Bước tới nội dung

Tạ Minh Châu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tạ Minh Châu
Tập tin:Tạ Minh Châu nhà thơ.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ2009 – 2012
Tiền nhiệmNguyễn Huy Quang
Kế nhiệmNguyễn Mạnh Hùng
Vị tríLào
Nhiệm kỳ1998 – 2002
Tiền nhiệmVũ Dương Huân
Kế nhiệmĐinh Xuân Lưu
Vị tríBa Lan
Thông tin cá nhân
Quốc tịch Việt Nam
Sinh(1949-12-13)13 tháng 12, 1949
Phú Thọ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Mất13 tháng 11, 2024(2024-11-13) (74 tuổi)
Hà Nội, Việt Nam
Nghề nghiệpNhà thơ, dịch giả, nhà ngoại giao
Đảng chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam
Học vấnTiến sĩ Khoa học xã hội
Alma materĐại học Warszawa
Quê quánNông Trang, Phú Thọ

Tạ Minh Châu (1949 – 2024) là nhà thơ, dịch giả, nhà ngoại giao người Việt Nam, ông từng là Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam tại Ba LanLào.[1]

Tiểu sử

Tạ Minh Châu sinh ngày 13 tháng 12 năm 1949 trong một một gia đình có giáo dục ngày tại phường Nông Trang, tỉnh Phú Thọ. Ông bắt đầu viết truyện ngắn khi mới là học sinh lớp 6. Năm 1965, tác phẩm đầu tay của ông được đăng trên báo báo Thiếu niên Tiền phong, lên lớp 10 (năm 1967) đã đạt giải A cuộc thi sáng tác thơ của tỉnh do nhà thơ Bút Tre là Trưởng ban Giám khảo.[2]

Tạ Minh Châu và vợ từng là du học sinh tại Ba Lan, cả hai người đều bảo vệ luận án Tiến sĩ tại đây, họ có hai người con trai.[3] Ông qua đời ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại Hà Nội.[1]

Sự nghiệp

Năm 1967, Tạ Minh Châu tham gia thi học sinh giỏi Văn toàn miền bắc nên bỏ lỡ cơ hội góp tác phẩm của mình vào một tập truyện do nhà thơ Định Hải làm chủ biên. Trong cùng năm, ông được cử đi học Ngữ văn tại trường Đại học Warszawa, Ba Lan và tốt nghiệp năm 1973.[4]

Từ năm 1974, Tạ Minh Châu làm việc tại Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, từng làm đến Phó trưởng Ban.[1] Từ năm 1986 đến 1988, ông bắt đầu dịch và đăng tải trên Tuần báo Văn nghệ một số tác phẩm tiêu biểu của các nhà thơ Ba Lan.[2]

Từ năm 1986 đến 1990, Tạ Minh Châu bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ tại Viện Khoa học xã hội Ba Lan.[4][5]

Năm 1994, được khích lệ bởi Phạm Tiến Duật, Tạ Minh Châu đã phát hành tập thơ “Đi ngược hoàng hôn”. Ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1996.[2]

Sau khi nhà thơ Wislawa Szymborska giàn giải Nobel Văn học vào năm 1996, Tạ Minh Châu bắt đầu dịch các tác phẩm của bà. Năm 1997, ông được Nhà nước Ba Lan trao tặng huy chương “Vì sự nghiệp văn hoá Ba Lan”,[1] nhờ giải thưởng này, Wislawa biết đến Tạ Minh Châu và quyết đinh tặng bản quyền tất cả các sáng tác của mình cho nhà xuất bản Hội Nhà văn để ông dịch.[5] Từ năm 1998 đến 2002, ông được bổ nhiệm làm Đại sứ Việt Nam tại Ba Lan. Trong nhiệm kỳ của mình, ông đã góp phần thành lập Hội người Việt tại Ba Lan đoàn kết và hữu nghị.[6][2][7] Tạ Minh Châu giữ vai trò Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Ba Lan.[4]

