Bước tới nội dung

Trang Thuận Hoàng quý phi (Đạo Quang)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Trang Thuận Hoàng quý phi)
Trang Thuận Hoàng quý phi
庄顺皇贵妃
Đạo Quang Đế Hoàng quý phi
Quý phi Đại Thanh
Tại vị17 tháng 1 năm 1846
- 11 tháng 3 năm 1850
Đăng quang25 tháng 1 năm 1847
Hoàng quý phi Đại Thanh
(tôn phong)
Tại vị12 tháng 11 năm 1861
- 13 tháng 12 năm 1866
Đăng quang12 tháng 11 năm 1861
Tiền nhiệmNhư Hoàng quý thái phi
Kế nhiệmLệ Hoàng quý thái phi
Thông tin chung
Sinh(1822-11-29)29 tháng 11, 1822
Mất13 tháng 12, 1866(1866-12-13) (44 tuổi)
An táng15 tháng 10 năm 1867
Mộ Đông lăng (慕东陵)
Phối ngẫuThanh Tuyên Tông
Đạo Quang Hoàng đế
Hậu duệ
Tôn hiệu
Hoàng tổ Lâm Hoàng quý thái phi
(皇祖琳皇貴太妃)
Thụy hiệu
Trang Thuận Hoàng quý phi
(庄順皇貴妃)
Tước hiệuTú Quý nhân (秀貴人)
Tú Thường tại (秀常在)
(giáng vị)
Lâm Quý nhân ((琳貴人)
(phục vị)
Lâm tần (琳嫔)
Lâm phi (琳妃)
Lâm Quý phi (琳贵妃)
Hoàng khảo Lâm Quý thái phi (皇考琳貴太妃)
Hoàng tổ Lâm Hoàng quý thái phi (皇祖琳皇貴太妃)
Thân phụÔ Nhã Linh Thọ
Thân mẫuÔng thị

Trang Thuận Hoàng quý phi (chữ Hán: 庄顺皇贵妃; 29 tháng 11 năm 1822 - 13 tháng 12 năm 1866), Ô Nhã thị (烏雅氏), Mãn Châu Chính Hoàng kỳ, là một phi tần của Thanh Tuyên Tông Đạo Quang Đế.

Thông qua con trai Thuần Hiền Thân vương Dịch Hoàn, thì cháu nội của bà chính là Thanh Đức Tông Quang Tự Đế, và chắt nội của bà là Tuyên Thống Đế Phổ Nghi.

Thân thế

Trang Thuận Hoàng quý phi sinh vào giờ Dần, ngày 16 tháng 10 (âm lịch) năm Đạo Quang thứ 2 (1822), thuộc gia tộc Ô Nhã thị (烏雅氏) của Mãn Châu Chính Hoàng kỳ. Gia tộc của bà, thuộc hệ Ba Bái của Ô Nhã thị, xét thứ hệ là cùng tộc với Hiếu Cung Nhân Hoàng hậuThanh Nhân Tông Ân tần. Tuy nhiên, một chi huyết thống của Trang Thuận so với Hiếu Cung Nhân Hoàng hậu tương đối xa, từ thời Khang Hi Đế đã chia ra 5 hệ. Từ bối phận mà nói, Hiếu Cung Nhân Hoàng hậu là cao tổ phụ tộc cô mẫu, so với Trang Thuận Hoàng quý phi là khoảng 5 đời. Bên cạnh đó, Ân tần thuộc chi hệ gần, cha của Ân tần là anh trưởng của tằng tổ phụ của Trang Thuận Hoàng quý phi, do vậy Ân tần là tổ phụ đường tỷ, cũng chính là quan hệ đường cô tổ mẫu.

Cao tổ phụ chi hệ của Trang Thuận Hoàng quý phi, cũng chính là tổ phụ của Ân tần, tức Quan Bảo (官保). Quan Bảo, tự Dụng Dân (用民), hào Sư Tuyền (师泉), lấy Bút thiếp thức nhập sĩ, nhiều lần đảm nhiệm Chủ sự, Lang trung, Tri phủ, Phó Đô thống, sau thăng nhiệm Hình bộ Thị lang, Đô thống, Lại bộ Thượng thư, Hiệp bạn Đại học sĩ, năm 80 tuổi về hưu, thụy Văn Cần (文勤). Càn Long Đế từng ban "Tam ban cửu lão yến"Hương Sơn, cái gọi Tam ban cửu lão, tức Văn ban - Võ ban - Về hưu chi ban, trong đó Quan Bảo liền ở trong Văn ban cửu lão.

