9M14 Malyutka (tiếng Nga: Малютка; "Nhỏ bé", tên định danh NATO: AT-3 Sagger) là một hệ thống tên lửa chống tăng có điều khiển (ATGM) dẫn đường bằng dây với chế độ điều khiển thủ công bằng đường ngắm (MCLOS) được phát triển tại Liên Xô. Đây là loại tên lửa chống tăng có điều khiển mang vác cá nhân đầu tiên của Liên Xô và có lẽ là loại ATGM được sản xuất rộng rãi nhất mọi thời đại—với sản lượng của Liên Xô đạt đỉnh điểm 25.000 tên lửa mỗi năm trong thập niên 1960 và 1970. Ngoài ra, các bản sao của tên lửa này đã được sản xuất dưới nhiều tên gọi khác nhau bởi ít nhất sáu quốc gia.

9M14 Malyutka
AT-3 Sagger
Phiên bản 9M142T do Serbia sản xuất
LoạiTên lửa chống tăng
Nơi chế tạoLiên Xô
Lược sử hoạt động
Phục vụ1963–nay
Sử dụng bởiLiên Xô và các quốc gia khác
TrậnChiến tranh Việt Nam
Nội chiến Campuchia
Chiến tranh Yom Kippur
Chiến tranh Tây Sahara
Nội chiến Ethiopia
Nội chiến Liban[1]
Chiến tranh Iran–Iraq
Chiến tranh Vùng Vịnh
Chiến tranh giành độc lập Croatia
Chiến tranh Kosovo
Chiến tranh Lebanon 2006
Chiến tranh Chechnya lần thứ nhất
Chiến tranh Chechnya lần thứ hai
Nội chiến Libya
Nội chiến Syria
Chiến tranh Iraq[2]
Nội chiến Yemen (2014–nay)
Can thiệp của Ả Rập Xê Út ở Yemen
Xung đột biên giới Ả Rập Xê-út – Yemen (2015–nay)
Chiến tranh Tigray
Chiến tranh Gaza
Lược sử chế tạo
Người thiết kếCục Thiết kế Chế tạo Máy (KBM, Kolomna)
Năm thiết kế1961–1962
Nhà sản xuấtLiên Xô, Nga (với tư cách quốc gia kế thừa) và các quốc gia khác theo giấy phép hoặc các phiên bản nội địa
Giá thành10.500 USD mỗi tên lửa (AT-3D, chi phí xuất khẩu năm 2019)[3]
Giai đoạn sản xuất1963
Các biến thể9M14M, 9M14P1, Malyutka-2, Malyutka-2F
Thông số
Khối lượng10,9 kg (9M14M)
11,4 kg (9M14P1)
12,5 kg (Malyutka-2)
~12 kg (Malyutka-2F)
30,5 kg (Bộ phận phóng và dẫn đường)[4][5]
Chiều dài860 mm
1.005 mm khi sẵn sàng chiến đấu (Malyutka-2)
Chiều rộng393 mm (sải cánh)
Đường kính125 mm

Tầm bắn hiệu quả500–3.000 m
Trọng lượng đầu nổ2,6 kg (9M14M, 9M14P1)
3,5 kg (Malyutka-2, Malyutka-2F)

Tốc độ115 m/s (410 km/h) (9M14M, 9M14P1)
130 m/s (470 km/h) (Malyutka-2, Malyutka-2F)[6]
Hệ thống chỉ đạoMCLOS, SACLOS (Các biến thể sau này)

Mặc dù đã bị thay thế bởi các loại tên lửa chống tăng có điều khiển tiên tiến hơn, Malyutka và các biến thể của nó vẫn được sử dụng rộng rãi trong hầu hết các cuộc xung đột khu vực kể từ thập niên 1960. Chúng vẫn được duy trì trong các kho dự trữ lớn và đôi khi vẫn được sử dụng cho đến ngày nay bởi các chủ thể phi quốc gia như Hezbollah.[7]

Phát triển

Quá trình phát triển bắt đầu vào tháng 7 năm 1961 khi chính phủ giao dự án cho hai đội thiết kế: Tula và Kolomna.[8] Các yêu cầu đặt ra bao gồm:

  • Có thể gắn trên xe và/hoặc mang vác cá nhân
  • Tầm bắn 3.000 mét
  • Khả năng xuyên giáp 200 mm ở góc 60°
  • Trọng lượng tối đa 10 kg

Các thiết kế được dựa trên các loại ATGM của phương Tây những năm 1950, chẳng hạn như ENTAC của Pháp và Cobra của Thụy Sĩ. Cuối cùng, nguyên mẫu được phát triển bởi Cục Thiết kế Máy Kolomna, đơn vị cũng chịu trách nhiệm cho tên lửa 3M6 Shmel, đã được lựa chọn. Các thử nghiệm ban đầu hoàn thành vào ngày 20 tháng 12 năm 1962, và tên lửa được chấp nhận đưa vào biên chế vào ngày 16 tháng 9 năm 1963.[9]

Mô tả

Tên lửa có thể được bắn từ bộ bệ phóng vali di động (9P111), các xe thiết giáp (BMP-1, BRDM-2) và trực thăng (Mi-2, Mi-8, Mi-24, Soko Gazelle). Xạ thủ mất khoảng năm phút để triển khai tên lửa từ vali sợi thủy tinh 9P111, vốn cũng đóng vai trò là bệ phóng.

