Đế quốc Nanda

(Đổi hướng từ Triều đại Nanda)

Đế quốc Nanda là một đế quốc rộng lớn cai trị vùng Magadhađồng bằng sông Hằng với phạm vi địa lý khổng lồ ở đông bắc Ấn Độ vào thế kỷ thứ 4 TCN; một số ghi chép còn cho rằng đế quốc này đã tồn tại từ tận thế kỷ thứ 5 TCN. Nhà Nanda đã xây dựng dựa trên những thành công của các triều đại tiền nhiệm là Haryanka và Shaishunaga, đồng thời thiết lập một nền hành chính tập trung hơn. Các nguồn tư liệu cổ đại ghi nhận họ đã tích lũy được khối tài sản to lớn, điều này có lẽ là kết quả của việc giới thiệu một hệ thống tiền tệ và thuế khóa mới.

Vương triều Nanda
k. 345 BCE[a]k. 322 BCE[1]
Đồng xu của Đế chế Nanda Vương triều Nanda
Đồng xu của Đế chế Nanda
Phạm vi lãnh thổ của Đế chế Nanda dưới thời vị vua cuối cùng Dhana Nanda (k. 325 BCE).[2]
Phạm vi lãnh thổ của Đế chế Nanda dưới thời vị vua cuối cùng Dhana Nanda (k. 325 BCE).[2]
Tổng quan
Vị thếĐế chế
Thủ đôPataliputra
Tôn giáo
Kỳ Na giáo[3]
Ajivikism[3]
Phật giáo[4]
Đạo Bà La Môn[5]
Chính trị
Chính phủQuân chủ
Vua 
• k. 345 – k. 340 BCE
Mahapadma (first)
• k. 329 – k. 322 BCE
Dhana (last)
Lịch sử 
• Thành lập
k. 345 BCE[a]
• Giải thể
k. 322 BCE[1]
Tiền thân
Kế tục
Vương triều Shaishunaga
Mithila
Panchala
Surasena
Vatsa
Vương quốc Kuru
Haihaya
Vương quốc Vâng
Asmaka
Đế chế Maurya
Hiện nay là một phần củaBangladesh
Ấn Độ
Nepal

Các văn bản cổ cũng cho thấy rằng triều đại Nanda không được lòng thần dân vì xuất thân thấp kém, thuế má nặng nề và những hành vi sai trái nói chung. Vị vua cuối cùng của triều đại Nanda , Dhana Nanda, đã bị Chandragupta Maurya, người sáng lập Đế chế Maurya, lật đổ.

Các nhà sử học hiện đại thường xác định người cai trị Gangaridai và Prasii được nhắc đến trong các tài liệu Hy Lạp-La Mã cổ đại là một vị vua Nanda. Khi mô tả cuộc xâm lược Punjab của Alexander Đại đế (327–325 TCN), các nhà văn Hy Lạp-La Mã thường miêu tả vương quốc này là một cường quốc quân sự vô cùng hùng mạnh. Đối mặt với viễn cảnh phải tiến hành chiến tranh chống lại vương quốc này, mà theo các nguồn Hy Lạp có quân đội gấp năm lần quân đội Macedonia, cùng với sự kiệt sức sau gần một thập kỷ chinh phạt, đã dẫn đến một cuộc nổi loạn trong số những binh lính nhớ nhà của Alexander, qua đó chấm dứt chiến dịch chinh phạt Ấn Độ của ông.

Các truyền thống Phật giáo, Jain giáo và Puranic đều khẳng định rằng có 9 vị vua Nanda, tuy nhiên các nguồn tư liệu này lại khác biệt đáng kể về tên gọi của các vị vua đó. [1]

Theo văn bản Phật giáo Sri Lanka Mahavamsa, được viết bằng tiếng Pali, có 9 vị vua Nanda – họ là anh em ruột, trị vì kế vị nhau trong tổng cộng 22 năm. [1] Chín vị vua này là: [6] [1]

  1. Ugra-sena (Uggasena trong tiếng Pali)
  2. Panduka
  3. Pandugati
  4. Bhuta-pala
  5. Rashtra-pala
  6. Govishanaka
  7. Dasha-siddhaka
  8. Kaivarta
  9. Dhana

Phạm vi đế quốc

 
Ước tính về sự phát triển lãnh thổ của các đế chế Magadha, bao gồm cả trong thời kỳ cai trị của những người tiền nhiệm và kế nhiệm của Nanda

Kinh đô của nhà Nanda được đặt tại Pataliputra (gần Patna ngày nay) thuộc vùng Magadha ở miền đông Ấn Độ. Điều này được xác nhận bởi các truyền thống Phật giáo và Jain giáo (Kỳ-na giáo), cũng như vở kịch tiếng Phạn Mudrarakshasa.

Các văn bản Purana cũng liên kết nhà Nanda với triều đại Shaishunaga, triều đại từng cai trị vùng Magadha. Các ghi chép của Hy Lạp cho biết Agrammes (được xác định là một vị vua Nanda) là người cai trị của Gangaridai (thung lũng sông Hằng) và Prasii (có thể là phiên âm của từ prachyas trong tiếng Phạn, nghĩa đen là "người phương Đông").

