Bước tới nội dung

Võ Nguyên Hành

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Võ Nguyên Hành
武元衡
Lâm Hoài quận công
Tên húyNguyên Hành (元衡)
Tên chữBá Thương (伯苍)
Thụy hiệuTrung Mẫn
Thừa tướng (lần 1)
Nhiệm kỳ
807
Thừa tướng (lần 2)
Nhiệm kỳ
813 – 815
Thông tin cá nhân
Sinh
Tên húy
Nguyên Hành (元衡)
Ngày sinh
758
Nơi sinh
huyện Câu Thị, Lạc châu
nay ở huyện Yển Sư, Lạc Dương thị, Hà Nam
Mất
Thụy hiệu
Trung Mẫn
Ngày mất
13 tháng 7, năm 815
Nơi mất
Phía cửa đông của phường Tĩnh An (靖安坊), Trường An
Nguyên nhân mất
bị ám sát
Gia quyến
Thân phụ
Võ Tựu (武就)
Hậu duệ
Võ Dực Hoàng

Thân mẫu của Đoàn Thành Thức, Võ thị

Phu nhân của Tôn Giản
Học vấn
Học vị
Tiến sĩ (vào năm Kiến Trung thứ 4)
Chức quanTể tướng
Tước hiệuLâm Hoài quận công (臨淮郡公)
Thời kỳnhà Đường
Tác phẩm199 Bài thơ[1] và 9 bài văn[2]
x • t • s

Võ Nguyên Hành (武元衡, 758 - 13 tháng 7, năm 815), tự Bá Thương (伯苍), là thừa tướng dưới thời Đường Hiến Tông, là một nhà thơ, chính trị gia. Ông nổi tiếng với với sự liêm chính trung thực. Chính điều này khiến ông bị Lý Đạo Sư thuê sát thủ đến ám sát ông. Không lâu sau, bạn của ông là Bùi Độ trả thù thành công.

Gia tộc

Ông thuộc gia tộc Bái quận Võ thị, tổ tiên là Nam Xương hầu Vũ Chu, làm tới chức Quang lộc đại phu, Vệ úy. Ông có 3 con trai vô cùng nổi tiếng, nhất là Võ Cai, làm quan nhà Tấn đến chức Tán binh Thượng thư, Thái bộc khanh, địa vị hiển hách suýt soát hàng Tam công. Ông nổi tiếng thanh liêm, chính trực. Khi nhà Ngụy bị mất ngôi, ông giữ lòng hoài cựu, làm quan nhưng không màng danh lợi, được người đời khen ngợi. Cụ tổ 6 đời là Võ Hoa làm Quận thừa quận Lạc Dương tại Đông Đô nhà Tùy. Võ Hoa có 4 người con trai, trong đó có Sĩ Dật và Sĩ Ước, Sĩ Ước chính là cha của Võ Tắc Thiên, Sĩ Dật chính là tổ 5 đời của ông. Toản Quốc công Sĩ Dật nổi tiếng với lòng trung thành khi bị Lưu Vũ Chu bắt khi làm Hộ tào Tham quân trong phủ Tề vương, ông bảo vệ khí tiết, gửi mưu kế cho Đường Cao Tổ đánh Lưu Vũ Chu. Sau được thăng làm Tả thừa Hành đài Ích Châu. Trong thời gian làm quan, ông đã nhiều lần dâng sớ lên triều đình để thẳng thắn luận bàn về những điều được và mất của thời cuộc chính trị đương thời. Đường Cao Tổ vô cùng vui mừng và tiếp thu các ý kiến đó, liền điều ông sang làm Thứ sử Thủy Châu. Những năm đầu niên hiệu Trinh Quán ông đổi làm Thứ sử Thiều Châu và qua đời tại chức. Sau khi mất, ông được phong thụy hiệu là Tiết[3][4][5][6].

Sĩ Dật sinh ra Nhân Phạm làm Hà Gian quận vương, Nhân Phạm sinh ra Dĩnh Xuyên quận vương Võ Tài Đức, làm Tả vệ thân phủ Trung lang tướng, sau đó, gia tộc bị thanh trừng, bị tước chức vụ. Con là Võ Bình Nhất có tài chương cú, văn phong xuất chúng, chức quan cuối cùng giữ là Khảo công Viên ngoại lang kiêm Tu văn quán Học sĩ, hành trạng cuộc đời được chép trong quyển “Dự nhân truyện”. Con là Võ Tựu tự Quảng Thành làm đến chức Điện trung Thị ngự sử. Võ Tựu có 2 người con, con cả là Võ Đàm, con thứ chính là ông[3][4][5][6][7][8].

