Trần Độc Tú
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox”.Bản mẫu:Wikidata hình ảnh Trần Độc Tú (tiếng Hán giản thể: 陈独秀; phồn thể: 陳獨秀; bính âm: Chén Dúxiù; 08 tháng 10 năm 1879 – 27 tháng 5 năm 1942), tự Trọng Phủ (仲甫), gia phả danh Khánh Đồng (庆同), khoa cử danh Càn Sinh (乾生), lúc học ở Nhật lấy tên là Do Kỷ (由己), tên thường gọi ở An Huy là Tam Ái (三爱), là một nhà hoạt động chính trị Trung Quốc, quê ở An Huy. Ông từng du học ở Nhật Bản và sau này là Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Trung Quốc từ năm 1921 đến năm 1927, sau đó ông bị cách chức Tổng Bí thư và bị khai trừ vì được cho là theo đường lối cơ hội hữu khuynh, không trung thành với chủ nghĩa Marx-Lenin và Đệ tam quốc tế Cộng sản, theo chủ nghĩa Trotsky và Đệ tứ quốc tế của Trotsky, coi giai cấp công nhân là cao nhất, phủ nhận giai cấp nông dân trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, phủ nhận chủ nghĩa dân tộc và nỗ lực đấu tranh kháng Nhật giành độc lập dân tộc, coi đấu tranh giải phóng giai cấp cao hơn vấn đề giải phóng dân tộc, xa rời thực tiễn Trung Quốc, coi giai cấp công nhân là hạt nhân đấu tranh cách mạng trong khi giai cấp này hầu như không tồn tại trong xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ.
Ban đầu, Trần Độc Tú là một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, có công du nhập và phát triển các học thuyết cộng sản Marxist-Leninist ở Trung Quốc, và là cấp trên đào tạo và hướng dẫn cho Mao Trạch Đông, song các quan điểm chính kiến của Trần Độc Tú càng về sau càng đối lập với Mao Trạch Đông và ngày càng xa rời thực tế xã hội Trung Quốc. Đảng Cộng sản đánh giá các quan điểm chính trị của Trần Độc Tú là các quan điểm sai lầm. Do đó Mao Trạch Đông ngày càng đạt được sự tín nhiệm trong Đảng, trong khi đó Trần Độc Tú thì bị cách chức và khai trừ.
Sau này trong thời gian Trần Độc Tú nương náu ở tô giới, Mao Trạch Đông thân hành đến nhà mời Trần Độc Tú trở lại Đảng với hai điều kiện, một là phải ra tuyên bố ủng hộ kháng chiến chống phát xít Nhật, hai là phải tuyên bố từ bỏ "tà thuyết Trotsky" và tuyệt giao với các nhóm Đệ tứ Quốc tế còn lại ở Trung Quốc và thế giới. Trần Độc Tú đồng thuận với điều kiện 1 nhưng từ chối điều kiện 2. Cơ hội sau cùng quay trở lại Đảng của Trần Độc Tú đã bị bỏ lỡ.
Sự nghiệp
Trần Độc Tú là người phủ An Khánh, tỉnh An Huy, Trung Quốc. Năm ông lên 2 tuổi, phụ thân của ông là Trần Diên Trung (陈衍中) mất vì bệnh dịch hạch ở hội quán Hoài Ninh, Tô Châu, ông được ông nội Trần Chương Húc (陈章旭) và huynh trưởng Trần Khánh Nguyên (陈庆元) nuôi dưỡng.
Ban đầu, Trần Độc Tú theo học các kinh điển Nho giáo ở nhà. Năm Quang Tự thứ 22 (1896), ông đỗ Tú tài, năm sau ông bị trượt trong kì thi ở Giang Nam. Năm Quang Tự thứ 23 (1897), Trần Độc Tú được nhận vào Thư viện Cầu thị Hàng Châu để học tiếng Pháp và đóng tàu, cùng năm đó, Trần Độc Tú kết hôn với Cao Hiểu Lam (高晓岚) trong một cuộc hôn nhân sắp đặt và tiếp tục đến Nam Kinh để ứng thí nhưng vẫn không đậu. Năm Quang Tự thứ 24 (1898), Trần Độc Tú đến chỗ người họ hàng ở Đông Bắc là Trần Tích Phàm (陈昔凡), nhưng đến cuối năm Quang Tự thứ 25 (1899), Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn nổi dậy, Trần Độc Tú lại quay lại phủ An Khánh.
