Bước tới nội dung

Y Nhĩ Căn Giác La

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bản mẫu:Hộp thông tin tên tiếng Trung/HeaderBản mẫu:Hộp thông tin tên tiếng Trung/ChineseBản mẫu:Hộp thông tin tên tiếng Trung/ManchuBản mẫu:Hộp thông tin tên tiếng Trung/Footer

Y Nhĩ Căn Giác La (phiên âm tiếng Mãn: Irgen Gioro; Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”.) là một trong tám gia tộc lớn nhất của người Mãn và là gia tộc lớn nhất của thị tộc Giác La.[1]

Là một gia tộc lớn của người Mãn, hậu duệ của Tống Huy TôngTống Khâm Tông thời nhà Kim, thành viên họ Y Nhĩ Căn Giác La phân bổ rộng rãi và được chia tiếp thành các họ tộc nhỏ hơn. Tộc Y Nhĩ Căn Giác La tập trung tại Diệp Hách (Yehe)Mục Khê (Musi) vào thời nhà Thanh. Ngoài ra, thành viên tộc Y Nhĩ Căn Giác La còn có nguồn gốc từ Ô Lạp (Ula), núi Trường Bạch và các nơi khác.Thuộc tương hoàng kỳ,sau vì một số biến đổi mà một nhánh nhỏ là tương lam kỳ.

Dưới triều Thanh, gia tộc Y Nhĩ Căn Giác La có 40 tá lĩnh (niru, Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”.), lớn thứ 5[2] trong tất cả các gia tộc Mãn Châu.

Sau cách mạng Tân Hợi, đại đa số hậu duệ gia tộc Y Nhĩ Căn Giác La đã cải tộc sang họ Triệu.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ "揭開努爾哈赤姓氏之謎". Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2012.
  2. ^ 详见《大清会典》

Bản mẫu:Sơ khai nhân vật Trung Quốc