Thời trẻ

Bá Thương thi đỗ Tiến sĩ khoa bảng, liên tục được các nha phủ tiến cử làm quan, thăng dần đến chức Giám sát Ngự sử. Sau đó, ông làm Huyện lệnh Hoa Nguyên[7]>[8].

Tại Trường An, các tướng lãnh trấn quân cậy có ân sủng, kiêu ngạo vì có công lao, thường xuyên quấy nhiễu quan lại địa phương và bài khổ bách tính. Ông liền cáo bệnh từ quan. Ông thả hồn ra ngoài đời, vui thú yến tiệc, ngâm thơ ca hát suốt một thời gian dài.

Hoàng Đế (Đường Đức ông) biết ông là bậc hiền tài, hạ chiếu triệu về kinh bổ nhiệm chúc Tỉ bộ Viên ngoại lang. Chỉ trong một năm, thăng làm Tả ty Lang trung. Ông được triều đình tôn trọng nhờ tính cách chu toán, cẩn trọng.

Năm Trinh Nguyên thứ 20,ông được thăng chức Ngự sử Trung thừa. Có lần khi đối đáp xong ở điện Diên Anh. Hoàng Đế nhìn ông hồi lâu, rồi chỉ và bảo cận thừa tả hữu:

Nguyên Hành đúng là bậc có khi độ Tể tướng vậy.

[7]>[8]

Hoàng Đế lúc đấy có bệnh, không thể quản lý chính sự. Nhóm Vương Thúc Văn dùng quyền lực để dụ ông vào phe, nhưng ông khước từ.

Khi đang lo liệu cho lăng mộ của Đường Đức Tông, ông giữ chức Nghị Trượng sứ. Giám sát Lưu Vũ Tích muốn làm Nghị trượng Phán quan dưới quyền ông. Ông không đồng ý, bọn Vương Thúc Văn trở nên hận thù với ông, tìm cớ bãi chức Ngự sử của ông[7]>[8].

Khi lên ngôi, vì chính ông là người dâng lễ đưa Hoàng thái tử lên ngôi nhờ tài năng của ông, nên ngay sau khi đăng cơ, ông được khôi phục chức Ngự sử Trung thừa. Ông chấp pháp công bằng, không một chút tư vị riêng tư, mọi kỷ cương phép nước đều được phục hồi và thực thi nghiêm chỉnh, người đời hết lời khen ngợi. Chẳng bao lâu sau, thăng làm Hộ bộ Thị lang.

Năm Nguyên Hòa thứ 2, tháng Giêng, ông được làm Môn hạ Thị lang, Đồng bình chương sự (bước vào hàng ngũ Đại Tể tướng), ban áo gấm tía, kiêm việc quản lý Hộ bộ. Hoàng đế từ lúc còn ở tiềm phủ làm Thái tử đã biết ông là người hành xử tiến lui đều giữ đúng chính đạo, trung trinh thủ tiết, nên khi dùng làm Tể tướng thì vô cùng lễ độ và tin tưởng ông hoàn toàn[7]>[8].

Chặt đứt dã tâm của phản thần Lý Kĩ

Tiết độ sứ Triết Tây là Lý Kĩ dâng sớ xin bái kiến Hoàng Đế. Triều đình phong làm Hữu bộc xạ, lệnh cho lên kinh chầu vua. thế nhưng tên này lại trì hoãn đến cuối năm. Khi Hoàng Đế hỏi Tể thần, Tể tướng Trịnh Nhân khuyên nên chấp thuận, nhưng Bá Thương dứt khoát từ chổi rằng:

"Không được! Huống hồ Lý Kĩ tự mình xin vào triều, chiếu chỉ đã chuẩn y, nay hắn lại cáo bệnh bấu víu, chẳng hóa ra việc đi hay ở đều do một mình hắn tự quyết sao? Nay Bệ hạ mới lên ngôi báu, thiên hạ đều đang dồn tai mắt vào. Nếu để cho kẻ gian thần đạt được mưu đồ riêng, thì uy nghiêm pháp lệnh của triều đình từ nay sẽ tiêu tan sạch."

Hoàng Đế cho là phải, quả nhiên Lý Kĩ dốn vào đường cùng dấy binh làm phản, nhưng nhanh chóng bị dẹp tan[7]>[8].

