Triệu Dữ Nhuế
Triệu Dữ Nhuế (chữ Hán: 趙與芮, 21 tháng 9, 1208 - 30 tháng 3, 1287), tự Trọng Hanh (仲亨), là một tông thất nhà Tống trong lịch sử Trung Quốc.
| Triệu Dữ Nhuế 仲亨 | |
|---|---|
| Thông tin chung | |
| Sinh | 21 tháng 9, 1208 |
| Mất | 30 tháng 3, 1287 Đại Đô |
| Phối ngẫu | xem văn bản |
| Hậu duệ | Tống Độ Tông |
| Hoàng tộc | nhà Minh |
| Thân phụ | Triệu Hy Lỗ |
| Thân mẫu | Từ Hiến phu nhân Toàn thị |
Ông là em trai của Tống Lý Tông, là thân phụ của Tống Độ Tông và tổ phụ của ba vị Hoàng đế nhà Tống cuối cùng: Tống Cung Đế, Tống Đoan Tông và Tống Thiếu Đế.
Tiểu sử
Xuất thân
Triệu Dữ Nhuế chào đời ngày 21 tháng 9 năm Gia Định nguyên niên (1208) dưới thời vua Tống Ninh Tông tại phủ Thiệu Hưng[1], là hậu duệ đời thứ mười của Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dận thông qua con trai ông, Yên Ý vương Triệu Đức Chiêu. Triệu Đức Chiêu sinh con là Ký vương Triệu Duy Cát (趙惟吉), Duy Cát sinh Lư Giang hầu Triệu Thủ Độ (趙守度), Thủ Độ sinh Gia Quốc công Triệu Thế Quát (趙世括), Thế Quát sinh Phòng Quốc công Triệu Lệnh Giá (趙令稼), Lệnh Giá sinh Ngô Quốc công Triệu Tử Thích (赵子奭), Tử Thích sinh Ích Quốc công Triệu Bá Ngộ (赵伯旿), Bá Ngộ sinh Triệu Quốc công Triệu Sư Ý (赵师意), Sư Ý sinh ra Triệu Hy Lư (趙與莒) chính là thân phụ của ông. Do tước vị đã trải dài qua rất nhiều thế hệ nên đời cha ông không còn được thừa tập tước vị, Hy Lư chỉ làm chức quan nhỏ Huyện lệnh ở Thiệu Hưng, đời sống không khác gì thường dân. Cha ông mất rất sớm, mãi về sau khi Tống Lý Tông đăng cơ mới truy phong cha ruột làm Vinh vương (榮王), thụy là Văn Cung (文恭), lệnh cải táng tại quê nhà.
Triệu Hy Lư mất rất sớm, ông và anh trai phải cùng mẹ là Toàn thị (全氏) đến nhà ngoại ở huyện Sơn Âm (nay là Ninh Ba, Chiết Giang), nương nhờ cậu ruột đương giữ chức Bảo trưởng trong cảnh bần hàn suốt chín năm trời. Trong một trận mưa lớn, một mưu sĩ là Dư Thiên Tích (余天錫) đã vào nhà anh trai bà trú mưa và tình cờ gặp gỡ hai anh em họ Triệu. Thấy họ lễ phép, tướng mạo phi phàm lại là con cháu tông thất, Dư Thiên Tích đã tiến cử với Thừa tướng Sử Di Viễn. Từ đó, anh trai ông được đưa vào cung, sau này trở thành Tống Lý Tông.
Hành trạng
Tống Lý Tông đăng cơ, Triệu Dữ Nhuế được phong làm Vinh vương (榮王), về sau tiến phong Phúc vương (福王). Vì thuở nhỏ khốn khó cạnh nhau nên sau khi hai anh em cực kỳ gắn bó, về sau do các con trai của Lý Tông đều chết yểu nên đã nhận con trai của Dữ Nhuệ là Triệu Kỳ (趙禥) làm dưỡng tử, sau đó lập làm Thái tử (tức Tống Độ Tông sau này).
Năm Đức Hựu thứ 2 (1276), Lâm An thất thủ, ông cùng gia quyến còn lại bị nhà Nguyên đưa về Đại Đô. Với thân phận là trưởng bối lớn nhất còn lại trong tông thất, ông chủ động hiến dâng tài sản cho triều Nguyên, nhờ vậy mà tông thất nhà Tống được đối xử tương đối tử tế, tránh lặp lại tình cảnh biến cố Tĩnh Khang khi xưa[2]. Hốt Tất Liệt cảm niệm ông là trưởng bối tiền triều, ra chiếu phong ông làm Kim tử quang lộc đại phu, Kiểm giáo đại tư nông, tước Bình Nguyên quận công (平原郡公)[3].