Từ năm 2009 đến 2012, ông là Đại sứ Việt Nam tại Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào.[1] Sau khi hết nhiệm kỳ, ông giữ vai trò Phó Chủ tịch Trung ương Hội Hữu nghị Việt Nam – Lào.[8]

Khen thưởng[1]

  • Giải A cuộc thi thơ của tỉnh Phú Thọ năm 1967
  • Tặng thưởng của NXB Hội Nhà văn năm 1997
  • Tặng thưởng cuộc thi thơ năm 1998-2000 của báo Văn Nghệ
  • Huân chương Công trạng hạng hai của Ba Lan (1999)
  • Huân chương Công trạng của Ba Lan (2017)[9]
  • Huân chương Lao động hạng nhất của Lào (2012)[10]
  • Huân chương Độc lập hạng ba của Việt Nam (2013)

Tác phẩm[1]

  • Quả dâu rừng (tập truyện dịch, 1986)
  • Thơ Wislawa Szymborska (Nobel Văn chương 1996), NXB Hội Nhà văn, 1997
  • Những đứa trẻ điên rồ (tập truyện dịch, 1987)
  • Tro tàn và kim cương (tiểu thuyết dịch, 1988)
  • Tiếng nấc trái tim (thơ dịch, 1994)
  • Đi ngược hoàng hôn (thơ, 1994)
  • Tuyển thơ Wislawa Szymborska (2014)[11]
  • Phố Descartes Czesław Miłosz – Nobel Văn chương 1980 (tuyển thơ), NXB Hội Nhà văn, 2016
  • Buộc vào (thơ song ngữ Việt – Lào), NXB Hội Nhà văn, 2016
  • Lời neo trong đêm (thơ), NXB Văn học, 2001

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a b c d e f g "Nhà thơ, dịch giả Tạ Minh Châu qua đời". Hội Nhà Văn Việt Nam. ngày 13 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.
  2. ^ a b c d Đặng Huy Giang (ngày 9 tháng 4 năm 2017). "Nhà thơ, dịch giả Tạ Minh Châu: Nghiệp văn đã chọn". Báo Công an Nhân dân điện tử. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.
  3. ^ Nguyệt Hà. "Không có gì mẫu thuẫn giữa con người của ngoại giao và con người của văn chương". Báo Công an Nhân dân điện tử. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.
  4. ^ a b c "Nhà thơ, dịch giả, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Ba Lan Tạ Minh Châu". Quê Việt điện tử. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.
  5. ^ a b Trần Hà (ngày 22 tháng 10 năm 2014). "Nhà ngoại giao đam mê dịch thơ". Báo Quân đội nhân dân. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.
  6. ^ Tạ Minh Châu (ngày 23 tháng 1 năm 2023). "Tết xa nhà". Báo Đại Đoàn Kết. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.
  7. ^ "Người Việt tại Ba Lan: Sức mạnh của đoàn kết và tri thức". Thông tin đối ngoại. ngày 12 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.
  8. ^ MEDIATECH. "Đại hội Đại biểu Hội Hữu nghị Việt – Lào tỉnh Thái Bình lần thứ Nhất". thaibinhtv.vn. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.
  9. ^ ONLINE, TUOI TRE (ngày 28 tháng 11 năm 2017). "Tổng thống Ba Lan trao Huân chương công trạng cho dịch giả Việt". TUOI TRE ONLINE. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.
  10. ^ Quốc Khánh (ngày 28 tháng 11 năm 2012). "Đại sứ Việt Nam tại Lào kết thúc nhiệm kỳ công tác". Báo Tiếng nói Việt Nam. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.
  11. ^ Tuấn Huy (ngày 16 tháng 7 năm 2014). "Ra mắt tuyển thơ của nhà thơ Ba Lan". Báo Quân đội nhân dân. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.

Liên kết ngoài