Làm Kiến Nam Tây Xuyên Tiết độ sứ

Cao Sùng Văn có công dẹp loạn đất Thục nên được phong chức Tiết độ sứ tại đây. Mặc dù quán lý phép tắc, nhưng là không biết gì về chính trị dân sự, quận huyện. Hoàng Đế rất đau đầu, tìm người thay thế, cuối cùng Hoàng Đế chọn ông thay thế, bái làm Kiểm hiệu Lại bộ Thượng thư, kiêm Môn hạ Thị lang, Bình chương sự, sung chức Kiếm Nam Tây Xuyên Tiết độ sứ. Lúc sắp lên đường, Hoàng Đế đích thân ngự ở An Phúc môn để tiễn đưa, an ủi ông.

Khi Cao Sùng Văn rời Thành đô, ông ta đã cho khuân hoang sạch sẽ, chở theo toàn bộ quân nhu, vàng bạc, gấm vóc, màn trướng, đoàn ca kỹ nhạc công lẫn thợ thủ công lành nghề đi cùng. Ông đến nơi, đối mặt với bách tính điêu linh, ông thực hiện chính sách tiết kiệm nghiêm ngặt trong mọi việc, làm cho người dân được thuận lợi, an lòng. Trải qua 3 năm, việc công lẫn việc tư đều dần khôi phục, đủ đầy. Đối với các bộ tộc man di vùng biên ải, ông lập ra các điều ước rõ ràng, nghiêm minh, không tùy tiện gây sự. Tính cách ông nghiêm nghị, cẩn trọng, dù có phần thanh đạm, ít xã giao, nhưng phủ Tiết độ sứ dưới thời ông quy tụ được vô số nhân tài kiệt xuất bậc nhất lúc bấy giờ. Năm Nguyên Hòa thứ 8, ông được triệu hồi về kinh. Khi đi đến vùng Lạc Cốc, triều đình tái bổ nhiệm ông làm Môn hạ Thị lang, Đồng bình chương sự (lần hai)[7]>[8].

Vụ ám sát bi tráng

Triều đình có hai đại thần Lý Cát PhủLý Giáng tình hình không hợp nhau, thường xuyên tranh biện lý lẽ đúng sai trước mặt vua. Bá Thương giữ trung lập, không a dua theo phe nào. Hoàng Đế hết lòng khen ngợi ông là bậc trưởng giả đức độ. Khi Lý Cát Phủ mất, vừa vặn lúc triều đình chuẩn bị đem quân thảo phạt vùng Hoài Tây, Thái Châu, Hoàng đế đem toàn bộ việc quân cơ mật thiết giao phó cho ông.

Vương Thừa Tông phái sứ giả dâng sớ, xin tha thứ cho phản thần Ngô Nguyên Tế. Khi tên sứ giả đến gặp ông để thỉnh thị, lời lẽ và thái độ của hắn cực kỳ kiêu ngạo, hỗn xược. Ông nổi giận quát mắng, đuổi đi. Vương Thừa Tông vì chuyện này mà điên cuồng viết sớ bay về triều bôi nhọ, công kích ông, mối oán hận thù sâu từ đó kết lại ngày càng thắt chặt.

Phủ đệ của ông nằm ở phường Tĩnh An. Ngày mùng 3 tháng 6 năm Nguyên Hòa thứ 10, ông chuẩn bị đi triều sớm. Khi kiệu ngựa vừa ra khỏi cửa đông của phường, đột nhiên trong bóng tối có tiếng quát lớn lệnh cho thủ hạ phải dập tắt đuốc. Quân lính cưỡi ngựa dẫn đường của Tể tướng vừa cất tiếng quát hỏi thì bọn tặc tử đã bắn tên loạn xạ, bắn trúng vai ông.

Lại có những kẻ ẩn nấp sẵn trong lùm cây lao ra, dùng gậy sắt băm bổ nện gãy đùi trái của ông. Tùy tùng và phu đánh xe của Tể tướng bị bọn sát thủ đánh giết, hoảng sợ tháo chạy toán loạn. Bọn giặc bèn lao đến nắm lấy dây cương ngựa của Võ Nguyên Hành, dắt đi về hướng đông nam mươi bước rồi tàn nhẫn ra tay sát hại ông. Chúng dã man chặt lấy thủ cấp, đập vỡ xương sọ của vị Tể tướng rồi ôm bọc đầu mang đi.