Năm Quang Tự thứ 27 (1901), Trần Độc Tú tự túc lưu học tiếng Nhật tại trường Học viện Hoằng Văn. Năm sau, ông quay về nước rồi lại sang Nhật Bản học tại khoa Lục quân của Trường Chân võ Đông Kinh (东京振武学校). Trong thời gian học ở đây, ông bắt đầu chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội. Tối 31 tháng 3 năm 1903, Trần Độc Tú, Trương Kế (张继) và Trâu Dung (张继) ép viên giám sát Hồ Bắc lục quân học sinh là Diêu Dục (姚昱) phải cắt bím tóc. Diêu Hưởng Thanh (姚向清) và Công sứ nhà Thanh ở Nhật Bản là Thái Quân (蔡钧) gặp Bộ Ngoại giao Nhật cáo giác, Tràn Độc Tú, Trương Kế và Trâu Dung bị trục xuất về nước.
Về nước, ông dạy ở trường tiểu học Hàng Châu. Sau Cách mạng Tân Hợi năm 1911, Trần Độc Tú tham gia chính quyền cách mạng ở tỉnh An Huy. Năm 1915, ông sáng lập Tạp chí Tân thanh niên, viết nhiều bài báo vận động cho phong trào văn hóa mới. Ông trở nên nổi tiếng và được mời lên dạy ở khoa văn trường Đại học Bắc Kinh.
Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 nổ ra, Trần Độc Tú là một trong người đầu tiên tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa Marx-Lenin ở Trung Quốc. Được sự giúp đỡ của Quốc tế cộng sản, các địa phương cử đại biểu đến Thượng Hải dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong đại hội này, Trần Độc Tú được cử giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành trung ương Đảng.
Bị khai trừ
Trần Độc Tú sau này bị cho là có thái độ cơ hội hữu khuynh, thỏa hiệp, nhượng bộ. Từ 1924-1927, cuộc chiến tranh Bắc phạt nổ ra và giành được thắng lợi thì Tưởng Giới Thạch tổ chức đảo chính. Năm 1927, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc họp hội nghị ở Cửu Giang (Giang Tây) đã phê phán đường lối của Trần Độc Tú và cách chức ông khỏi cương vị Tổng Bí thư.
Đến tháng 11 năm 1929, Trần Độc Tú bị khai trừ ra khỏi Đảng. Năm 1932, ông bị chính phủ Quốc dân Đảng bắt giam ở Thượng Hải. Sau khi ra tù một thời gian, ông mất ở Tứ Xuyên vào năm 1942.
Di dời và tưởng niệm
Khi mới qua đời, do kinh tế eo hẹp, ông được chôn cất tạm thời nhờ tiền quyên góp của bạn bè. Bia mộ khi ấy đề chữ "Độc Tú tiên sinh chi mộ" (独秀先生之墓), còn gọi là "Độc Tú Trần tiên sinh chi mộ" (独秀陈先生之墓)[1]. Đến năm 1947, con trai thứ của ông là Trần Tùng Niên đem di hài của ông về quê nhà An Huy và hợp táng cùng người vợ đầu của ông. Đến năm 2000, tức 58 năm sau khi ông qua đời, mộ được công nhận là Di tích bảo vệ trọng điểm cấp tỉnh và được đầu tư lớn, bia mộ hiện nay đề 7 chữ lớn: "Trần Độc Tú tiên sinh chi mộ"[2][3]
Hiện nay, nơi an nghỉ của ông không chỉ là một ngôi mộ đơn thuần mà đã trở thành Độc Tú viên (独秀园) — một quần thể văn hóa lịch sử tại An Khánh. Tổng diện tích khu mộ là 1.058,85m2, xây dựng theo phong cách truyền thống, tọa Bắc hướng Nam, bao gồm: nấm mộ, bia mộ, đài tế, lan can và đường dẫn vào mộ.
