao. Tiến cung năm Kansei thứ 4 (1792).
Vưong tử: Keinosuke (1795 – 1797)
Vương tử: Toyosaburō (1798)
Vương nữ: Iohime (1799 - 1800)
Vương nữ: Nobuhime (1802 - 1803)
Keimei-in (慧明院, Tuệ Minh Viện, ? – 9 tháng 11 năm 1813), tên thật là Shiga (志賀), còn gọi Oshiga no Kata, con gái của võ sĩ Nose Yoriyoshi.
Vương nữ: Sōhime (1796 - 1797)
Bào thai chết lưu (1798)
Vương nữ: Kakuhime (1798 - 1799)
Chōsō-in (超操院, Siêu Thao Viện, ? – 2 tháng 4 năm 1800), tên thật là Satō (里尾), còn gọi Osatoo no Kata, con gái của võ sĩ Asahina Noriharu, qua đời không lâu sau khi sinh con.
Vương nữ: Minehime (1800 – 1853), gả cho Tokugawa Narinari, đương chủ nhà Mito.
Myōsō-in (妙操院, Diệu Thao Viện, ? – 11 tháng 11 năm 1832), còn gọi Otose no Kata, con gái của Kaji Katsutoshi.
Vương tử: Tokugawa Nariyuki (1801 – 1846), làm con nuôi nhà Shimizu Tokugawa, sau đó kế thừa nhà Kii Tokugawa với tư cách là con nuôi nối dõi của Tokugawa Harutomi, là thân phụ của Tướng quân đời thứ 14 Tokugawa Iemochi.
Bào thai chết lưu (1803)
Vương nữ: Kotohime (1803 - 1804)
Vương nữ: Haruhime (1805 - 1807)
Sokusei-in (速成院, Tốc Thành Viện, ? – 23 tháng 7 năm 1852), tên thật là O-chō (お蝶), còn gọi Ochō no Kata, con gái của Sone Shigetatsu.
Vương nữ: Takahime (1801 - 1802)
Vương tử: Tokinosuke (1803 - 1805)
Vương tử: Torachiyo (1806 - 1810)
Vương tử: Tomomatsu (1809 - 1813)
Vương tử: Tokugawa Naritaka (1810 - 1845), làm con nuôi của Tokugawa Nariasa (nhà Tayasu Tokugawa), sau đó làm con nuôi của Tokugawa Narifusa, đương chủ nhà Owari Tokugawa.
Hōshin-in (芳心院, Phương Tâm Viện, ? – 29 tháng 7 năm 1808), tên thật là Mio (美尾), còn gọi Omio no Kata, con gái của lãnh chúa Kimura Shigeyamu.
Bào thai chết lưu (1802)
Vương nữ: Asahime (1803 – 1857), gả cho Matsudaira Naritsugu, phiên chủ phiên Fukui.
Vương nữ: Takahime (1806)
Seishō-in (清昇院, Thanh Thăng Viện, ? – 9 tháng 4 năm 1810), tên thật là Yachi (屋知), còn gọi Oyachi no Kata, con gái của Ōiwa Morihide.
Vương nữ: Motohime (1808 - 1821), gả cho Matsudaira Katataka thuộc nhà Aizu.
Honshō-in (本性院, Bản Tính Viện, ? – 31 tháng 3 năm 1830), tên thật là Sode (袖), còn gọi Osode no Kata, con gái của Yoshie Masatomi.
Vương nữ: Kishihime (1807 - 1811)
Vương nữ: Fumihime (1809 – 1837), gả cho Matsudaira Yoritane, phiên chủ phiên Takamatsu.
Vương nữ: Tsuyahime (1811)
Vương nữ: Takahime (1813 - 1814)
Vương tử: Yōshichirō (1818 - 1821)
Vương tử: Tokugawa Narikatsu (1820 – 1849), kế thừa nhà Shimizu Tokugawa, sau đó làm con nuôi nối dõi của người anh cùng cha khác mẹ là Tokugawa Nariyuki, đương chủ nhà Kii Tokugawa.
Vương tử: Tomihachirō (1822 - 1823)
Kaishun-in (皆春院, Giai Xuân Viện, ? – 7 tháng 6 năm 1843), tên thật là Yae (八重), con gái của võ sĩ Makino Tamon Tadakatsu.