Đến khi dân chúng và binh lính nghe tiếng động chạy đến, cầm đuốc soi chiếu thì chỉ thấy thân xác của ông đã ngã gục trong vũng máu, ngay sát chân tường góc đông bắc của phủ đệ. Lúc bấy giờ canh trăng chưa dứt, trên các trục đường lớn có rất nhiều ngựa của các quan đi triều sớm và người qua lại. Lính tuần trạm liên tục hò hét vang động suốt hơn mười dặm đường: "Giặc giết Tể tướng rồi!". Tiếng kêu thét truyền thẳng vào tận triều đình, bách quan ai nấy đều hoảng hốt, kinh sợ, nhưng chưa biết người chết là ai. Một lát sau, con ngựa của Võ Nguyên Hành tự chạy không về, mọi người mới bàng hoàng nhận ra ông.

Buổi sáng, khi xa giá của hoàng đế đến điện Tử Thần, quan có trách nhiệm lập tức dâng tấu báo việc ông đã bị hại. Hoàng Đế bàng hoàng, kinh động tột độ, lập tức hủy bỏ buổi đại triều, đến ngồi ở điện Diên Anh khẩn cấp triệu kiến các vị Tể tướng còn lại. Hoàng đế thương tiếc, khóc thương đau đớn suốt một thời gian dài, vì quá đau buồn mà bỏ ăn liền hai bữa. Ngài hạ chiếu truy tặng ông chức Tư đồ, ban tặng gia quyến 500 tấm vải lụa, 400 thạch thóc để lo hậu sự, hạ lệnh bãi triều 5 ngày để quốc tang, và ban thụy hiệu cho ông là Trung Mẫn[7]>[8].

Trong Tân Đường thư còn bổ sung rằng kẻ đứng sau vụ ám sát là Vương Thừa Tông và Lý Đạo Sư[9][10][11].

Di sản

Võ Nguyên Hành vốn rất tinh thông và có tài làm thơ ngũ ngôn. Những người hiếu kỳ, yêu chuộng văn thơ đương thời đua nhau truyền tay nhau các tác phẩm của ông, chúng thường xuyên được các nhạc công phổ vào đàn sáo, ca kỹ hát vang nơi cung đình, yến tiệc[7]>[8].

Trong Toàn Đường Thi, ông có tổng cộng 198 bài do mình làm và 1 bài liên cú. Toàn Đường Văn ghi nhận ông có 9 bài văn.

Nài thơ Xuân hứng là bài thơ nổi bật nhất của ông, viết về tình yên thương quê hương da diết: Nguyên bản[12]:

春興

楊柳陰陰細雨晴,

殘花落盡見流鶯。

春風一夜吹鄉夢,

夢逐春風到洛城。

Phiên âm

Xuân hứng

Dương liễu âm âm tế vũ tình,

Tàn hoa lạc tận hiện lưu oanh.

Xuân phong nhất dạ xuy hương mộng,

Mộng trục xuân phong đáo Lạc thành.

Bản dịch của Nguyễn Minh

Sau cơn mưa đậm xanh lá liễu

Cành trụi hoa thấy lũ oanh bay

Gió xuân ru mộng đêm nay

Mơ nương theo gió đến ngay Lạc thành.

Điềm báo về cái chết

Khi ông từ đất Thục trở về kinh sư để lần thứ hai đảm nhiệm chức vụ Tể tướng phụ chính, lúc bấy giờ trên bầu trời xuất hiện hiện tượng tinh tượng: Sao Thái Bạch (sao Kim) phạm vào chòm sao Thượng Tướng, rồi đi qua chòm sao Chấp Pháp. Kẻ bói liền đưa ra lời đoán: “Ba vị Tể tướng đương triều hiện nay đều gặp điềm bất lợi, ban đầu tai ương còn nhẹ, càng về sau càng nặng nề.”

Hơn tháng sau, Tể tướng Lý Giáng vì bạo bệnh ở chân mà bị bãi chức. Tháng 10 năm sau, Tể tướng Lý Cát Phủ cũng đột ngột đổ bệnh ác tính rồi qua đời. Cho đến nay, đến lượt Võ Nguyên Hành bị bọn tặc tử ám sát hại mạng, hưởng thọ 58 tuổi.

Xét lại thuở sinh thời, ông và Lý Cát Phủ bằng tuổi nhau (cùng sinh năm 758), lại được bái làm Tể tướng vào cùng một ngày. Đến khi ra trấn thủ biên phương, hai người chia nhau thống lĩnh hai vùng đất trù phú bậc nhất: người lĩnh đất Dương Châu, người lĩnh đất Ích Châu. Đến khi Lý Cát Phủ tái nhập triều bái tướng, ông cũng vừa vặn được triệu hồi về kinh. Kỳ lạ hơn nữa, Lý Cát Phủ mất trước một năm đúng vào tháng sinh của ông; còn ông mất sau một năm đúng vào tháng sinh của Lý Cát Phủ. Sự xoay vần của số mệnh cát hung giữa hai người trùng khớp khăng khít với nhau như hai nửa của một mảnh phù chỉnh vậy.

