Bước tới nội dung

Trần Khôn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Trần Khôn
Trần Khôn năm 2015
Sinh4 tháng 2, 1976 (50 tuổi)
Trùng Khánh, Trung Quốc
Quốc tịch Trung Quốc
Tên khácChen Kun
Dân tộcHán
Học vịThạc sĩ
Trường lớpHọc viện Điện ảnh Bắc Kinh
Nghề nghiệpDiễn viên, ca sĩ, nhà sản xuất
Năm hoạt động1999 - nay
Chiều cao1,77 m
Con cáiTrần Tôn Hựu

Trần Khôn (chữ Hán: 陈坤, tiếng Latinh: Chen Kun, tên tiếng Anh: Aloys Chen, sinh ngày 4 tháng 2 năm 1976), còn được biết đến với nghệ danh quốc tế Aloys Chen, là một nam diễn viên, ca sĩ và nhà sản xuất người Trung Quốc.

Anh bắt đầu được chú ý rộng rãi qua các bộ phim truyền hình Như sương như mưa lại như gió (2001) và Kim phấn thế gia (2003). Trần Khôn sau đó nhận được đánh giá cao từ giới chuyên môn nhờ các tác phẩm điện ảnh như Vân thủy dao (2006) và Họa (2008).

Những tác phẩm nổi bật khác trong sự nghiệp của anh gồm các phim điện ảnh Long môn phi giáp (2011), Ma thổi đèn: Tầm Long Quyết (2015), Lẩu Trùng Khánh (2016), cùng các phim truyền hình như Thiên Thịnh trường ca (2018) và Phong khởi Lũng Tây (The Wind Blows From Longxi, 2022).

Xuyên suốt sự nghiệp, Trần Khôn từng giành giải nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại Giải Bách Hoa, Giải Hoa Biểu cho Nam diễn viên xuất sắc, đồng thời nhận đề cử nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại Giải Kim Mã.

Về mức độ ảnh hưởng trong ngành giải trí, anh nhiều lần góp mặt trong danh sách Forbes China Celebrity 100. Anh xếp hạng 68 trong bảng xếp hạng năm 2014, đứng thứ 28 trong một bảng xếp hạng khác cùng năm, xếp thứ 15 năm 2017[1] và đứng thứ 52 năm 2019.[2]

Tiểu sử

Trần Khôn sinh ra tại Trùng Khánh. Khi còn nhỏ, anh được bà ngoại nuôi dưỡng và chỉ đoàn tụ với mẹ khi lên 11 tuổi. Sau khi em trai thứ hai của anh chào đời, cha mẹ Trần Khôn ly hôn. Từ thời trung học, anh đã bắt đầu làm thêm để hỗ trợ gia đình.[3]

Trần Khôn đã từng trải qua nhiều công việc khác nhau như: nhân viên đánh máy tại văn phòng thành phố hay ca sĩ solo tại các câu lạc bộ đêm. Anh đã sớm bộc lộ tài năng trong lĩnh vực ca hát và được khuyến khích mạnh mẽ của giảng viên thanh nhạc của mình và cố vấn để tham gia Đoàn Ca múa Phương Đông Trung Quốc (nay là Đoàn Ca múa Quốc gia Trung Quốc) tại Bắc Kinh vào năm 1995.

Năm 1996, anh thi đỗ vào Học viện Điện ảnh Bắc Kinh, theo học chuyên ngành biểu diễn, chính thức bắt đầu con đường đào tạo chuyên nghiệp trong lĩnh vực diễn xuất. Anh cùng với Triệu Vy và Huỳnh Hiểu Minh tạo thành Bắc Ảnh Tam Kiếm Khách - bộ 3 nổi tiếng nhất lúc bấy giờ của học viện.