Tên lửa được dẫn đường đến mục tiêu bằng một cần điều khiển nhỏ (9S415), đòi hỏi xạ thủ phải được đào tạo chuyên sâu. Các điều chỉnh của xạ thủ được truyền đến tên lửa thông qua một dây dẫn mỏng gồm ba sợi kéo theo sau tên lửa. Tên lửa sẽ bay vọt lên không trung ngay sau khi phóng để tránh va phải chướng ngại vật hoặc mặt đất. Trong khi bay, tên lửa xoay với tốc độ 8,5 vòng mỗi giây — ban đầu nó được làm xoay bởi động cơ tăng cường, và chuyển động xoay này được duy trì nhờ góc nghiêng nhẹ của các cánh. Tên lửa sử dụng một con quay hồi chuyển nhỏ để tự định hướng so với mặt đất; kết quả là, tên lửa có thể mất một khoảng thời gian để bay thẳng hàng với mục tiêu, điều này tạo ra tầm bắn tối thiểu trong khoảng từ 500 và 800 mét (550 và 870 yd). Đối với các mục tiêu dưới 1.000 m, xạ thủ có thể dẫn đường cho tên lửa bằng mắt thường; đối với các mục tiêu ngoài khoảng cách này, xạ thủ sử dụng kính tiềm vọng 9Sh16 có độ phóng đại 8 lần và trường nhìn 22,5 độ.

Vùng hỏa lực là một cung 45 độ, rộng 3 kilômét (1,9 mi) tập trung vào trục phóng của tên lửa. Ở các tầm bắn dưới 1,5 kilômét (0,93 mi), cung này giảm dần cho đến khi ở tầm 500 mét (550 yd), tên lửa chỉ có thể bắn trúng các mục tiêu cách đường trung tâm 50 mét (55 yd) về mỗi bên. Độ chính xác sẽ giảm dần khi mục tiêu nằm xa trục phóng — giảm xuống còn khoảng một nửa độ chính xác tối ưu ở các góc biên.

Trong khi các ước tính ban đầu về tỉ lệ bắn trúng mục tiêu của tên lửa nằm trong khoảng từ 60 đến 90%, kinh nghiệm thực tế cho thấy tỉ lệ này có thể giảm xuống còn 2 đến 25% trong trường hợp điều kiện không tối ưu và xạ thủ thiếu kỹ năng. Trên thực tế, hệ thống MCLOS đòi hỏi kỹ năng đáng kể từ phía xạ thủ, tuy nhiên, loại vũ khí này luôn khá phổ biến với những người vận hành và đã nhận được những nỗ lực cập nhật liên tục cả ở Liên Xô/Nga và các quốc gia khác.

Hai khiếm khuyết nghiêm trọng nhất của vũ khí nguyên bản là tầm bắn tối thiểu từ 500 và 800 mét (550 và 870 yd) (không thể tấn công hiệu quả các mục tiêu ở gần hơn) và thời gian tên lửa bay chậm để đạt tới tầm bắn tối đa — khoảng 30 giây — giúp mục tiêu có thời gian để thực hiện các biện pháp ứng phó phù hợp, như rút lui sau chướng ngại vật, triển khai màn khói, hoặc bắn trả vào vị trí của xạ thủ.[10]

Các phiên bản sau của tên lửa đã giải quyết những vấn đề này bằng cách áp dụng hệ thống dẫn đường SACLOS dễ sử dụng hơn nhiều (mặc dù chỉ có sẵn cho các bệ phóng trên xe mặt đất và trực thăng), cũng như nâng cấp hệ thống động cơ để tăng tốc độ bay trung bình. Các bản cập nhật mới nhất có các đầu đạn nổ kép (tandem) hoặc cần kích nổ kéo dài để đối phó với giáp phản ứng nổ, cũng như các hệ thống hình ảnh nhiệt. Ngay cả trong những phiên bản mới nhất này, Malyutka có lẽ vẫn là loại ATGM rẻ nhất đang được sử dụng hiện nay.

