Bước tới nội dung

Vĩnh Côn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Vĩnh Côn
永琨
Thông tin chung
Sinh11 tháng 3 năm 1743
Tử Cấm Thành, Bắc Kinh
Mất16 tháng 2 năm 1803
Bắc Kinh
Hoàng tộcnhà Thanh
Thân phụHòa Cung Thân vương Hoằng Trú
Thân mẫuĐích Phúc tấn Ngô Trát Khố thị

Vĩnh Côn (chữ Hán: 永琨, 11 tháng 3 năm 1743 - 16 tháng 2 năm 1803) là một quan viên và tông thất nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc.

Cuộc đời

Vĩnh Côn sinh vào giờ Hợi, ngày 16 tháng 2 (âm lịch) năm Càn Long thứ 8 (1743), là con trai thứ bảy của Hòa Cung Thân vương Hoằng Trú, con trai thứ của Ung Chính và là đệ đệ thân thiết với Càn Long. Sinh mẫu của ông là Đích Phúc tấn Ngô Trát Khố thị, con gái của Phó Đô thống Ngũ Thập Đồ (五什圖).

Năm Càn Long thứ 40 (1776), thông qua chế độ thi khảo phong tước của hoàng tộc, ông cùng 20 vị tông thất khác trúng tuyển, được phong tước Bất nhập bát phân Phụ quốc công kiêm Tán trật đại thần hàm Chính Nhị phẩm[1]. Năm Càn Long thứ 46 (1781), thụ Phó Đô thống Mông Cổ Chính Bạch kỳ[2]. Năm Càn Long thứ 53 (1788), được phép hành tẩu tại Tử Cấm Thành, tháng 7 cùng năm điều nhiệm Phó Đô thống Mãn Châu Tương Bạch kỳ[3]. Năm Càn Long thứ 56 (1791), thăng Đô thống Mông Cổ Chính Hồng kỳ, đến năm Càn Long thứ 58 (1793) điều làm Kinh Châu tướng quân[4]. Vài tháng sau khi nhậm chức, Càn Long Đế cho rằng vùng Ninh Hạ quản lý binh sĩ Mãn - Mông phức tạp, tướng cũ không kham nổi; trong khi đó Vĩnh Khôn là Cận phái Tông thất, không nên để ông ở lâu tại vùng Kinh Châu vốn là nơi quần cư của người Hán nên điều ông làm Ninh Hạ tướng quân[5]. Năm Càn Long thứ 59 (1794), ông dâng sớ tấu xin hợp nhất việc lựa chọn, bảo cử các chức quan Tá lĩnh và Phòng ngự từ hai cánh tả - hữu của quân Mông Cổ Bát kỳ tại địa phương để tránh thiếu hụt nhân sự. Càn Long Đế chuẩn tấu. Cuối năm đó, ông được điều nhiệm làm Tuy Viễn tướng quân[6].

Tháng 9 năm Càn Long thứ 60 (1795), ông được điều làm Hắc Long Giang tướng quân. Càn Long Đế đặt kỳ vọng rất cao vào cháu trai mình, dụ rằng: "Vĩnh Khôn là cháu ruột của Trẫm, cốt nhục Tông thất, tất biết tự trọng thể diện. Khi đến Hắc Long Giang phải thẳng tay trừng trị các hủ tục lâu đời, thực tâm biện sự cho triều đình"[7]. Tại đây, vào năm Gia Khánh thứ nhất (1796), ông có công vây bắt thủ lĩnh khởi nghĩa Bát Quái GiáoTrịnh Kiến Quý (vốn là đồng đảng của hai thủ lĩnh đoạn trước đã đánh chiếm đại danh phủ), được Bộ Hình ghi công nghị thưởng. Cùng năm, ông dâng sớ tấu lên Thái thượng hoàng Càn Long, trình bày việc binh lính biên thùy miền Đông Bắc vốn giỏi võ nghệ nhưng địa hình hiểm trở, không tiện tập luyện bài thể dục leo thang vân đài như trung nguyên. Thái thượng hoàng chấp thuận cho miễn bỏ bài tập này tại 3 tỉnh Đông Bắc[8]. Tháng 5 năm Gia Khánh thứ 2 (1797), ông điều nhiệm làm Ô Lý Nhã Tô Đài Tướng quân trấn thủ vùng Mông Cổ, kiêm nhiệm Đô thống các kỳ và thụ chức Nội đại thần vào đầu năm 1799.