Sự nghiệp

1999–2004: Ra mắt và bắt đầu nổi tiếng

Phim đầu tiên Trần Khôn đóng là phim Quốc ca năm 1999, và nổi từ các bộ phim truyền hình Như sương như mưa lại như phong, Kim phấn thế gia. Anh được đề cử giải Nam diễn viên xuất sắc nhất nhờ vai diễn trong phim Khoảnh khắc Tây Hồ năm 2005 tại LHP Kim Mã,[4] đã giành Nam diễn viên xuất sắc nhất cho vai diễn trong Vân thủy dao tại LHP Hoa Biểu năm 2007,[5] và giành Nam diễn viên xuất sắc nhất cho vai diễn trong phim Họa Bì năm 2010 tại LHP Bách Hoa.[6]

Ngoài diễn xuất, Trần Khôn cũng là ca sĩ. Anh thường xuyên thực hiện bài hát chủ đề cho bộ phim truyền hình của mình và đã phát hành ba album, anh đã giành giải Nam ca sĩ thành công nhất tại Lễ trao giải MTV châu Á cho album thứ hai của mình, Trở thành hiện thực lần nữa. Để hỗ trợ cho album thứ ba bí ẩn & Me, anh đã tổ chức buổi hòa nhạc solo đầu tiên của mình tại Bắc Kinh vào tháng 2 năm 2010. Trần Khôn đã được trao ngôi sao ăn chay quyến rũ nhất châu Á của năm 2013.

Năm 1999, Trần Khôn chính thức ra mắt màn ảnh với bộ phim điện ảnh Quốc ca. Anh bắt đầu tạo dựng tên tuổi nhờ loạt phim truyền hình đạt thành công lớn gồm Như sương như mưa lại như gió (2001), Hồng phấn nữ lang (2002) và Kim phấn thế gia (2003). Trong đó, Kim phấn thế gia được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Trương Hận Thủy.

Năm 2002, Trần Khôn bắt đầu được khán giả quốc tế chú ý khi tham gia bộ phim tình cảm hợp tác Pháp - Trung, Balzac và cô thợ may Trung Hoa. Tác phẩm sau đó nhận đề cử tại hạng mục Phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc nhất của Giải Quả Cầu Vàng, góp phần mở rộng danh tiếng của anh ra ngoài thị trường Trung Quốc.

2005–2016: Điện ảnh và sự ghi nhận

Năm 2005, Trần Khôn tham gia bộ phim Khoảnh khắc Tây Hồ, trong đó anh vào vai một chàng trai trẻ giàu lý tưởng, luôn khao khát tìm kiếm tình yêu nhưng không dễ dàng cảm thấy thỏa mãn với cuộc sống. Với màn thể hiện này, anh nhận được đề cử nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại Giải Kim Mã.[7] Sau đó, anh tiếp tục đóng chính trong bộ phim Lý phát sư (2006).[8] Vai diễn giúp anh giành giải nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại Giải thưởng Hội phê bình điện ảnh Thượng Hải nhờ khả năng khắc họa hành trình cuộc đời đầy khó khăn, những đấu tranh, mất mát nhưng cũng chứa đựng nhiều niềm vui của nhân vật.[9]

Trần Khôn đạt được bước tiến lớn trên trường quốc tế với bộ phim Vân thủy dao (2007).[7] Anh từng chia sẻ đây là một “thử thách lớn” trong sự nghiệp, bởi nhân vật yêu cầu anh thể hiện quá trình trưởng thành và thay đổi trong suốt 20 năm cuộc đời. Bộ phim đạt thành công lớn, nhận được 8 đề cử tại Giải Kim Kê lần thứ 16, trong đó có hạng mục nam diễn viên chính xuất sắc nhất dành cho Trần Khôn.[10] Anh đồng thời giành giải nam diễn viên xuất sắc nhất tại Giải Hoa Biểu.[11] Năm 2008, anh tiếp tục hợp tác với đạo diễn Trần Gia Thượng trong bộ phim kinh dị - kỳ ảo Họa .[12] Tác phẩm thành công về mặt thương mại và giúp Trần Khôn giành giải nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại Giải Bách Hoa, khẳng định vị thế của anh trong lĩnh vực điện ảnh.[13]

Trần Khôn tại Liên hoan phim Quốc tế Thượng Hải (2007)

Để kỷ niệm 60 năm ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Trần Khôn tham gia bộ phim chính kịch lịch sử Đại nghiệp kiến quốc (2009). Trong phim, anh đảm nhận vai Tưởng Kinh Quốc. Màn thể hiện của anh nhận được nhiều lời khen từ truyền thông và giới phê bình nhờ khả năng khắc họa hình ảnh một nhân vật theo chủ nghĩa dân tộc đầy nhiệt huyết nhưng bất lực trong việc ngăn cản sự sụp đổ của phe phái mình..[14] Sau đó, Trần Khôn thử sức với vai phản diện đầu tiên trong sự nghiệp khi tham gia bộ phim xã hội đen Nhượng tử đạn phi (2010) do Khương Văn đạo diễn.[15] Cũng trong năm 2010, Trần Khôn thành lập công ty quản lý nghệ sĩ riêng mang tên K Pictures.