Quan Bảo sinh hai con trai, thứ nhất tên Vạn Ngưng (万凝), tị húy đổi thành Vạn Minh (万明), chính là cha của Nhân Tông Ân tần, sĩ đến Tả Phó Đô ngự sử; con thứ hai là Ngưng Đức (凝德), từ Lam Linh Thị vệ xuất thân, tòng chinh các nơi, lập có chiến công, nhậm vì Cam Túc Ba Lý Khôn Tổng binh, bỏ mình ở cuộc chiến với Bạch Liên giáo, tặng Kỵ đô úy (骑都尉). Con của Ngưng Đức là Tam Đa (三多) kế thừa tập tước Kỵ đô úy, con thứ Bách Lộc (百禄) làm đến Thông phán, một tiểu quan, sinh ra bốn con trai, con thứ 3 tên Linh Thọ (灵寿), làm Bút thiếp thức (chức quan dịch và ghi chép tài liệu), chính là cha sinh của Trang Thuận Hoàng quý phi.

Vợ cả của Linh Thọ là Ngạc Tế Đặc thị (鄂济特氏), không thể sinh con, còn tiểu thiếp Ông thị (翁氏) sinh liền 1 trai 1 gái, nhi tử là Hi Lâm (禧霖), còn con gái chính là Trang Thuận Hoàng quý phi. Nhưng khi Hi Lâm sinh ra, đã đem làm kế tự cho ông bác là Tam Đa, bởi vì ở tông pháp luật lệ, chi hệ của Tam Đa là môn trưởng, lại tập tước đại tông, yêu cầu nam tính hậu duệ tới kế thừa tông pháp thân phận, nhưng Hi Lâm sau khi bị đem đi cũng yểu mệnh mà chết. Sau khi Hi Lâm chết, đại tộc môn tuyệt tự, mà cả chi của Linh Thọ cũng tuyệt tôn, phải lấy con của Khánh Thần (庆辰), em thứ 7 của Bách Lộc làm con thừa tự.

Có thể thấy, một chi Trang Thuận Hoàng quý phi phía trước tương đối điêu tàn. Gia tộc cũng bắt đầu lụn bại.

Nhập cung làm Phi

Năm Đạo Quang thứ 17 (1837), tháng Giêng, Ô Nhã thị khi đó 16 tuổi tham gia Bát kỳ tuyển tú với thân phận Mãn Châu Chính Hoàng kỳ tú nữ, bà trúng tuyển và được sơ phong làm Tú Quý nhân (秀貴人), bà cách Đạo Quang Đế 40 tuổi. Ngày 10 tháng 2 (âm lịch), bà được cấp cho 4 cung nữ rồi đến ngày 27 tháng 2 bà được chuyển đến Viên Minh Viên cư trú[1]. Ngày 6 tháng 11 (tức ngày 3 tháng 12 dương lịch) cùng năm, bà bị giáng làm Tú Thường tại (秀常在). Năm Đạo Quang thứ 19 (1839), ngày 23 tháng 7 (tức ngày 31 tháng 8 dương lịch), Tú Thường tại được phục phong làm Quý nhân, được cải hiệu làm Lâm Quý nhân (秀貴人)[2], thời gian này bà cư ngụ tại Hàm Phúc cung. Căn cứ theo Hồng xưng thông dụng (鴻稱通用) của Nội vụ phủ, phong hiệu "Lâm" của bà trong Mãn văn là「Gulingge」nghĩa là "Lâm lang" ý chỉ ngọc đẹp.[3]