 
Tháp pháo của xe BMP-1 với tên lửa 9M14M

Lịch sử

Trong biên chế Liên Xô, phiên bản mang vác cá nhân được triển khai như một phần của trung đội chống tăng thuộc các tiểu đoàn bộ binh cơ giới. Mỗi trung đội có hai tiểu đội Malyutka, mỗi tiểu đội có hai tổ. Mỗi tổ có hai bệ phóng. Một trợ thủ xạ thủ trong mỗi tổ đóng vai trò là xạ thủ RPG-7 (B-41). RPG-7 là cần thiết để bảo vệ vùng chết 500 mét tạo ra bởi tầm bắn tối thiểu của tên lửa.

Nó cũng là một phần tích hợp của các loại xe thiết giáp BMP-1, BMD-1BRDM-2.

 
Tên lửa Malyutka của Quân đội Nhân dân Yugoslavia hướng về phía Dubrovnik trong cuộc bao vây thành phố này, tháng 12 năm 1991

Chiến tranh Việt Nam

Vào ngày 23 tháng 4 năm 1972, Trung đoàn Thiết giáp 20 mới thành lập của Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) đã bị tấn công bởi Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) bằng tên lửa Malyutka (Việt Nam gọi là B-72) lần đầu tiên.[11] Trung đoàn 20 là đơn vị thiết giáp duy nhất của Nam Việt Nam được trang bị xe tăng M48 Patton. Lần đầu tiên sử dụng Malyutka này đã tiêu diệt một chiếc M48A3 và một xe thiết giáp chở quân M113 ACAV, đồng thời làm hư hại một chiếc ACAV thứ hai.[12]:210

Trong cuộc đụng độ đầu tiên với loại vũ khí này, các lính tăng QLVNCH dường như bị thu hút bởi đường bay chậm và thất thường của tên lửa,[12]:210–11 nhưng qua kinh nghiệm, họ sớm triển khai các biện pháp đối phó. Khi đối phương phóng tên lửa, các kíp xe QLVNCH sẽ bắn tất cả vũ khí của họ về phía vị trí phóng tên lửa, điều này làm xạ thủ nao núng và mất kiểm soát tên lửa. Mặc dù xạ thủ có thể ẩn nấp cách xa bệ phóng, nhưng dây điều khiển cần gạt chỉ cho phép khoảng cách tối đa 15 mét. Trong suốt cuộc chiến, QLVNCH cuối cùng đã mất 8 xe tăng vì tên lửa 9M14M, nhưng họ đã phát triển được các chiến thuật để tự vệ trước loại vũ khí này.[11]

Trong Trận Kon Tum (1972), 33 quả tên lửa đã được phóng đi và 32 quả trúng đích, tiêu diệt 4 xe tăng, 2 pháo hỏa lực, 6 hầm trú ẩn và 7 mục tiêu khác.[13]

Trong Trận Cửa Việt (1973), QĐNDVN đã kháng cự quyết liệt cuộc tấn công, tiêu diệt 26 chiếc M48 và M113 bằng tên lửa 9M14.[14]:129–31

Phía Việt Nam tuyên bố rằng trong suốt cuộc chiến, xạ thủ QĐNDVN Đào Văn Tiên đã phóng 134 quả tên lửa và 130 quả trúng đích, tiêu diệt 23 xe tăng và xe thiết giáp chở quân, 12 khẩu pháo, 27 hầm trú ẩn và 17 mục tiêu khác.[13]

Chiến tranh Yom Kippur

 
Các binh sĩ IDF kiểm tra một tên lửa 9M14 và bộ phận phóng thu giữ được.

Tên lửa này đã được các quân đội Ả Rập sử dụng trong giai đoạn đầu của Chiến tranh Yom Kippur.[15] Về sau trong cuộc chiến, người Israel đã áp dụng các chiến thuật mới và học cách vô hiệu hóa mối đe dọa bằng cách sử dụng pháo binh tập trung cường độ cao để làm xao nhãng hoặc tiêu diệt các xạ thủ điều khiển tên lửa.[15] Các phương pháp ngẫu hứng khác được người Israel sử dụng để đánh bại Malyutka bao gồm bắn vào phía trước xe tăng để tạo bụi, di chuyển tới lui liên tục và bắn vào nguồn phát ra tên lửa.[16] Những chiến thuật này của Israel sau đó đã được các lực lượng NATO áp dụng để đối phó với mối đe dọa từ các loại ATGM của Khối Warszawa.[16] Tổng cộng, tên lửa Malyutka đã loại bỏ hơn 800 xe tăng và các phương tiện chiến đấu khác của Israel trong suốt cuộc chiến.[17]

Nội chiến Libya

Phiến quân thuộc Quân đội Libya Tự do đã được ghi hình khi đang sử dụng tên lửa Malyutka trong cuộc Nội chiến Libya năm 2011.[18][19]