Năm 2011, Trần Khôn tham gia bộ phim võ hiệp Long môn phi giáp do đạo diễn Từ Khắc thực hiện.Trong phim, anh đảm nhận hai vai diễn có tính cách đối lập hoàn toàn: Vũ Hóa Điền - một nhân vật lạnh lùng, tàn nhẫn và đầy tham vọng; cùng Phong Lý Đao - một người thông minh, hài hước và giàu sự tinh quái. Màn thể hiện hai nhân vật với hai sắc thái khác biệt giúp Trần Khôn nhận được đề cử nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại Giải thưởng Điện ảnh châu ÁGiải Bách Hoa.[16] Vai diễn kép này được xem là một cột mốc quan trọng trong sự nghiệp của Trần Khôn, góp phần nâng cao độ phổ biến của anh với khán giả đại chúng và trở thành một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất trong hành trình diễn xuất của nam diễn viên.[17][18]

Năm 2012, Trần Khôn đảm nhận vai nhà khoa học Tiền Học Sâm trong bộ phim tiểu sử cùng tên kể về cuộc đời của ông.[19] Màn thể hiện của Trần Khôn nhận được nhiều đánh giá tích cực từ giới phê bình, đặc biệt nhờ khả năng khắc họa quá trình trưởng thành và thay đổi của nhân vật từ thời trẻ đến khi về già, với vai diễn này, anh lần thứ hai giành giải nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại Giải thưởng Hội phê bình điện ảnh Thượng Hải.[20] Cũng trong năm 2012, anh tiếp tục tham gia bộ phim Họa bì 2, phần tiếp theo của Họa (2008).[21] Tác phẩm đạt thành công lớn về mặt thương mại khi thu về hơn 700 triệu nhân dân tệ (khoảng 109,8 triệu USD), trở thành bộ phim Hoa ngữ có doanh thu cao nhất tại thời điểm đó.[22]

Sau đó, Trần Khôn tham gia bộ phim Quá giới,[23] tác phẩm được lựa chọn trình chiếu tại hạng mục Un Certain Regard của Cannes Film Festival 2013.[24] Với vai diễn trong phim, anh giành giải nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Quốc tế Phụ nữ Điện ảnh Salé 2013 tổ chức tạiMorocco.[25] Cũng trong năm 2013, Trần Khôn được vinh danh là “Weibo King” tại sự kiện Sina Weibo Night 2013 nhờ sức ảnh hưởng và mức độ nổi tiếng trên nền tảng mạng xã hội này.[26]

Năm 2015, anh liên tiếp góp mặt trong các tác phẩm điện ảnh kỳ ảo. Trong Chung Quỳ phục ma: Tuyết ma yêu linh, anh đảm nhận vai Chung Quỳ. Sau đó, anh đóng chính trong Ma thổi đèn: Tầm Long Quyết với vai Hồ Bát Nhất -- nhân vật chính trong loạt tiểu thuyết phiêu lưu trộm mộ nổi tiếng cùng tên.[27] Ma thổi đèn đạt thành công lớn về mặt thương mại, đồng thời phá kỷ lục doanh thu phòng vé đối với một bộ phim tiếng Trung được phát hành dưới định dạng IMAX tại Trung Quốc.[28]