Theo tác giả Megasthenes sống vào thời kỳ sau đó (khoảng năm 300 TCN), Pataliputra (tiếng Hy Lạp: Palibothra) nằm trong xứ sở của người Prasii, điều này càng khẳng định thêm rằng Pataliputra chính là kinh đô của nhà Nanda.

Đế chế Nanda dường như trải dài từ Punjab ngày nay ở phía tây đến Odisha ở phía đông. [3] Phân tích nhiều nguồn lịch sử khác nhau – bao gồm các tài liệu Hy Lạp cổ đại, Puranas và bia khắc Hathigumpha – cho thấy rằng người Nanda kiểm soát miền đông Ấn Độ, thung lũng sông Hằng và ít nhất một phần của Kalinga . [7] Cũng rất có thể họ kiểm soát vùng Avanti ở Trung Ấn, điều này đã giúp người kế nhiệm của họ là Chandragupta Maurya chinh phục Gujarat ngày nay ở miền tây Ấn Độ. [8]

Sức mạnh quân sự

Alexander Đại đế đã xâm lược tây bắc Ấn Độ vào thời Agrammes hoặc Xandrames, [1] người mà các nhà sử học hiện đại thường xác định chính là vị vua Nanda cuối cùng – Dhana Nanda . [9] Vào mùa hè năm 326 TCN, quân đội của Alexander đã đến sông Beas (tiếng Hy Lạp: Hyphasis), phía bên kia là lãnh thổ Nanda. [10]

Các nguồn Hy Lạp cho thấy quân đội Nanda có quy mô gấp năm lần quân đội Macedonia.[11] Theo Curtius, Alexander biết được rằng Agrammes có 200.000 bộ binh; 20.000 kỵ binh; 3.000 voi ; và 2.000 xe ngựa bốn bánh. [1] [6] Diodorus đưa ra con số voi là 4.000. [12] Plutarch đã phóng đại đáng kể những con số này, ngoại trừ con số của bộ binh: [13] theo ông, lực lượng Nanda bao gồm 200.000 bộ binh; 80.000 kỵ binh; 6.000 voi; và 8.000 xe ngựa. [14] Có thể những con số được báo cáo cho Alexander đã bị phóng đại bởi người dân Ấn Độ địa phương, những người có động cơ rõ ràng để đánh lừa quân xâm lược. [10]

Quân đội Nanda không có cơ hội đối đầu với Alexander, binh lính của vị Hoàng đế Hy Lạp này đã nổi loạn tại sông Beas, họ từ chối tiến xa hơn về phía đông. Binh lính của Alexander lần đầu tiên bắt đầu nổi dậy đòi trở về quê hương của họ tại Hecatompylos vào năm 330 TCN, và sự kháng cự quyết liệt mà họ gặp phải ở tây bắc Ấn Độ trong những năm tiếp theo đã làm suy yếu tinh thần của họ. Họ nổi loạn khi đối mặt với viễn cảnh phải đối đầu với quân đội Nanda, buộc Alexander phải rút khỏi Ấn Độ. [15]

Các tác giả Hy Lạp cũng đề cập đến việc người Gangaridae và Prasioi sở hữu truyền thống quân sự tinh nhuệ; điều này cho thấy vào thời điểm Alexander Đại đế xâm lược Ấn Độ cuối thế kỷ thứ 4 TCN, đất nước này đang nằm dưới sự cai trị của hai phe phái. Hai phe phái này có thể đã tạo thành một liên minh, hoặc một phe đã lấn át phe còn lại.

Vị vua được Diodorus nhắc đến với tên gọi Xandrames hoặc Agrammes được cho là một vị vua nhà Nanda; điều này gợi ý rằng nhà Nanda đã kiểm soát vùng đất rộng lớn ở phía đông này, bao gồm cả lãnh thổ của người Gangaridae. [16]

Tài liệu tham khảo

  1. ^ a b c d e f Irfan Habib & Vivekanand Jha 2004, tr. 13.
  2. ^ Schwartzberg, Joseph E. (1978). A Historical atlas of South Asia. Chicago: University of Chicago Press. tr. 145, map XIV.1 (a). ISBN 0226742210. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2021.
  3. ^ a b c Bronkhorst 2011, tr. 12.
  4. ^ Sujato & Brahmali 2014, tr. 22-23.
  5. ^ Bronkhorst 2011, tr. 30-31.
  6. ^ a b Singh 2008, tr. 273.
  7. ^ H. C. Raychaudhuri 1988, tr. 17–20.
  8. ^ H. C. Raychaudhuri 1988, tr. 19–20.
  9. ^ Dilip Kumar Ganguly 1984, tr. 36.
  10. ^ a b Ian Worthington 2014, tr. 252.
  11. ^ Mookerji, Radhakumud.
  12. ^ H. C. Raychaudhuri 1988, tr. 15.
  13. ^ Irfan Habib & Vivekanand Jha 2004, tr. 14.
  14. ^ H. C. Raychaudhuri 1988, tr. 16.
  15. ^ Ian Worthington 2014, tr. 251–253.
  16. ^ Mackenzie 2016, tr. 1–4.

Nguồn 


Lỗi chú thích: Tồn tại thẻ <ref> cho nhóm chú thích với tên "lower-alpha", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="lower-alpha"/> tương ứng