Trước khi vụ án xảy ra, ở kinh thành có lưu truyền một câu đồng dao rằng: “Đập mạch mạch đập ba ba ba” (打麥麥打三三三), hát xong liền phất ống tay áo múa lên mà bảo: “Múa xong rồi vậy!” (舞了也).

Sau khi Tể tướng gặp nạn, người ta mới ngộ ra lời giải sấm ngữ: “Đập mạch” (Đả mạch) ý chỉ thời gian mùa gặt đập lúa mạch (đầu mùa hè); “Mạch đập” (Mạch đả) đồng âm hoặc ẩn ý cho việc bị đánh lén, đột kích bất ngờ trong đêm tối; “Ba ba ba” (Tam tam tam) chính là ứng vào ngày mùng 3 tháng 6; còn cụm từ “Múa xong rồi” (Vũ liễu dã) chính là tiếng lóng ứng với cái chết của ông (chữ "Vũ" 武 trong họ Võ đồng âm với chữ "Vũ" 舞 trong nhảy múa — ý nói người họ Võ đã xong đời).

Kể từ sau vụ ám sát kinh hoàng đó, cả kinh sư bao trùm trong nỗi sợ hãi tột độ. Triều đình hạ lệnh cho khắp các cửa thành phải tăng cường thêm cấm binh canh gác nghiêm ngặt, kiểm tra ráo riết dòng người ra vào, mật thám rình rập khắp nơi rà soát các đối tượng khả nghi. Những kẻ nào có vóc dáng vạm vỡ kỳ lạ, ăn mặc dị hợm, hoặc phát ra giọng nói đặc trưng của vùng Yên - Triệu[13] đều bị binh lính lập tức bắt giữ, tra tấn và khảo vấn nghiêm ngặt[7]>[8].

Gia đình

  • Em họ: Võ Nho Hành, sau này cũng làm đến chức Tể tướng
  • Con trai: Võ Dực Hoàng, hay còn gọi là "Võ thị tam đầu (武氏三頭)" vì đỗ đầy kỳ thi Hương, Tiến sĩ tàon quốc (Trạng nguyên) và tuyển chọn Bác học hoành từ của hoàng đế (Sắc đầu). Thế nhưng sách Đường ngữ Lâm có chép vết nhơ kinh hoàng: Cuối dời, do dung túng với thê thiếp là Tiết Lệ, dung túng cho ả hành hạ, đối xử tàn nhẫn với chính thất phu nhân của mình Lư thị. Vụ bạo hành gia đình này khiến giới sĩ phu kinh thành phẫn nộ. Dù có bạn thân là Tể tướng Lý Thần ra sức che chở, Võ Dực Hoàng vẫn bị triều đình trị tội và bị lưu đày biệt xứ
  • Hai con gái, 1 người thì gả cho Đoàn Văn Xương làm đến chức Tể tướng thời Đường Mục Tông, sinh ra Đoàn Thành Thức. Một người thì gả cho Tiết độ sứ Hà Trung Tôn Giản.

Đánh giá

Trong Cựu Đường thư đánh giá rằng, cái chết của ông là do ghét ác quá mức. Là một Tể tướng có lập trường cứng rắn, ông quyết giữ nghiêm phép nước, kiên quyết dẹp loạn kiêu binh phe trấn phiệt, không chịu thỏa hiệp với cái xấu, cái ác. Chính sự chính trực, không khoan nhượng đó đã khiến ông trở thành cái gai trong mắt kẻ thù và dẫn đến kết cục đầy máu và nước mắt.

Trong Tân Đường thư lại đánh giá rằng cái chết của ông là một sự bất công của tạo hóa. Nhưng Âu Dương Tu nhận định, đối với những bậc trung thần như ông, dẫu biết trước nguy hiểm họ cũng không bao giờ hối hận vì đã chọn con đường trung nghĩa. Tấm thân có thể nát, nhưng danh tiếng thì cao như núi lớn. [7]>[8]

Quả thực, ông là một người vô cùng liêm chính, thể hiện lập trường ngay thẳng, nhưng chính từ hành động khiến ông sinh ra rất nhiều kẻ thù khiến ông bị ám sát. May mắn thay, người đi theo ông là Bùi Dộ nhờ đội mũ nỉ dàu và cao, ông giả vờ chết để khiến bọn ám sát bỏ ngơ đi. Trong khi các quan lại đại thần sợ hãi, ông dâng sớ khẳng định:

"Nếu triều đình vì sợ thích khách mà bãi binh, thì từ nay về sau pháp lệnh của Thiên tử không ra khỏi cửa cung, các phiên trấn sẽ hoàn toàn ngồi lên đầu triều đình!"