Năm 2016, Trần Khôn hợp tác cùng Bạch Bách Hà trong bộ phim tội phạm - hài Lẩu Trùng Khánh.[29] Tác phẩm nhận được nhiều phản hồi tích cực từ giới chuyên môn và khán giả, đạt doanh thu 152 triệu nhân dân tệ chỉ sau 4 ngày công chiếu.[30] Cùng năm, anh có vai khách mời đặc biệt trong bộ phim hài tình cảm Vụ tai nạn ngọt ngào, tái hợp với bạn diễn từng hợp tác trong Kiên thượng điệpQuế Luân Mỹ.[31] Cùng năm cũng đánh dấu lần đầu Trần Khôn tham gia sản xuất và dẫn dắt một chương trình truyền hình thực tế với tư cách nhà sản xuất kiêm nghệ sĩ tham gia trong chương trình Twenty Four Hours. Tập đầu tiên được phát sóng ngày 21/1 trên đài Chiết Giang và nhanh chóng đứng đầu bảng xếp hạng tỷ suất người xem.[32]

2017–nay: Trở lại màn ảnh truyền hình

Năm 2018, Trần Khôn trở lại màn ảnh nhỏ sau một thời gian dài vắng bóng với bộ phim chính kịch gián điệp thời kỳ Thoát Thân (Lost in 1949, còn có tên The Double). Trong phim, anh đảm nhận vai hai anh em sinh đôi là Kiều Trí Tài và Kiều Lễ Cung, thể hiện hai nhân vật có tính cách và hoàn cảnh khác biệt.[33] Cùng năm, anh tiếp tục đóng chính trong bộ phim cổ trang Phượng Hoàng Quyền Mưu (The Rise of Phoenixes), vào vai Ninh Dịch - một hoàng tử thông minh, đầy tham vọng và có khả năng tính toán sâu sắc. Hai tác phẩm này đều do Trần Khôn tham gia đồng sản xuất, đánh dấu sự trở lại của anh với lĩnh vực truyền hình sau khoảng một thập kỷ tập trung cho điện ảnh. Tuy nhiên, cả hai bộ phim nhận được phản hồi trái chiều từ khán giả và không đạt thành tích rating như kỳ vọng.[34][35]

Năm 2021, Trần Khôn tham gia bộ phim điện ảnh kỳ ảo Âm Dương sư: Thị thần lệnh, chuyển thể từ trò chơi điện tử nổi tiếng Âm Dương .[36] Cũng trong năm 2021, anh được lựa chọn làm thành viên ban giám khảo hạng mục Giải Thiên Đàn tại Liên hoan phim Quốc tế Bắc Kinh lần thứ 11.[37]

Đời tư

Trần Khôn không lập gia đình nhưng có một con trai tên là Trần Tôn Hựu nhưng không rõ mẹ đứa bé là ai.[38]

Sự nghiệp diễn xuất

Năm Tựa Phim Vai Diễn Ghi Chú
1999 Quốc ca Nhiếp Nhĩ
2001 Balzac và cô thợ may Trung Hoa Lạc Minh
2003 Những cô gái Kungfu Đường Chính Khách mời
2004 Bảo bối đang yêu Mao Mao Khách mời
2005 Khoảnh khắc Tây Hồ A Tần
2006 Lý phát sư Lục Bình
Vân thủy dao Trần Thu Thủy
2007 Môn Tưởng Trung Thiên
2008 Hoa hoa hình cảnh Lâm Hanh
Họa bì Vương Sinh
2009 Hoa Mộc Lan Văn Thái
Đại nghiệp kiến quốc Tưởng Kinh Quốc
2010 Đám cưới vợ cũ Mã Dũng
Nhượng tử đạn phi Lý Ngọc
2011 Kiến đảng vĩ nghiệp Chu Ân Lai
Kiên thượng điệp Nghiêm Quốc
Hạnh phúc ngạch độ Trương Tuyền Đồng sản xuất
Long môn phi giáp Vũ Hóa Điền/Phong Lý Đao
2012 Tiền Học Sâm Tiền Học Sâm
Họa bì 2: Thuật hồi sinh Hoắc Tâm
2013 Địch Nhân Kiệt: Rồng biển trỗi dậy Vương Phổ
2014 Quá giới Phi
2015 Chung Quỳ phục ma: Tuyết ma yêu linh Chung Quỳ
Ma thổi đèn: Tầm long quyết Hồ Bát Nhất
2016 Lẩu Trùng Khánh Lưu Ba
2017 Vụ tai nạn ngọt ngào Trương Đào Khách mời, nhà sản xuất
2021 Âm dương sư: Thị thần lệnh Tình Minh