Năm Chí Nguyên thứ 24 (1287) dưới thời Hốt Tất Liệt, Triệu Dữ Nhuế qua đời, hưởng thọ 80 tuổi. Tước vị Bình Nguyên quận công do thứ tử Triệu Mạnh Quế kế thừa.
Gia quyến
Cha mẹ
- Thân phụ: Vinh Văn Cung vương Triệu Hy Lư (趙希瓐)
- Thân mẫu: Toàn thị (全氏), người huyện Sơn Âm, tôn vị Vinh vương Phu nhân (榮王夫人). Cháu gái của bà là Toàn Hoàng hậu của Tống Độ Tông.
Anh em
- Tống Lý Tông
- Trưởng nữ, được phong Quận chúa, gả cho Ngụy Tuấn (魏峻).
- Nhị nữ, gả cho Tiền Văn Khê (冼文溪).
- Ngũ nữ, gả cho Lương Tiết (梁節).
Thê thiếp
- Nguyên phối: Lý thị (李氏), người Hồ Châu, chắt gái Tham tri chính sự Lý Ngạn Dĩnh (李彦颖), con gái Lý Nhân Bản (李仁本). Kết hôn chưa được ba năm thì qua đời, tặng Quận phu nhân. Em gái của bà kết hôn với em họ chồng là Triệu Dữ Ngân (趙與訔), là đích mẫu của danh họa Triệu Mạnh Phủ.
- Kế phối: Tiền thị (錢氏), phong An Khang Quận phu nhân (安康郡夫人).
- Thiếp: Hoàng Định Hỷ (黃定喜), vốn là dắng thiếp bồi giá của Lý thị, trở thành thiếp của Triệu Dữ Nhuế sau khi Lý thị qua đời, sinh Tống Độ Tông. Độ Tông đăng cơ, tôn vị Long Quốc Dục Thánh Phu nhân (隆國育聖夫人)[4], là người đức hạnh khiêm nhường, thân thiểt với gia quyến Giả Tự Đạo. Về sau, bà cùng Triệu Dữ Nhuế đều bị đưa về phương bắc.
Con cái
- Triệu Kỳ, tức Tống Độ Tông, mẹ là Hoàng Định Hỷ.
- Triệu Mạnh Quế (趙孟桂), mẹ là Tiền thị, kế thừa tước Bình Nguyên Quận công (平原郡公).
- Trưởng nữ, phong Tín An công chúa (信安公主), lấy tiến sĩ Phương Đạo Thịnh (方道盛).
- Nhị nữ, lấy Uông Duy Sùng (汪維崇).
Chú thích
- ^ Tống sử, quyển 41
- ^ 《宋季三朝政要·卷五》乙夘.北使請三宫北遷.丁巳.宋少帝.全太后出宫.太皇太后以疾留大内.隆國夫人黄氏.朱美人.王夫人以下百餘人從行.福王與芮.參政謝堂.高應枀.駙馬都尉楊鎮.臺諫阮登炳.鄒珙.陳秀伯.知臨安府翁仲徳等以下數千人.大學宗學生數百人皆在遣中.二宫過真州.苗再成奪駕.幾奪去.閏三月二十四日至燕京.吳堅等出迎.居㑹同館.四月乙丑朔.吳堅等先赴上都.十五.三宫赴上都.丁巳.沂王薨.五月丙申.見大元皇帝於行宫焉.太皇太后卧病.主者自宫中舁其牀以出衛者七十人從行.八月乃行.降封為壽春郡夫人.至燕七年而崩.全皇后為尼於正智寺.
- ^ Nguyên sử: 十五年春正月……戊申,从阿合马请,自今御史台非白于省,毋擅召仓库吏,亦毋究钱谷数,及集议中书不至者罪之。授宋福王赵与芮金紫光禄大夫、检校大司农、平原郡公。
- ^ 周密《癸辛雜識》續集下“紹陵初誕”條:“紹陵之在孕也,以其母賤,遂服墮胎之藥,既而生子手足皆軟弱,至七歲始能言。黃氏德清人,乃李夫人從嫁,名定喜,後封隆國育聖夫人。”