USS Langley (CVL-27)
| Tập tin:USS Langley (CVL-27) underway off Cape Henry on 6 October 1943 (80-G-87113).jpg Tàu sân bay USS Langley (CVL-27)
| |
| Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS_utilities”.Hoa Kỳ | |
|---|---|
| Đặt tên theo | Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”. |
| Xưởng đóng tàu | Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”. |
| Đặt lườn | Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”. |
| Hạ thủy | Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”. |
| Hoạt động | Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”. |
| Ngừng hoạt động | Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”. |
| Danh hiệu và phong tặng | Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”. |
| Số phận | Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”. |
| Lớp tàu | Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”. |
| Trọng tải choán nước | Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”. |
| Chiều dài | Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”. |
| Sườn ngang | Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”. |
| Mớn nước | Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”. |
| Động cơ đẩy | Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”. |
| Tốc độ | Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”. |
| Tầm xa | Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”. |
| Thủy thủ đoàn | Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”. |
| Vũ khí | Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”. |
| Bọc giáp | Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”. |
| Máy bay mang theo | Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”. |
USS Langley (CVL-27) là một tàu sân bay hạng nhẹ thuộc lớp Independence từng phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ từ năm 1943 đến năm 1947, và trong Hải quân Pháp dưới cái tên La Fayette từ năm 1951 đến năm 1963.
Thiết kế và chế tạo
Langley được chế tạo tại Camden, New Jersey. Nguyên nó được đặt hàng như chiếc tàu tuần dương hạng nhẹ USS Fargo (CL-85), nhưng vào lúc được đặt lườn vào tháng 4 năm 1942, nó được thiết kế lại thành một tàu sân bay, sử dụng động cơ và thân tàu nguyên thủy của chiếc tàu tuần dương. Tên được đặt theo Samuel Pierpont Langley, nhà khoa học và là một người tiên phong trong lĩnh vực hàng không Hoa Kỳ, CVL-27 tiếp nối cái tên và truyền thống của Langley (CV-1), chiếc tàu sân bay đầu tiên của Hải quân Mỹ, đã bị đánh chìm vào ngày 27 tháng 2 năm 1942 tại Đông Ấn thuộc Hà Lan. Langley được đưa ra hoạt động vào tháng 8 năm 1943.
Lịch sử hoạt động
Langley được đưa đến Mặt trận Thái Bình Dương vào cuối năm 1943 và bắt đầu tham gia Thế Chiến II trong chiến dịch quần đảo Marshall trong tháng 1 và tháng 2 năm 1944. Trong bốn tháng tiếp theo sau, máy bay của nó tấn công các căn cứ Nhật Bản tại khu vực Trung Thái Bình Dương và phía Tây New Guinea. Vào tháng 6 năm 1944, chiếc tàu sân bay tham gia các đợt tấn công tại Mariana và trong Trận chiến biển Philippine.
Langley tiếp tục vai trò trong chiến tranh của nó suốt phần còn lại của năm 1944, tham gia chiến dịch Palaus, thực hiện các cuộc không kích lên Philippines, Đài Loan và quần đảo Ryukyu, và tham gia trận chiến vịnh Leyte. Từ tháng 1 đến tháng 2 năm 1945, chiếc tàu sân bay là một thành phần của Đệ Tam hạm đội xâm nhập vào biển Nam Trung Quốc, tham gia cuộc không kích quy mô lớn đầu tiên lên các hòn đảo chính quốc Nhật Bản và tấn công lên đảo Iwo Jima. Nhiều hoạt động tác chiến khác được tiếp nối trong tháng 3 và tháng 4 năm 1945, khi máy bay của nó tấn công các mục tiêu tại Nhật Bản và hỗ trợ các hoạt động tại Okinawa. Được cho đại tu tại Mỹ trong tháng 6 và tháng 7 năm 1945, chiếc tàu sân bay vẫn còn đang trên đường quay trở lại chiến trường Thái Bình Dươing khi chiến tranh kết thúc vào tháng 8.
Sau các đợt vận chuyển cựu chiến binh tại Thái Bình Dương về nước, Langley chuyển sang Đại Tây Dương, nơi nó thực hiện những nhiệm vụ tương tự từ tháng 11 năm 1945 đến tháng 1 năm 1946. Bị bỏ không tại Philadelphia, Pennsylvania suốt thời gian còn lại của năm 1946, chiếc tàu sân bay được cho ngừng hoạt động vào tháng 2 năm 1947.
Langley được đưa ra khỏi lực lượng dự bị vào đầu năm 1951, được tân trang rồi được chuyển cho Pháp trong chương trình Trợ giúp Phòng thủ Tương hỗ. Sau hơn một thập niên phục vụ cho Hải quân Pháp dưới tên gọi La Fayette, nó được hoàn trả cho Hoa Kỳ vào tháng 3 năm 1963 và được bán để tháo dỡ một năm sau đó.[1]
Phần thưởng
Langley được tặng thưởng chín Ngôi sao Chiến đấu do thành tích phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.[2]
| Bản mẫu:Ribbon devices | Bản mẫu:Ribbon devices | Bản mẫu:Ribbon devices |
| Bản mẫu:Ribbon devices | Bản mẫu:Ribbon devices | Bản mẫu:Ribbon devices |
Tham khảo
- ^ Porte-avions La Fayette (tiếng Pháp)
- ^ Yarnall, Paul (ngày 9 tháng 12 năm 2020). "USS LANGLEY (CVL-27)". NavSource.org. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2021.
- Phiên bản gốc của bài này Lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2008 tại Wayback Machine dựa trên tài liệu thuộc phạm vi công cộng của Hải quân Mỹ.
- Bài này có các trích dẫn từ nguồn en:Dictionary of American Naval Fighting Ships thuộc phạm vi công cộng: Langley Lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2012 tại Wayback Machine
Liên kết ngoài
- navsource.org: USS Langley Lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2021 tại Wayback Machine
- hazegray.org: USS Langley Lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2019 tại Wayback Machine
- Angel on the Yardarm: The Beginnings of Fleet Radar Defense and the Kamikaze Threat Lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2010 tại Wayback Machine – Điểm lại quyển sách do John Monsarrat, cựu chiến binh từng phục vụ trên Langley trong các trận chiến chủ yếu tại mặt trận Thái Bình Dương từ tháng 1 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945.
- USS Langley Lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2008 tại Wayback Machine at Nine Sisters Light Carrier Historical Documentary Project
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Portal/images/q' not found.