Năm Đạo Quang thứ 20 (1840), ngày 25 tháng 4 (tức ngày 26 tháng 5 dương lịch), bà khi này đang mang thai, Đạo Quang Đế hoan hỉ ra chỉ dụ tấn phong bà làm Lâm tần (琳嫔)[4]. Ngày 21 tháng 9 (âm lịch) cùng năm, vào giờ , tại Thừa Càn cung, Lâm tần hạ sinh Hoàng thất tử Thuần Hiền Thân vương Dịch Hoàn (phụ thân của Thanh Đức Tông Quang Tự Đế). Ngày 17 tháng 11 (tức ngày 10 tháng 12 dương lịch) cùng năm, Đạo Quang Đế tấn phong bà lên làm Lâm phi (琳妃) theo ý chỉ của Cung Từ Hoàng thái hậu, lược bỏ lễ sắc phong Tần cho bà[5]. Năm Đạo Quang thứ 22 (1842), ngày 13 tháng 2 (âm lịch), vào giờ Tuất, Lâm phi hạ sinh Hoàng cửu nữ, tức Thọ Trang Cố Luân Công chúa[6]. Ngày 18 tháng 5 (tức ngày 26 tháng 6 dương lịch), Đạo Quang Đế mệnh cho Lễ bộ Thượng thư Cung Thủ Chính (龚守正) làm Chính sứ, Nội các Học sĩ Ngọc Minh (玉明) làm Phó sứ, cử hành lễ sắc phong Lâm phi tại Thừa Càn cung cho thấy bà sống ở đây trong thời gian này.[7]

Năm Đạo Quang thứ 24 (1844), ngày 6 tháng 1 (âm lịch), vào giờ Dần, Lâm phi hạ sinh Hoàng bát tử Chung Đoan Quận vương Dịch Hỗ. Ngày 16 tháng 10 (âm lịch) ngay vào năm sau (1845), Lâm phi hạ sinh Hoàng cửu tử Phu Kính Quận vương Dịch Huệ vào giờ Dần. Ngày 20 tháng 12 cùng năm (tức ngày 17 tháng 1 năm 1846 dưong lịch), Đạo Quang Đế chiếu tấn bà làm Lâm Quý phi (琳貴妃). Ngày 9 tháng 12 (tức ngày 25 tháng 1 năm 1847 dương lịch), Đạo Quang Đế mệnh Hiệp bạn Đại học sĩ Lại bộ thượng thư Trần Quan Tuấn (陈官俊) làm Chính sứ, Lễ bộ Tả Thị lang Liền Quý (连贵) làm Phó sứ, cử hành lễ sắc phong Lâm Quý phi, cùng đợt còn hành lễ sắc phong phi tần của Gia Khánh Đế là Như Hoàng quý phiThành tần.

Sách văn viết:

Theo Thanh cung y án (清宮醫案), vào tháng 2 và tháng 6 năm Đạo Quang thứ 27 (1847), Lâm Quý phi hai lầm mắc chứng xuân ôn và thử ôn. Ngày 8 tháng 9 năm Đạo Quang thứ 28 (tức ngày 4 tháng 10 năm 1848 dương lịch), Lâm Quý phi Ô Nhã thị theo ghi chép của Thanh cung y án đã bị sảy thai, tuy nhiên nhìn chung sức khỏe vẫn khá tốt.

Năm Đạo Quang thứ 30 (1850), ngày 21 tháng 1 (tức ngày 11 tháng 3 dương lịch) Đạo Quang Đế qua đời, con trai thứ tư của ông là Thanh Văn Tông Hàm Phong Đế nối ngôi, dâng hiệu cho bà là Hoàng khảo Lâm Quý thái phi (皇考琳貴太妃), cư Thọ Tây cung (寿西宫).[8] Năm Hàm Phong thứ 11 (1861), Thanh Mục Tông Đồng Trị Đế nối ngôi, sang ngày 10 tháng 10 (âm lịch) thì ra chỉ tấn tôn bà làm Hoàng Tổ Lâm Hoàng quý thái phi (皇祖琳皇貴太妃), cư Thọ An cung (寿安宫).[9]

Năm Đồng Trị thứ 5 (1866), ngày 7 tháng 11 (âm lịch), Lâm Hoàng quý thái phi qua đời, hưởng thọ 45 tuổi. Hoàng đế mệnh các Vương công Đại thần mặc tang phục 1 ngày để tang, thụy hiệuTrang Thuận Hoàng quý phi (莊順皇貴妃). Căn cứ theo tài liệu của Nội vụ phủ có tên Hồng xương thông dụng (鴻稱通用), thụy hiệu "Trang Thuận" có Mãn văn là 「Tob ijishūn」, có nghĩa là "Trang chính thục thuận". Năm Đồng Trị thứ 6 (1867), ngày 15 tháng 10, bà được táng tại Mộ Đông lăng (慕东陵), Thanh Tây lăng.