Năm Gia Khánh thứ 4 (1799), Hoàng đế nhận thấy tuổi tác đã cao lại mắc bệnh tật ở chân, vùng đất Ô Lý Nhã Tô Đài lại quanh năm lạnh giá khiến ông không thể tự mình dẫn binh đi săn bắn, huấn luyện được nữa nên gọi ông về kinh thành dưỡng già, chỉ quản lý chức Đô thống. Tháng 5 cùng năm, Hoàng đế dựa vào việc thanh tra hành chính, cho rằng tiến trình chính trị trước đây của Vĩnh Khôn quá đỗi bình thường, lại có hành vi lạm dụng quyền lực (tự ý dùng ngựa trạm dịch bưu điện truyền tin 800 dặm cho việc riêng), liền cách chức Đô thống của ông, giáng làm Phụ quốc Tướng quân rồi điều đi canh giữ Thanh Đông lăng[9]. Sang năm sau (1800), Gia Khánh Đế bộc bạch rằng việc hạch tội Vĩnh Khôn năm xưa thực chất không có bằng chứng tham ô kiên cố, việc lạm dụng ngựa trạm chỉ là do lơ là không kiểm soát thuộc cấp theo thói cũ, hơn nữa ông là tòng huynh đệ (anh em chú bác) với Hoàng đế, việc để ông chịu khổ lâu ngày ở lăng tẩm sẽ làm tổn hại đến đức tính "đốc ái tông chi" (thương yêu hoàng tộc). Cuối năm đó, Gia Khánh Đế hạ chỉ triệu ông về kinh, bổ dụng làm Phó Đô thống Hán Quân Chính Bạch kỳ[10].

Mùa xuân năm Gia Khánh thứ 8 (1803), Vĩnh Khôn tạ thế. Gia Khánh Đế đã ban dụ rằng: "Vĩnh Khôn là con trai của thúc phụ Hòa Cung Thân vương, vốn là cận phái Tông thất. Nay nghe tin ông qua đời, trong lòng Trẫm vô cùng đau xót và tiếc nuối. Nay phái Tán trật Đại thần Miên Cần mang theo chăn Đà La Kinh ban tặng, dẫn theo 10 viên Thị vệ đến ban tế trà rượu. Vĩnh Khôn trước đây vốn mang tước Công bất nhập bát phân, sau vì có tội mà bị cách gia, nay đã bệnh mất, Trẫm gia ân khai phục lại tước hiệu Bất nhập bát phân Phụ quốc công cho ông." Như vậy có thể thấy sau khi ông qua đời, Gia Khánh Đế đã phục tước Bất nhập Bát phân Phụ quốc công cho ông[11].

Gia quyến

Thê thiếp

  • Đích Phu nhân: Hoàn Nhan thị (完顏氏), con gái Tán trật đại thần Bác Đệ (博第).
  • Thứ thiếp: Vương thị (王氏), con gái của Vương Đức (王德).

Con trai

  1. Miên Lệnh (綿令, 1765 - 1797), mẹ là Đích Phu nhân Hoàn Nhan thị. Được phong Tam đẳng Phụ quốc Tướng quân, làm quan đến Nhị đẳng Thị vệ. Không con.
  2. Miên Trọng (綿仲, 1768 - 1814), mẹ là Đích Phu nhân Hoàn Nhan thị. Ban đầu được đưa sang quá kế thừa tự cho thúc phụ Vĩnh Hoạt, sau khi Miên Lệnh qua đời mà không có thừa kế thì quay lại tông tịch. Được phong Tam đẳng Trấn quốc Tướng quân, làm quan đến Nhị đẳng Thị vệ.
  3. Miên Phổng (綿俸, 1768 - 1770), mẹ là Thứ thiếp Vương thị, chết yểu.
  4. Miên Nhu (綿柔, 1777 - 1780), mẹ là Đích Phu nhân Hoàn Nhan thị, chết yểu.