Vương tử: Tokugawa Nariaki (1809 – 1827), lấy làm con nuôi nhà Shimizu Tokugawa.
Vương nữ: Morihime (1811 – 1846), gả cho Nabeshima Naomasa, phiên chủ phiên Saga. Pháp danh là Kōsei-in.
Vương tử: Narimoto (1812 - 1826)
Vương tử: Tokugawa Naritami (1814 – 1891), lấy làm con nuôi của Matsudaira Naritaka, phiên chủ phiên Tsuyama. (Dòng nam duệ của Shogun Ienari còn lưu truyền đến ngày nay chỉ duy nhất là hậu duệ của Naritami).
Vương tử: Nobunoshin (1817)
Vương nữ: Kiyohime (1818 – 1869), gả cho Sakai Tadamitsu, phiên chủ phiên Himeji.
Vương tử: Nariryō (1819 – 1839), lấy làm con nuôi của Matsudaira Nariatsu, phiên chủ phiên Hamada.
Vương tử: Narihiro (1821 – 1868), lấy làm con nuôi của Hachisuka Narimasa, phiên chủ phiên Tokushima.
Senkō-in (専行院, Chuyên Hành Viện, 1797 – 16 tháng 7 năm 1872), tên thật là Ine (伊根), còn gọi Omiyo no Kata, không rõ xuất thân. Nhờ có nhan sắc lộng lẫy và khéo ăn nói, bà trở thành thiếp thất được sủng hạnh bậc nhất của Ienari, vô cùng được cưng chiều. Âm mưu đưa cháu ngoại lên làm Tướng quân kế vị nhưng thất bại, bị giam lỏng rồi qua đời không lâu sau đó.
Vương nữ: Yasuhime (1813 – 1868), gả cho Maeda Nariyasu, phiên chủ phiên Kaga.
Vương nữ: Nakahime (1815 - 1817)
Vương nữ: Suehime (1817 – 1872), gả cho Asano Naritaka, phiên chủ phiên Hiroshima.
Chishō-in (智照院, Trí Chiếu Viện, ? – 1813), tên thật là Yao (八百), con gái của Abe Masayoshi, qua đời không lâu sau khi sinh con.
Vương tử: Okugorō (1813 - 1814)
Honrin-in (本輪院, Bản Luân Viện, ? – 24 tháng 4 năm 1850), tên thật là Ito (以登), không rõ xuất thân.
Vương nữ: Kotohime (1815 - 1816)
Vương nữ: Nagahime (1819 – 1875), gả cho Tokugawa Narisada, đương chủ nhà Hitotsubashi Tokugawa.
Vương tử: Tokugawa Nariyoshi (1820 – 1838), lấy làm con nuôi của Matsudaira Naritsugu, phiên chủ phiên Fukui.
Vương tử: Tokugawa Naritsune (1823 – 1841), lấy làm con nuôi của Matsudaira Naritsune, phiên chủ phiên Kawagoe.
Vương tử: Tokugawa Narinori (1825 – 1844), lấy làm con nuôi của Matsudaira Naritsugu, phiên chủ phiên Akashi.
Seiren-in (青蓮院, Thanh Liên Viện, ? – 5 tháng 1 năm 1845), tên thật là Ruri (瑠璃), con gái của Toda Masakata.
Vương tử: Tokugawa Narifusa (1819 – 1839), lấy làm con nuôi của Tokugawa Naritomo, đương chủ nhà Owari Tokugawa.
Vương nữ: Yasuhime (1827 – 1843), gả cho Ikeda Narimichi, phiên chủ phiên Tottori.
Ngự thiếp
Chōkin-in (澄心院, Trừng Tâm Viện, ? – 1830), con gái một người thợ tên Mizuno.
Mitsu-in (じょうこういん, Thừa Quang Viện, ? – 1812), con gái của Yada Shigetoyo.
Omino no Kata (みょうかんいん, Diệu Hoàn Viện, ? – 1850), con gái của Mizuno Shigetoyo.
Riyo-in (しんちょくいん, Chân Trực Viện, ? – 1831), con gái của võ sĩ Atano Masatada.
Tsuyu-in (ちじょういん, Trí Thừa Viện, ? – 1823), con gái ngự y Takahashi Tsunenori.
Niên đại
Những năm Ienari làm Tướng Quân có hơn một niên đại (nengō).[8]