Năm 2009, Bảo tàng kỷ niệm Trần Độc Tú được khánh thành với chi phí hơn 13 triệu nhân dân tệ, đây cũng là bảo tàng duy nhất tại Trung Quốc trưng bày một cách hệ thống và toàn diện về cuộc đời, sự nghiệp của ông.
Gia đình
- Nguyên phối (Đại phòng): Cao Hiểu Lam (高晓岚, 1876 - 1930), tên khác Cao Đại Chúng (高大众), người huyện Hoắc Khâu, tỉnh An Huy, con gái lớn của An Huy Phó tướng Thống lĩnh thời Thanh mạt là Cao Đăng Khoa (高登科). Kết hôn với Trần Dục Tú năm 1897 trong một cuộc hôn nhân sắp đặt, sinh được ba con trai và một con gái. Sau khi Trần Dục Tú cùng em gái khác mẹ của bà bỏ trốn, bà một mình nuôi dưỡng con cái, hiếu kính với cha mẹ chồng, qua đời tại quê nhà An Khánh do quá thương tâm trước cái chết của con.
- Trưởng tử Trần Diên Niên [zh] (陈延年, 1898 - 1927), danh Hà Diên (遐延), bút danh Lâm Mộc (林木), năm 1919 được đưa sang Pháp du học, từng giữ chức Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Khu ủy các tỉnh Quảng Đông, Chiết Giang và Giang Tô. Tháng 6 năm 1927, Trần Diên Niên bị chính phủ Quốc dân Đảng bắt giữ tại Thượng Hải, vì từ chối đầu hàng nên bị sát hại vào tháng 7 cùng năm, di thể bị ném xuống sông Dương Tử.
- Trưởng nữ Trần Ngọc Oánh (陈玉莹, 1900 - 1928), vì kích động sau cái chết của anh trai và em trai ruột nên lâm bệnh mất tại Thượng Hải.
- Nhị tử Trần Kiều Niên [zh] (陈乔年, 1902 - 1928), danh Hà Kiều (遐乔), bút danh La Ti (罗丝), năm 1919 cùng anh trai được đưa sang Pháp du học, từng giữ chức Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Trưởng ban Tổ chức Khu ủy phương Bắc, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Hồ Bắc, Bí thư Tỉnh ủy Hồ Bắc, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Giang Tô. Tháng 2 năm 1928, Trần Kiều Niên bị chính phủ Quốc dân Đảng bắt giữ tại Thượng Hải, đến tháng 6 bị hành hình bên cạnh cầu Phong Lâm ở Long Hoa, Thượng Hải. Vợ là Sử Tĩnh Nghi (史静仪).
- Tứ tử Trần Tùng Niên [zh] (陈松年, 1910 - 1990), từng giữ chức Ủy viên Thường vụ Chính hiệp thành phố An Khánh, viên chức Viện Văn sử thành phố An Khánh, viên chức Viện Văn sử tỉnh An Huy. Vợ là Đậu Hanh Quang (窦珩光).
- Trần Trường Kỳ (陈长琦, 1947 - ), Thạc sĩ Kỹ thuật, Giáo sư, lâu năm nghiên cứu về kỹ thuật chân không và chế tạo tính chất màng mỏng, kỹ thuật công trình nhiệt độ thấp, kỹ thuật công trình thiết bị bảo vệ môi trường.
- Trần Trường Vi (陈长玮)
- Trần Trường Dư (陈长玙), hiện là kỹ sư cao cấp tại một nhà máy quân giới tại An Khánh.
- Trần Trường Phác (陈长璞), từng giữ chức Phó Cục trưởng Cục Quản lý Di tích Văn hóa thành phố An Khánh.