Truyền hình

Năm Phim Vai diễn Ghi chú
2000 Như sương như mưa lại như gió Trần Tử Khôn
2001 Lữ nhân đích cố sự A Phương
2001 Hồng phấn nữ lang La Mật Âu
Love in sunshine Âu Dương Tuấn Nhất
Only you Kha Lỗi
2002 Kim phấn thế gia Kim Yến Tây
2002 Mại bản chi gia Dư Tử Côn
2003 Nhẫm Huyết Đao (Danh Dương hoa cổ) Danh Dương
Song Hưởng Pháo (Nỗi niềm chàng rể) Từ Hanh
Tạm biệt Vancouver La Nghi
Hồng sắc địa thảm Hắc sắc mộng Lam Hạo
2004 Eager For True Love Hồ An
Thiên địa chân tình Lâm Thế Kiệt
Hero of the Year Lục Khôn
Phong vũ Tây quan Lương Cẩm Khôn
Trường kiếm tương tư Yên Truy Vân
2005 Nhẫm huyết đao Danh Dương
2006 Tranh bá Phạm Lãi
Tình chứng kim sinh Chu Hạo
Tân Bất liễu tình Trương Thiếu Kiệt
2007 Châu gia hoa viên Lý Bác Văn
2008 Cố mộng Lục Thiên Ân
2018 Kẻ thoát thân Kiều Trí Tài/ Kiều Lễ Kiệt
Thiên Thịnh trường ca Ninh Dịch
TBA Thắng thua
TBA Phong khởi Lũng Tây Trần Cung

Album ca nhạc

Vol Album Phát hành Ghi chú
1 Osmosis 《渗透》 15.11.2004
2 To Come True Again 《再一次实现》 25.05.2006
3 Mystery & Me 《谜&Me》 23.12.2009

