Bước tới nội dung

Truy hồi thông tin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Sidebar/configuration' not found. Truy hồi thông tin (hay còn gọi là truy vấn thông tin, truy xuất thông tin) là hoạt động thu thập các nguồn thông tin liên quan đến một thông tin cần tìm kiếm trong lĩnh vực khoa học máy tính và khoa học thông tin. Truy hồi thông tin có thể dựa trên siêu dữ liệu (metadata) và trên việc đánh chỉ mục toàn văn (hoặc dựa trên nội dung khác). Quá trình này bao gồm việc tìm kiếm thông tin trong tài liệu, tìm kiếm chính tài liệu đó, cũng như tìm kiếm siêu dữ liệu mô tả dữ liệu và cơ sở dữ liệu văn bản, hình ảnh hoặc âm thanh.[1]

Những hệ thống truy hồi thông tin tự động được sử dụng để giảm thiểu "quá tải thông tin" và giúp người dùng dễ dàng tiếp cận với sách báo và các tài liệu khác. Nhiều các trường đại họcthư viện công cộng sử dụng hệ thống truy hồi thông tin để cung cấp truy cập đến sách báo và các tài liệu khác. Các máy tìm kiếm trên web được coi là những ứng dụng truy hồi thông tin dễ nhận thấy nhất.

Tổng quan

Quá trình truy hồi thông tin bắt đầu khi người dùng hoặc người tìm kiếm nhập một truy vấn vào hệ thống. Các truy vấn là các câu lệnh chính thức về nhu cầu thông tin, ví dụ như chuỗi tìm kiếm trong các công cụ tìm kiếm trên web. Trong truy hồi thông tin, một truy vấn không xác định duy nhất một đối tượng trong bộ sưu tập. Thay vào đó, nhiều đối tượng có thể khớp với truy vấn, có thể với các mức độ độ liên quan khác nhau.

Một đối tượng là một thực thể được đại diện bởi thông tin trong một bộ sưu tập nội dung hoặc cơ sở dữ liệu. Các truy vấn của người dùng được so khớp với thông tin cơ sở dữ liệu. Tuy nhiên, trái với các truy vấn SQL cổ điển của một cơ sở dữ liệu, trong truy hồi thông tin, kết quả trả về có thể khớp hoặc không khớp với truy vấn, vì vậy kết quả thường được xếp hạng. Việc xếp hạng kết quả này là một điểm khác biệt chính giữa tìm kiếm truy hồi thông tin so với tìm kiếm cơ sở dữ liệu.[2]

Tùy thuộc vào ứng dụng, các đối tượng dữ liệu có thể là, ví dụ, tài liệu văn bản, hình ảnh,[3] âm thanh,[4] sơ đồ tư duy[5] hoặc video. Thường thì các tài liệu không được giữ hoặc lưu trữ trực tiếp trong hệ thống truy hồi thông tin, mà thay vào đó, chúng được đại diện trong hệ thống bằng các đại diện tài liệu hoặc siêu dữ liệu.

Hầu hết các hệ thống truy hồi thông tin tính toán một điểm số số liệu về mức độ mỗi đối tượng trong cơ sở dữ liệu khớp với truy vấn và xếp hạng các đối tượng theo giá trị này. Các đối tượng xếp hạng hàng đầu sau đó được hiển thị cho người dùng. Quá trình này sau đó có thể được lặp lại nếu người dùng muốn điều chỉnh truy vấn.[6]

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  2. ^ Jansen, B. J. và Rieh, S. (2010) The Seventeen Theoretical Constructs of Information Searching and Information Retrieval Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Ngày chuẩn' not found.. Tạp chí của Hiệp hội Khoa học Thông tin và Công nghệ Mỹ. 61(8), 1517-1534.
  3. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  4. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  5. ^ Bản mẫu:Chú thích hội nghị
  6. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).

Liên kết ngoài

Trang Mô đun:Side box/styles.css không có nội dung.Trang Bản mẫu:Dự án liên quan/styles.css không có nội dung.

Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Navbox/configuration' not found.