- Thiếp thất (Nhị phòng): Cao Quân Mạn (高君曼, 1888 - 1931), là em gái cùng cha khác mẹ của Cao Hiểu Lam, do vợ lẽ của cha sinh ra. Năm 1910, cùng anh rể tư thông rồi bỏ trốn khỏi quê nhà, sinh được hai con trai và một con gái. Từ năm 1922 quan hệ hai người dần trở nên lạnh nhạt, năm 1925 Trần Độc Tú thay lòng đổi dạ với Thi Chi Anh, Cao Quân Mạn đến Nam Kinh cùng các con sinh sống cho đến khi qua đời.
- Tam tử Trần Quang Mỹ (陈光美, 1907 - 1999), sau khi sinh ra được gửi nuôi tại Tứ Xuyên. Do nguyên nhân lịch sử, người con này luôn không được thừa nhận là con trai Trần Độc Tú.
- Tam nữ Trần Tử Mỹ (陈子美, 1912 - 2004), tốt nghiệp ngành sản phụ khoa. Có quan hệ ngoài luồng nhiều năm với một người đã có gia đình là Trương Quốc Tường (张国祥), đến năm 1936 thì ép Tường ly hôn vợ để kết hôn với mình. Về sau, ly hôn Trương Quốc Tưởng và bỏ rơi ba đứa con để tái giá với Lý Hoán Chiếu (李焕照). Trong thời kỳ Cách mạng văn hóa, bỏ lại gia đình mà đưa con trai út vượt biên sang Mỹ, con trai út của bà nghi ngờ đã trộm sạch tiền bạc của bà rồi biến mất. Ngày 14 tháng 4 năm 2004, qua đời tại Mỹ, phía bệnh viện hơn một tháng không thể tìm thấy người nhà, cuối cùng do con trai lớn sinh với Lý Hoán Chiếu đang ở trong nước đứng ra nhận lại. Sau khi bà mất, Phó Tổng lãnh sự Trung Quốc tại New York là Thôi Ái Dân (崔爱民) đã đến phúng viếng.
- Ngũ tử Trần Hạc Niên (陈鹤年, 1913 - 2000), thuở trẻ theo học Đại học Bắc Kinh. Do ảnh hưởng tiêu cực của cha nên phải đổi tên thành Trần Triết Dân (陈哲民), đưa vợ con đến sinh sống tại Hồng Kông, bản thân ở lại đây cho đến khi qua đời, có ba con gái.
- Tình nhân (Ngoại thất): Thi Chi Anh (施之英), tốt nghiệp Đại học Y khoa Thượng Hải, năm 1925 thì trở thành tình nhân của Trần Độc Tú. Trần Độc Tú bị bãi miễn chức vụ, liền bị Thi Chi Anh bỏ rơi mà kết hôn với người khác.
- Kế thất: Phan Lan Trân (潘兰珍, 1908 - 1949), người Giang Tô, quen biết Trần Độc Tú năm 1927 khi ông bị bãi miến chức vụ, đến năm 1930 thi kết hôn, sau khi ông qua đời thì sinh sống tại Thượng Hải cho đến khi mất.
- Con nuôi: Phan Phượng Tiên (潘凤仙), hiện đang sinh sống tại Thượng Hải.
Tham khảo
Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox”. Bản mẫu:Commonscat-inline
- Spence, Jonathan D. The Search for Modern China, W.W. Norton and Company. (1999) p. 303. ISBN 0-393-97351-4.
- Tse-tsung Chow. "Chen Duxiu." Encyclopædia Britannica, Inc.. 2009 Retrieved at: <http://www.history.com/topics/chen-duxiu>. ngày 25 tháng 2 năm 2011.
- Benton, Gregor, ed. Chen Duxiu's last articles and letters, 1937-1942. University of Hawaii Press, 1998. ISBN 0-8248-2112-2
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Article stub box”.
Bản mẫu:Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Authority control”.
- Trang có lỗi kịch bản
- Trang có lỗi bảng kiểu bản mẫu
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc
- Người sáng lập Đảng Cộng sản Trung Quốc
- Nhà báo Trung Quốc
- Giáo sư Đại học Bắc Kinh
- Sinh năm 1879
- Mất năm 1942
- Giảng viên Đại học Bắc Kinh
- Nhà cách mạng Trung Quốc
- Lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc
- Cựu sinh viên Đại học Chiết Giang