Về sau, cháu trai của bà là Thanh Đức Tông ra chỉ: "Trang Thuận Hoàng quý phi mẫu gia ba đời, duẫn nghi đặc kỳ tôn sùng, lấy quang buổi lễ long trọng". Do vậy, Hoàng đế ra chỉ dụ truy phong 3 đời Ô Nhã thị làm Nhất phẩm, lại cho Kỵ đô úy ân phong thế tập.

Hậu duệ

  • Hoàng thất tử Dịch Hoàn [奕譞; 16 tháng 10, 1840 - 1 tháng 1, 1891], cha đẻ của Thanh Đức Tông Quang Tự Hoàng đế. Thụy là Thuần Hiền Thân vương (醇贤亲王).
  • Thọ Trang Cố Luân Công chúa [壽莊固倫公主; 13 tháng 2, 1842 - 14 tháng 2, 1884], hạ giá lấy Đức Huy (德徽) của dòng họ Bác La Trì, con trai của Dụ Hằng (裕恒), thế tập Thành Dũng công (诚勇公).
  • Hoàng bát tử Dịch Hỗ [奕詥; 14 tháng 3 năm 1844 - 17 tháng 12 năm 1868]. Thuỵ là Chung Đoan Quận vương (鍾端郡王).
  • Hoàng cửu tử Dịch Huệ [奕譓; 15 tháng 11 năm 1845 - 22 tháng 3 năm 1877]. Thuỵ là Phu Kính Quận vương (孚敬郡王).

Trong văn hóa đại chúng

Năm Phim ảnh Diễn viên Nhân vật
2005 Nhất liêm u mộng
Tiêu Quý Phi
2011 Vạn Phụng Chi Vương Trần Sảng
Ô Nhã Thiện Lâm

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ 道光十七年(1837年),年十六岁,选秀入宫,为秀贵人。二月初十日(1837.3.16),秀贵人下进女子四名,二月二十七日,秀贵人被送往圆明园居住。 道光十七年十一月初六日(1837.12.3),秀贵人降为秀常在。
  2. ^ 道光十九年七月二十三日(1839.8.31),秀常在乌雅氏复晋为琳贵人
  3. ^ 庄顺皇贵妃原本的封号“琳”满文作“gulingge”,意为“琳琅”
  4. ^ 道光二十年四月二十五日(1840.5.26),因怀孕而诏封为琳嫔。九月二十一日(1840.10.16)子时,生皇七子醇贤亲王奕譞。
  5. ^ 同年十一月十七日(1840.12.10),奉朱谕,奉皇太后懿旨:“琳嫔著晋封为琳妃。应行事宜该衙门按例办理。其嫔分册封之礼著毋庸举行。”
  6. ^ 道光二十二年二月十三日(1842.3.24)戌时,生皇九女寿庄公主,
  7. ^ 同年五月初三日,以礼部尚书龚守正为正使,内阁学士玉明为副使,册封为琳妃。
  8. ^ 咸丰帝尊封道光帝琳贵妃为琳贵太妃册文:册文曰。坤仪翊化。徽音夙播于椒庭。巽命扬庥。宝篆聿辉乎芝检。式稽彝典。敬奉鸿称。皇考琳贵妃。昭德珩璜。禔躬绳矩。位崇九御。佐袆衣而禀职无愆。誉蔼六宫。标彤管而秉心有恪。载惟懿美。宜晋荣褒。谨以册宝尊封为皇考琳贵太妃。于戏。琅函焕采。紫闱之景福弥彰。珠树翔华。朱邸之春晖益永。谨言。
  9. ^ 同治帝尊封道光帝诸妃册文:○又谕、皇祖宣宗成皇帝嫔御。前经皇考大行皇帝加崇位号。兹朕御极之初。宜晋隆称。以申敬礼。琳贵太妃诞育醇郡王、钟郡王、孚郡王、寿禧和硕公主。谨尊封为琳皇贵太妃。彤嫔诞育寿庄和硕公主。尊封为彤妃。佳嫔尊封为佳妃。成嫔尊封为成妃。顺贵人尊封为顺嫔。蔡常在尊封为蔡贵人