Trinh Quán chính yếu
Trinh Quán chính yếu (chữ Hán: 貞観政要) là tài liệu lịch sử mang tính chính luận do sử gia thời Đường Ngô Căng biên soạn. Tác phẩm gồm 10 quyển, chia thành 40 thiên. Trong Tứ khố toàn thư, nó được xếp vào mục Sử bộ, loại Tạp sử. Tiêu đề sách được giải thích như sau: Trinh Quán là niên hiệu tại vị của Đường Thái Tông còn Chính yếu mang nghĩa là "những nguyên tắc trọng yếu trong trị quốc".
Tổng quan
Cuốn Trinh Quán chính yếu được biên soạn theo hình thức vấn đáp giữa vua tôi, phân loại và ghi chép các cuộc chính luận giữa Đường Thái Tông trong niên hiệu Trinh Quán với 45 vị đại thần như: Ngụy Trưng, Vương Khuê, Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối, Ngu Thế Nam, Chử Toại Lương, Ôn Ngạn Bác, Lưu Kị, Mã Chu, Đới Trụ, Khổng Dĩnh Đạt, Sầm Văn Bản, Diêu Tư Liêm, v.v..., nhằm giúp hậu thế tham khảo kinh nghiệm của tiền nhân, “lấy xưa soi nay”, chọn điều thiện mà theo. Có lẽ vì cùng là gián thần như tác giả Ngô Căng, nên Ngụy Trưng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sách. Sau khi hoàn thành, Ngô Căng từng dâng tác phẩm này lên Đường Huyền Tông, nhưng không những không được khen thưởng mà còn bị giáng chức nữa. Kể từ đó, tác phẩm này bắt đầu được phổ biến rộng rãi trong dân gian.
Trinh Quán chính yếu từng là tài liệu gối đầu giường của tầng lớp trí thức. Những hoàng đế của các triều đại Trung Quốc sau này như Đường Hiến Tông, Đường Văn Tông, Đường Tuyên Tông; Tống Nhân Tông; Liêu Hưng Tông; Kim Thế Tông; Hốt Tất Liệt; Vạn Lịch Đế; Càn Long Đế đều đặc biệt yêu thích và tìm đọc. Bên cạnh đó, các bản chép tay cổ cũng được truyền sang Nhật Bản từ thời Heian. Tác phẩm này luôn được những người nắm giữ trọng trách chính trị Nhật Bản các đời Mạc phủ như gia tộc Hōjō, Ashikaga và Tokugawa trân trọng và nghiên cứu qua nhiều thế hệ.[1][2]
Phiên bản
Về lịch sử truyền bá, tồn tại hai loại bản thảo gồm một bản được dâng lên thời Đường Trung Tông và một bản được chỉnh lý lại thời Đường Huyền Tông, hai bản này có sự khác biệt ở quyển 4. Hiện tại, các bản in được lưu truyền rộng rãi thuộc hai hệ thống chính: thứ nhất là "Cát Trực bản", được Cát Trực đời Nguyên sắp xếp lại kèm theo lời bình của Âu Dương Tu và Tư Mã Quang, lưu hành rộng rãi từ thời Minh; thứ hai là "Cựu bản", được cho là truyền sang Nhật Bản từ thời Đường. Tác phẩm này đã tạo ra ảnh hưởng to lớn đến các dân tộc xung quanh như Triều Tiên, Nữ Chân, Tây Hạ đồng thời là cẩm nang trị quốc kinh điển trong khu vực Đông Á lúc bấy giờ.
Mục lục
- Quyển 1
- Đạo làm vua ( thiên 1)
- Chính thể (thiên 2)
- Quyển 2
- Bổ nhiệm người hiền (thiên 3)
- Yêu cầu can gián (thiên 4)
- Tiếp thu lời can gián (thiên 5)
- Thẳng thắn khuyên can (kèm theo)
- Quyển 3
- Quần thần làm gương (thiên 6)
- Chọn quan (thiên 7)
- Phong kiến (thiên 8)
- Quyển 4
- Định phận Thái tử và chư vương (thiên 9)
- Tôn kính thầy (thiên 10)
- Dạy dỗ Thái tử và chư vương (thiên 11)
- Khuyên can Thái tử (thiên 12)
- Quyển 5
- Nhân nghĩa (thiên 13)
- Trung nghĩa (thiên 14)
- Hiếu hữu (thiên 15)
- Công bằng (thiên 16)
- Thành tín (thiên 17)
- Quyển 6
- Kiệm ước (thiên 18)
- Khiêm nhường (thiên 19)
- Nhân ái và trắc ẩn (thiên 20)
- Thận trọng với sở thích (thiên 21)
- Thận trọng với lời nói (thiên 22)
- Chống lại sàm tà (thiên 23)
- Hối lỗi (thiên 24)
- Xa xỉ phóng túng (thiên 25)
- Tham lam (thiên 26)
- Quyển 7
- Tôn sùng Nho học (thiên 27)
- Văn sử (thiên 28)
- Lễ nhạc (thiên 29)
- Quyển 8
- Làm nông (thiên 30)
- Hình pháp (thiên 31)
- Sắc lệnh (thiên 32)
- Cống nạp (thiên 33)
- Luận về hưng vong (thiên 34)
- Quyển 9
- Chinh phạt (thiên 35)
- Yên định biên cương (thiên 36)
- Quyển 10
- Tuần hành (thiên 37)
- Đi săn (thiên 38)
- Tai họa và tốt lành (thiên 39)
- Thận trọng đến cùng (thiên 40)
Tham khảo
- ^ Harada Tanenari, 原田種成 (1992). 漢文のすゝめ [Khuyến đọc Hán văn]. Shincho Sensho (bằng tiếng Nhật). Shinchosha. tr. 192-200. ISBN 4-10-600428-3.
- ^ Takeuchi Minoru, 竹内実 (1982). 中国の古典名著 総解説 [Giải thích tổng quát các danh tác cổ điển Trung Quốc] (bằng tiếng Nhật) . Jiyu Kokuminsha. tr. 47-52.