Chú thích

  1. ^ 《高宗純皇帝實錄·卷之九百九十九》:「宗人府奏請、應封宗室明該等二十人。照考試繙譯騎射等第、將應得品級襲封。得旨、明該、明贊、俱授為奉恩將軍。文獻、興瑞、明充、崇敏、永蕚、俱授為一等奉國將軍。弘超、綿佐、崇寧、俱授為三等輔國將軍。永瑍、亮瑚、俱授為二等鎮國將軍。永琨、授為不入八分輔國公。恒慶、永育、恒伯、俱授為三等奉國將軍。永璨、授為一等鎮國將軍。永蕃、賓靖、俱授為二等輔國將軍。晉昌、授為一等輔國將軍。」. 명실록·청실록. [2022-08-18]. (原始内容存档于2022-08-18).
  2. ^ 《高宗純皇帝實錄·卷之一千一百四十三》:「以輔國公宗室永琨、為正白旗蒙古副都統。」. 명실록·청실록. [2022-08-18]. (原始内容存档于2022-08-18).
  3. ^ 《高宗純皇帝實錄·卷之一千三百九》:「調正白旗蒙古副都統永琨、為鑲藍旗滿洲副都統。以內閣學士扎郎阿、為正白旗蒙古副都統。」. 명실록·청실록. [2022-08-18]. (原始内容存档于2022-08-18).
  4. ^ 《高宗純皇帝實錄·卷之一千四百十九》:「又諭曰、善德年已及邁。著留京補授正紅旗蒙古都統。所遺廣州將軍。著富昌調補。富昌所遺荊州將軍。著永琨補授。」. 명실록·청실록. [2022-08-18]. (原始内容存档于2022-08-18).
  5. ^ 《高宗純皇帝實錄·卷之一千四百二十七》:「又諭、寧夏將軍。管轄本城駐防滿洲官兵。且與蒙古游牧較近。隆興不宜此任。著來京候旨。永琨乃近派宗室。亦不宜在漢人地方。著調補寧夏將軍。所遺荊州將軍員缺。著慶桂補授。慶桂至荊州。永琨交代後。再赴新任。更換隆興來京。」. 명실록·청실록. [2022-08-18]. (原始内容存档于2022-08-18).
  6. ^ 《高宗純皇帝實錄·卷之一千四百六十七》:「調西安將軍舒亮、為黑龍江將軍。綏遠城將軍圖桑阿、為西安將軍。寧夏將軍永琨、為綏遠城將軍。以熱河副都統保成、為寧夏將軍。」. 명실록·청실록. [2022-08-18]. (原始内容存档于2022-08-18).
  7. ^ 《高宗純皇帝實錄·卷之一千四百八十七》:「諭、黑龍江將軍員缺。著永琨調補。圖桑阿、著授為正白旗漢軍都統。調補烏里雅蘇臺將軍。圖桑阿接奉諭旨。將將軍印信交副都統署理。由彼馳驛赴烏里雅蘇臺任。永琨交代圖桑阿後。亦即由彼馳驛赴黑龍江任。俱不必來京請訓。……永琨係朕之姪。最近宗室。想應顧惜體面。至黑龍江時。務須痛懲陋習。實心辦事。」. 명실록·청실록. [2022-08-18]. (原始内容存档于2022-08-18).
  8. ^ 《國史大臣列傳·宗室永琨列傳》:「嘉慶元年,以獲段文經匪黨鄭見貴交部議敘。」
  9. ^ 《仁宗睿皇帝實錄·卷之二十一》:「以肅親王永錫、為鑲藍旗漢軍都統。烏里雅蘇台將軍永琨、為正紅旗蒙古都統。……」. 명실록·청실록. [2022-08-18]. (原始内容存档于2022-08-18).
  10. ^ 《仁宗睿皇帝實錄·卷之六十一》:「又諭、前以永琨在將軍任內聲名平常又擅用八百里驛遞公文。是以將其公爵將軍斥革。賞給奉國將軍。令其在陵居住。今思永琨在將軍任內聲名平常。尚無實據。其限行八百里驛遞。不過失察屬員相沿舊習。永琨乃和恭親王之子。於朕為從兄弟。若令其在陵久住。不足示朕篤愛宗支之意。現在德楞泰已授內大臣。不必兼副都統。所有正白旗漢軍副都統員缺。加恩著永琨補授。即回京當差。並著仍兼奉國將軍。」. 명실록·청실록. [2022-08-18]. (原始内容存档于2022-08-18).
  11. ^ 《六經堪叢書·國史列傳 11》. 中國哲學書電子化計劃. [2022-08-18]. (原始内容存档于2022-08-18).