Vì thế, ông được thăng lên làm tể tướng đem quân trả thù cho người đồng hành Bá Thương năm xưa của mình. Ông đem quân cùng Lý Tố chém chết Ngô Nguyên Tế, Lý Sư Đạo. Từng bước phát triển sau này nên được gọi là giai đoạn "Nguyên Hòa trung hưng" trong một thười gian ngắn.

Bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị

Bá Thương lớn hơn Lạc Thiên 14 tuổi và có vị thế chính trị cao hơn rất nhiều (Lạc Thiên chỉ giữ chức Tạ tán kị thường thị), Lạc Thiên hay viết thơ xướng họa, thể hiện sự ngưỡng mộ dành cho ông. Ngược lại, ông hay khen ngợi tài năng của Lạc Thiên.

Tuy nhiên, hai người rạn nứt về quan điểm chính trị, Bá Thương liên tục chủ chiến, dùng vũ lực tiêu diệt quân phiệt, còn Lạc Thiên dâng thư xin hòa hoãn, tránh binh đao để dân bớt khổ vì chiến tranh liên miên.

Khi Bá Thương bị ám sát, ông dâng sớ báo thù cho Bá Thương, bị vu oan là kẻ bất hiếu[14] nên bị giáng chức làm Tư mã Giang Châu. Chính vì vậy, từ thơ châm biếm chính trị, ông dần viết "vạn vật trữ tình", chính vì vậy, đã tạo nên bài thơ bất hủ: Tỳ bà hành[15][16].

Chú thích

  1. ^ Toàn Đường Thi ghi nhận ông có 198 bài trong cả hai quyển 316 và 127, ngoài ra trogn quyển 789, có 1 bài liên cú là (Trung Thu dạ thính ca liên cú 中秋夜聽歌聯句) do Thôi Bị, Bùi Độ, Liễu Công Chước, Lư Phóng, Lư Sĩ Mai cùng ông làm
  2. ^ Toàn Đường Văn, ghi nhận ông có 9 bài trong quyển 531.
  3. ^ a b Cựu Đường thư, quyển 183, Ngoại thích truyện
  4. ^ a b Tân Đường thư, quyển 206, Võ Sĩ Ước truyện
  5. ^ a b Tấn thư, quyển 45, Vũ Cai truyện
  6. ^ a b Tân Đường thư, quyển 47, Tể tướng thế hệ biểu
  7. ^ a b c d e f g h i j k Cựu Đường thư, quyển 183, Ngoại thích truyện
  8. ^ a b c d e f g h i j k Tân Đường thư, quyển 152, liệt truyện 77
  9. ^ Tân Đường thư, quyển 152, liệt truyện 77
  10. ^ Cựu Đường thư, quyển 14, 15, Hiến Tông bản kỷ
  11. ^ Tân Đường thư, quyển 7, Hiến Tông bản ký
  12. ^ Toàn Đường thi, quyển 317, bài số 60
  13. ^ khu vực Hà Bắc — căn cứ của các phiên trấn phản loạn vốn là quê quán của bọn sát thủ
  14. ^ Mẫu thân của Lạc Thiên mắc chứng tâm thần, không may qua đời do ngã xuống giếng khi đang ngắm hoa. Ông sau đó đã cáo quan về quê chịu tang mẹ 3 năm theo phép tắc. Vì ông từng sáng tác các bài thơ về đề tài ngắm hoa (Thưởng hoa) và giếng nước (Tân giếng), phe đối lập khi can gián đã vu oan và gán cho ông tội danh "bất hiếu" nhằm hạ bệ uy tín của ông trước giới sĩ phu, dù trên thực tế các tác phẩm này hoàn toàn không liên quan đến việc tang sự của mẫu thân.
  15. ^ Cựu Đường thư, quyển 166, liệt truyện 118, Bạch Cư Dị truyện
  16. ^ Tân Đường thư, quyển 119, liệt truyện 44, Bạch Cư Dị truyện

Tham khảo