Văn tế tướng sĩ trận vong
Bản mẫu:Thông tin tác phẩm văn học
Văn tế tướng sĩ trận vong, còn được chép với các nhan đề Tế trận vong tướng sĩ và Tiền quân tế tướng sĩ văn, là một bài văn tế bằng chữ Nôm được Tiền quân Nguyễn Văn Thành đọc trong lễ truy điệu những tướng sĩ đã tử trận khi theo Nguyễn Ánh giao chiến với quân Tây Sơn. Tác phẩm thường được quy cho Nguyễn Văn Thành và được định niên đại vào năm 1802, nhưng cả tác giả lẫn thời điểm sáng tác đều còn có những thuyết khác nhau.[1][2][3]
Bài văn lần theo các chặng đường quân sự từ Gia Định ra Bắc Hà, thương tiếc những người có mặt trong thời chiến nhưng không còn sống đến ngày đất nước yên ổn, đồng thời hứa cải táng hài cốt, thờ cúng và trợ cấp thân nhân của họ. Phần cuối kêu gọi các vong hồn tiếp tục phù hộ triều Nguyễn.[4] Văn bản sử dụng nhiều địa danh và điển tích lịch sử[5], cùng các quan niệm sinh tử của Phật giáo.[6] Dương Quảng Hàm nhận xét tác phẩm có "lời văn thống thiết, giọng văn hùng hồn".[5]
Hoàn cảnh ra đời và lưu truyền
Năm 1802, sau khi Gia Long kiểm soát Bắc Hà, Nguyễn Văn Thành ở lại làm Tổng trấn Bắc Thành, còn nhà vua trở về Phú Xuân.[1] Nguyễn Văn Thành sau đó chủ tế một lễ truy điệu các tướng sĩ từng theo Gia Long chinh chiến và tử trận, rồi đọc bài văn tế này.[1][7][3]
Năm 1914, Phạm Quỳnh công bố bài văn cùng bản dịch tiếng Pháp trong Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). (Tập san Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp). Ông đặt lễ truy điệu tại Hà Nội, cho rằng nghi thức dường như do Nguyễn Văn Thành tự tổ chức thay vì theo lệnh triều đình, và ước định thời điểm vào khoảng tháng 12 năm 1802.[7] Nhà sử học George Dutton đặt nghi lễ tại Thăng Long vào mùa hè năm 1802.[3] Nguyễn Văn Sâm lại ghi lễ cử hành tại Huế vào tháng Chạp năm Nhâm Tuất, tức cuối năm 1802.[8]
Nguyễn Văn Sâm thuật lại rằng Hoàng Thúc Trâm suy niên đại 1804 từ một văn bản tế khác do Phan Huy Ích đề năm Giáp Tý. Nguyễn Văn Sâm phản biện rằng văn bản ấy chỉ là một bài Phan Huy Ích viết thử trong vai Nguyễn Văn Thành, không đủ chứng minh lễ tế của Nguyễn Văn Thành diễn ra năm 1804. Ông đối chiếu câu "Vâng thượng đức hồi loan tháng trước" với việc Gia Long từ Bắc Hà trở về kinh đô và định bài văn vào tháng Chạp năm 1802.[9]
Tháng 2 năm 2012, Nguyễn Đông Triều và Thiệu Thị Hạ Linh phát hiện một tập sách tại nhà cụ đồ Nguyễn Tòng Mậu ở Cái Bè, Tiền Giang. Tập sách gồm 208 trang giấy dó và 291 đơn vị tác phẩm, nhưng không ghi nhan đề, người tuyển soạn hoặc niên đại. Hai nhà nghiên cứu ước đoán sách được biên soạn vào nửa đầu thế kỷ XX, muộn nhất khoảng năm 1945. Trong 14 bài ai điếu bằng chữ Nôm của tập sách có bản chép Tiền quân tế tướng sĩ văn, được hai tác giả chú là Văn tế tướng sĩ trận vong.[10]
Vấn đề tác giả
Dương Quảng Hàm, Nguyễn Văn Sâm và George Dutton đều quy tác phẩm cho Nguyễn Văn Thành, đồng nhất người chủ tế với tác giả.[1][2][3]