Tham khảo

  1. ^ Flannery, Russell. "2017 Forbes China Celebrity List (Full List)". Forbes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2026.
  2. ^ 娱乐综合 (ngày 20 tháng 8 năm 2019). "福布斯中国发布100名人榜 吴京黄渤胡歌位列前三|吴京|黄渤|胡歌_新浪娱乐_新浪网". ent.sina.com.cn. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2026.
  3. ^ "Lonely boy who changed his life - Chinadaily.com.cn". www.chinadaily.com.cn. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2026.
  4. ^ "第42届台湾电影金马奖提名名单". Sina (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2017.
  5. ^ "Hot Knot wins big at Huabiao". China Daily. ngày 29 tháng 8 năm 2007.
  6. ^ "The 19th China Golden Rooster & 30th Hundred Flowers Film Festival". China Daily. ngày 13 tháng 12 năm 2010.
  7. ^ a ă "Chen Kun: 'Enjoy Life, Enjoy Work'". www.china.org.cn. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2026.
  8. ^ "图文:电影《理发师》--陈坤与曾黎演乱世爱情_影音娱乐_新浪网". ent.sina.com.cn. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2026.
  9. ^ "《天狗》上海影评人奖十佳影片 朱媛媛当选影后_影音娱乐_新浪网". ent.sina.com.cn. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2026.
  10. ^ Coonan, Clifford (ngày 31 tháng 10 năm 2007). "'The Knot' ties up Rooster Awards". Variety (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2026.
  11. ^ "Hot Knot wins big at Huabiao". www.chinadaily.com.cn. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2026.
  12. ^ "陈坤颠覆形象演《画皮》 自曝曾拒当男主角– Mtime时光网". news.mtime.com. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2026.
  13. ^ "Vote for China's Top 10 Cultural Events in 2010". www.chinadaily.com.cn. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2026.
  14. ^ "建国大业》票房爆棚 陈坤成"黑马"" [Founding of a Republic is a commercial success, Chen Kun comes out as the dark horse]. Sohu (bằng tiếng Trung). ngày 20 tháng 9 năm 2009.
  15. ^ "Chen Kun takes on gangster style". China Daily. ngày 8 tháng 12 năm 2009.
  16. ^ "Flying Swords of Dragon Gate receives the most Asian Film Award nominations". Asia Pacific Arts. ngày 23 tháng 1 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2017.
  17. ^ "《龙门飞甲》陈坤自我PK 没有战胜不了的江湖" [Chen Kun battles himself in new film] (bằng tiếng Trung). Sina Corp. ngày 20 tháng 12 năm 2011.
  18. ^ "Tsui Hark's 'Dragon Gate' a visual feast". China.org.cn. ngày 21 tháng 12 năm 2011.
  19. ^ "Chen Kun takes lead in Qian Xuesen biopic". China Daily. ngày 9 tháng 3 năm 2011.
  20. ^ "十佳影片,花落谁家:第21届上海影评人奖揭晓" (bằng tiếng Trung). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2017.
  21. ^ "Re-imagined fantasy about love". China Daily. ngày 3 tháng 8 năm 2012.
  22. ^ "Ludicrous 'Painted Skin'". China Post. ngày 13 tháng 7 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 3 năm 2013.
  23. ^ "陈坤刘嘉玲"过界男女"首映 助力新导演零片酬出演". Mtime (bằng tiếng Trung). ngày 11 tháng 2 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2018.
  24. ^ "Bends". Cannes Film Festival. ngày 6 tháng 5 năm 2013.
  25. ^ "陈坤凭《过界》获摩洛哥萨累电影节影帝" [Chen Kun wins Best Actor award at Morocco International Festival for Bends] (bằng tiếng Trung). Sina Corp. ngày 11 tháng 10 năm 2013.
  26. ^ "新浪微博之夜落幕 "微"力改变世界" (bằng tiếng Trung). Sina Corp. ngày 15 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2017.
  27. ^ "Chen Kun in Utmost Sincerity to Portray in 'Mojin: The Lost Legend'". CRI English. ngày 19 tháng 11 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2017.
  28. ^ "'Mojin' Breaks IMAX Box Office Record in China (EXCLUSIVE)". Variety. ngày 8 tháng 1 năm 2016.
  29. ^ "《火锅英雄》主创详解幕后故事:陈坤不耍大牌拍戏拼". ifeng (bằng tiếng Trung). ngày 11 tháng 4 năm 2016.
  30. ^ "'Chongqing Hot Pot' wins top viewers ratings". China.org.cn. ngày 5 tháng 4 năm 2016.
  31. ^ "Chen Kun, Kwai Lun-mei portray a couple in 'Beautiful Accident'". China.org.cn. ngày 6 tháng 7 năm 2016.
  32. ^ "《二十四小时》收视飙升 六位船员萌点毕现" [New variety show is a success in the ratings game]. Sohu (bằng tiếng Trung). ngày 1 tháng 2 năm 2016.
  33. ^ "First Cuts Pictures".
  34. ^ "陈坤出演谍战大戏《脱身者》 阔别9年重返荧屏". Tencent (bằng tiếng Trung). ngày 11 tháng 10 năm 2016.
  35. ^ "《凰权》陈坤出手掀波澜 网友:史上最完美男主". Tencent (bằng tiếng Trung). ngày 20 tháng 10 năm 2016.
  36. ^ "陈坤&周迅奇幻新片《侍神令》曝预告". Mtime (bằng tiếng Trung). ngày 7 tháng 8 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2020.
  37. ^ Liz Shackleton (ngày 21 tháng 7 năm 2021). "Beijing film festival unveils line-up for 2021 physical edition". Screen Daily (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2021.
  38. ^ "Trần Khôn - Ông bố đơn thân kỳ lạ nhất làng giải trí Hoa ngữ". Báo Dân trí. ngày 11 tháng 7 năm 2019.
  • (Trung Quốc) 陈坤曝"画皮Ⅱ"角色人妖难辨冯绍峰玩性感
  • "Giới thiệu tóm tắt của Trần Khôn". ichenkun.com. Truy cập ngày 14 Tháng Tư năm 2010.
  • "Trần Khôn hồ sơ". ichenkun.com. Truy cập 21 tháng 12 năm 2009.
  • http://cfensi.dramaddicts.com/forum/viewtopic.php?t=176