Quyển đầu Văn đàn bảo giám do Trần Trung Viên biên soạn, xuất bản năm 1926, in bài dưới nhan đề Tế trận vong tướng sĩ. Bản in ghi tên Vũ Lượng trong ngoặc và chú Nguyễn Văn Thành là người đứng tế dưới triều Gia Long.[11] Trong một khảo cứu công bố năm 2025, Đoàn Xuân Kiên cho biết hai bản chép Nôm mang ký hiệu AB.297 và AB.383 đều ghi bài được làm vào "Gia Long nguyên niên", Vũ Lượng là người soạn và Nguyễn Văn Thành là người chủ tế.[12]
Nguyễn Văn Sâm tổng hợp thêm các cách quy tác giả khác nhau. Hoàng Thúc Trâm cho rằng Nguyễn Văn Thành đã nhờ một người khác viết và tác giả thực sự không rõ tên; Hoàng Xuân Hãn, qua ghi nhận của Lê Thành Khôi, cho rằng người viết là Nguyễn Huy Lượng. Theo ông, phần lớn các công trình khác vẫn theo truyền thuyết quy tác phẩm cho Nguyễn Văn Thành. Sau khi xem xét lập luận liên quan đến bài văn tế của Phan Huy Ích, Nguyễn Văn Sâm kết luận rằng chưa có luận cứ chính xác để giải quyết dứt điểm và tạm theo thuyết truyền thống.[2]
Nội dung và kết cấu
Văn bản mở bằng lời than trước cảnh người sống hưởng ngày đại định trong khi tướng sĩ đã chết. Phần dài tiếp theo kể hành trình chiến đấu và những cảnh tử trận, rồi chuyển sang thương tiếc những người không được dự ngày thái bình. Đến đoạn mở đầu bằng "Bản chức nay", mạch văn trở lại lễ tế đang diễn ra, với lời hứa khao thưởng, biểu dương, chăm nom thân nhân và lời cầu các vong hồn phù hộ triều đình.[13][4]
Phần kể công lần theo một chuỗi địa danh từ Đông Phố, Xiêm La, Cao Miên và Gia Định qua Khánh Hòa, Bình Thuận, Đồ Bàn, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Xuân đến Thăng Long. "Đông Phố" là tên cũ của Gia Định, "Sóc Cảnh" là cõi Bắc, còn "Lô Hà" và "Lương Giang" chỉ hệ thống sông Lô – sông Nhị.[14]
Nguyễn Văn Sâm nhận thấy nội dung bài văn vẫn theo những chức năng cơ bản của thể văn tế: an ủi, ca tụng và thương tiếc người được tế. Theo ông, bài văn còn nhắc lại những gian khổ của người lính, đối lập sự hiện diện của họ trong thời chiến với sự vắng mặt trong ngày đại định, rồi hứa cải táng hài cốt, duy trì hương khói và giúp đỡ cha mẹ, vợ con của họ.[4] Phần cuối kết hợp lòng trung thành với triều Nguyễn với các quan niệm "sinh là ký, tử là quy", số mệnh, tái sinh và sự tồn tại của linh hồn. Nguyễn Văn Sâm xem đây là sự đan xen giữa quan điểm chính trị phò Nguyễn và ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo.[6]
Trích đoạn
Những đoạn sau được chép theo bản in của Dương Quảng Hàm năm 1930; chính tả được điều chỉnh gần với cách dùng hiện nay, còn tên riêng và điển ngữ giữ nguyên.[5]
Than ôi! Trời Đông Phố vận ra Sóc Cảnh, trải bao phen gian hiểm mới có ngày nay; nước Lô Hà chảy xuống Lương Giang, nghĩ mấy kẻ điêu linh những từ thuở nọ. Cho hay sinh là ký mà tử là quy; mới biết mệnh ấy yểu mà danh ấy thọ.
Xót thay! Tình dưới viên mao, phận trong giới trụ. Ba nghìn họp con em đất Bái, cung tên ngang dọc chí nam nhi; hai trăm vầy bờ cõi non Kỳ, cơm áo nặng dày ơn cựu chủ...
...Trước từng trải Xiêm La, Cao Miên về Gia Định mới dần ra Khánh, Thuận, đã mấy buổi sơn phong hải lễ, trời Cao, Quang soi tỏ tấm kiên trinh; rồi lại từ Đồ Bàn, Nam, Ngãi lấy Phú Xuân mà thẳng tới Thăng Long, biết bao phen vũ pháo vân thê, đất Lũng, Thục lần vào nơi hiểm cố.
...Bản chức nay, vâng việc biên phòng, chạnh niềm viễn thú. Dưới trướng nức mùi chung đỉnh, sực nhớ khi chén rượu rót đầu ghềnh; trong nhà rõ vẻ áo xiêm, chạnh nghĩ buổi tấm cừu vung trước gió. Bâng khuâng kẻ khuất với người còn; tưởng tượng thầy đâu thì tớ đó.
Nền phủ định tới đây còn xốc nổi, vụ lòng một lễ, chén rượu thoi vàng; chữ tương đồng ngẫm lại vốn đinh ninh, khắp mặt ba quân, cờ đào nón đỏ. Có cảm thông thì tới đó khuyên mời; dù linh thính hãy nghe lời dặn dỗ.
Buổi chinh chiến hoặc là oan hay chẳng, cũng chớ nề kẻ trước người sau, hàng trên lớp dưới, khao thưởng rồi sẽ tấu biểu dương cho; hội thăng bình đừng có nghĩ rằng không, dù ai còn cha già, mẹ yếu, vợ góa, con côi, an tập hết cũng ban tồn tuất đủ.
Hồn phách đâu đều ngày tháng Thuấn, Nghiêu; hài cốt đó cũng nước non Thang, Vũ.
Cơ huyền diệu hoặc thăng trầm chưa rõ, thiêng thời về cố quận để hương thơm lửa sáng, kiếp tái sinh lại nhận cửa tiền quân; niềm tôn thân dù sinh tử chớ nề, linh thời hộ Hoàng triều cho bể lặng sông trong, duy vạn kỷ chửa dời ngôi bảo tộ.
Chú giải một số địa danh và điển ngữ
- Viên mao chỉ cửa dinh đại tướng và cờ tiết mao; giới trụ là áo giáp và mũ trụ của tướng sĩ. Điển "ba nghìn con em đất Bái" gợi quân của Hán Cao Tổ, còn "hai trăm... non Kỳ" gợi sự nghiệp của Chu Văn Vương.[15]
- "Khánh, Thuận" là Khánh Hòa và Bình Thuận, không phải Thanh Hóa và Bình Thuận. "Đồ Bàn, Nam, Ngãi" lần lượt chỉ kinh đô cũ của Chăm Pa ở Bình Định, Quảng Nam và Quảng Ngãi; Phú Xuân là Huế, Thăng Long là Hà Nội.[15]
- Sơn phong và hải lễ gắn với các truyền thuyết về việc Nguyễn Ánh thoát nạn nhờ bão biển và tìm được nước ngọt ngoài khơi. "Cao, Quang" ví Gia Long với Hán Cao Tổ và Hán Quang Vũ; "Lũng, Thục" gợi các vùng hiểm trở ở Trung Quốc.[15]
- Nền phủ định rút từ ý "can qua phủ định", nghĩa là việc đánh dẹp vừa yên. Nghiêu, Thuấn, Thang và Vũ là những vị vua cổ đại được dùng để ví với một thời thái bình, thịnh trị; cơ huyền diệu chỉ sự vận hành bí mật của trời đất, còn bảo tộ là ngôi vua.[16]
Tiếp nhận và đánh giá
Dương Quảng Hàm nhấn mạnh hai bình diện của tác phẩm: kể công lao của người đã chết và bộc lộ sự thương tiếc của người còn sống. Ông đánh giá giọng văn vừa thống thiết vừa hùng hồn.[1] Nguyễn Văn Sâm phân tích sự gần gũi giữa người chủ tế với quân sĩ, các chi tiết về sự thiệt thòi của người tử trận và việc phối hợp âm thanh, hình ảnh để tạo không khí buồn thảm.[17] Trong một bài viết năm 2021, Nguyễn Văn Sâm đối chiếu tác phẩm với Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc và cho rằng bài văn xuất hiện sau chiến tranh, có tác dụng vỗ về những người sống sót đã trải qua cuộc chiến.[18]
Dutton đặt bài văn trong chuỗi văn tế quân sự do học giả của cả phía Nguyễn lẫn Tây Sơn soạn vào những năm cuối cuộc chiến và đọc tại các nghi lễ công cộng tưởng niệm người chết. Theo ông, nhóm văn bản này vừa gợi lại cảnh khổ ải trên chiến trường vừa cho thấy cách mỗi phía khẳng định tính chính đáng của mình và phủ nhận đối phương.[19]
Nguyễn Đông Triều xếp tác phẩm vào nhóm văn tế tướng sĩ tử trận trong các cuộc nội chiến. Ông cho rằng bài vừa có giá trị văn học và lịch sử, vừa ghi lại đau khổ, mất mát của chiến tranh và bộc lộ sự cảm thông với người lính tử trận.[20] Khi khảo cứu Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Trần Thị Hoa Lê nhận xét số tác phẩm trung đại còn lại dành cho tập thể tướng sĩ trận vong không nhiều và gọi Tế trận vong tướng sĩ là tác phẩm nổi tiếng hơn cả trong nhóm này.[21]
Sách Giảng văn lớp 10 ở miền Nam trước năm 1975 xếp Tế trận vong tướng sĩ dưới mục Nguyễn Văn Thành, dùng làm bài bình giảng và kèm một bài phê bình của Phạm Quỳnh.[22]
Năm 2006, Võ Văn Kiệt đặt bài văn bên cạnh Văn chiêu hồn của Nguyễn Du khi bàn về việc dùng nghi lễ cầu siêu để hóa giải đau thương tinh thần sau chiến tranh.[23]
Xem thêm
Chú thích
- ^ a ă â b c Dương 1930, tr. 132.
- ^ a ă â Nguyễn 1973, tr. 348–349.
- ^ a ă â b Dutton 2002, tr. 55–56.
- ^ a ă â Nguyễn 1973, tr. 342–345.
- ^ a ă â Dương 1930, tr. 132–136.
- ^ a ă Nguyễn 1973, tr. 343–344.
- ^ a ă Phạm 1914, tr. 41.
- ^ Nguyễn 1973, tr. 342.
- ^ Nguyễn 1973, tr. 348–350.
- ^ Nguyễn, Đông Triều; Thiệu, Thị Hạ Linh (2014). "Một văn bản Hán Nôm quý của cụ đồ Tư Mậu ở Tiền Giang". Tạp chí Hán Nôm (2 (123)): 62–75. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2026.
- ^ Trần, Trung Viên (1926). Văn đàn bảo giám (PDF). Quyển 1. Hà Nội: Nghiêm Hàm ấn quán. tr. 217. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2026.
- ^ Đoàn, Xuân Kiên (ngày 23 tháng 11 năm 2025). "Bổ sung và đính chính vài chi tiết về tiểu sử Nguyễn Huy Lượng". Văn Việt. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2026.
- ^ Dương 1930, tr. 132–134.
- ^ Dương 1930, tr. 134–135.
- ^ a ă â Dương 1930, tr. 135.
- ^ Dương 1930, tr. 136.
- ^ Nguyễn 1973, tr. 344–345.
- ^ Nguyễn, Văn Sâm (ngày 29 tháng 11 năm 2021). "Đọc lại bài "Văn Tế Nghĩa Sĩ" (Cần Giuộc) của Nguyễn Đình Chiểu, một bài Văn Tế cảm động nhứt trong lịch sử văn học Việt Nam". Nam Kỳ Lục Tỉnh. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2026.
- ^ Dutton 2002, tr. 54–55.
- ^ Nguyễn, Đông Triều (2012). "Võ tướng Nam bộ Lê Văn Đức và bài Tế trận vong bệnh cố tướng sĩ văn". Tạp chí Hán Nôm (4 (113)): 69–76. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2026.
- ^ Trần, Thị Hoa Lê (ngày 10 tháng 10 năm 2020). "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – khúc bi hùng ca về người dân nghèo cứu nước". Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2026.
- ^ Nguyễn, Công Lý (ngày 11 tháng 8 năm 2014). "Chương trình và sách giáo khoa môn Văn bậc trung học ở miền Nam trước năm 1975". Khoa Văn học và Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2026.
- ^ Võ Văn Kiệt (ngày 8 tháng 8 năm 2006). "Lấy từ bi diệt hận thù". Tuổi Trẻ Online. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2026.
Thư mục
- Dương, Quảng Hàm (1930). Quốc văn trích diễm (PDF) (ấn bản thứ 4). Hà Nội: Nhà in Lê Văn Tân. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2026.
- Dutton, George (2002). "Verse in a Time of Turmoil: Poetry as History in the Tây Sơn Period". Moussons (6): 37–68. doi:10.4000/moussons.2574. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2026.
- Nguyễn, Văn Sâm (1973). Văn học Nam Hà (Văn học xứ Đàng Trong) (PDF). Sài Gòn: Lửa Thiêng. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2026.
- Phạm, Quỳnh (1914). "Deux oraisons funèbres en annamite, publiées et traduites". Bulletin de l'École française d'Extrême-Orient. 14: 41–55. doi:10.3406/befeo.1914.2841. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2026.