Nội chiến Syria

Các phiến quân Syria cũng đã đăng tải các đoạn video quay cảnh họ bắn tên lửa Malyutka chống lại lực lượng chính phủ kể từ cuối năm 2012.[20]

Cuộc tấn công Israel do Hamas dẫn đầu năm 2023

Vào ngày 7 tháng 10 năm 2023, Lữ đoàn Al-Quds, một phe phái Palestine, đã đăng tải một đoạn video lên Telegram được cho là cảnh họ vận hành tên lửa Malyutka bên trong một tòa nhà nằm cạnh biên giới Israel để tấn công một phương tiện của Israel gần Nahal Oz.[21] Tuy nhiên, bài báo được trích dẫn đã nhầm lẫn loại tên lửa Malyutka được sử dụng với loại RAAD của Iran.[22] Các loại tên lửa tương tự cũng đã được Hezbollah bắn với số lượng lớn vào các mục tiêu của Israel dọc theo biên giới phía bắc Israel trong suốt cuộc chiến.

Các biến thể

 
Một quả Malyutka 2T5 của Serbia
 
Bộ điều khiển 9S415 cho tên lửa Malyutka.
  • 9M14 Malyutka
    • 9M14 Malyutka (Tên định danh NATO là AT-3 Sagger) dẫn đường bằng dây theo hệ thống MCLOS, bắt đầu biên chế từ năm 1963.
    • 9M14P Malyutka-P (Tên định danh NATO là AT-3C Sagger C) dẫn đường bằng dây theo hệ thống SACLOS, bắt đầu biên chế từ năm 1969. Đầu đạn được cải tiến (xuyên 460 mm thép RHA).
      • 9M14P1: Đầu đạn cải tiến (xuyên 520 mm thép RHA), trang bị thêm cần kích nổ kéo dài để tăng khả năng chống lại giáp phản ứng nổ (ERA).
      • 9M14MP1
      • 9M14MP2
    • 9M14M Malyutka-M (Tên định danh NATO là AT-3B Sagger B) dẫn đường bằng dây MCLOS, bắt đầu biên chế năm 1973. Cải tiến động cơ, giúp giảm thời gian bay tới tầm tối đa. Trọng lượng 11 kg. Tầm bắn 3 km.
    • 9M14-2 Malyutka-2 (Tên định danh NATO là AT-3D Sagger D) dẫn đường bằng dây SACLOS, bắt đầu biên chế năm 1992. Tốc độ được cải thiện lên 130 m/s. Đầu đạn HEAT 3,5 kg (xuyên 800 mm thép RHA). Trọng lượng 12,5 kg. Tầm bắn 3 km.
      • 9M14-2M Malyutka-2M: Trang bị đầu đạn HEAT liều đúp (tandem) 4,2 kg để tăng khả năng chống lại giáp phản ứng nổ (ERA). Trọng lượng 13,5 kg. Tốc độ 120 m/s.
      • 9M14-2P Malyutka-2P
      • 9M14-2F Malyutka-2F: Trang bị đầu đạn nhiệt áp 3,0 kg. Được thiết kế để chống lại bộ binh và các phương tiện bọc thép nhẹ.
      • 9M14P-2F
      • 9M14-2T[23]: Phiên bản Malyutka-2T SACLOS của VTI Serbia. Đầu đạn HEAT liều đúp 4,4 kg (xuyên 1.000 mm thép RHA), cải thiện khả năng chống lại giáp phản ứng nổ. Trọng lượng 13,7 kg. Tốc độ 120 m/s.[24]
      • 2T5: Phiên bản Malyutka Povr 2T5 của VTI Serbia với tầm bắn 5 km, dẫn đường qua vô tuyến lệnh. Tốc độ đạt 200 m/s.[25]
  • HJ-73 Hongjian (Hồng Tiễn-73) của Trung Quốc
    • HJ-73: Hệ thống MCLOS bắt đầu biên chế từ năm 1979.
    • HJ-73A: Hệ thống SACLOS với bộ dẫn đường mới và đầu đạn chính mạnh hơn.
    • HJ-73B: Hệ thống SACLOS có cần kích nổ kéo dài để chống lại ERA.
    • HJ-73C: Hệ thống SACLOS với đầu đạn HEAT liều đúp để xuyên phá các phương tiện có ERA. Bệ phóng được trang bị kính ngắm nhiệt.[26]
  • RAAD của Iran
    • RAAD: Bản sao của 9M14M.
    • RAAD-T: Trang bị đầu đạn HEAT liều đúp.
    • I-RAAD: Phiên bản SACLOS.
    • I-RAAD-T: Phiên bản SACLOS với đầu đạn HEAT liều đúp.
  • Susong-Po của Bắc Triều Tiên.
  • Maliutka M2T của Romania: Dự án chung giữa ELMEC và Euromissile, sử dụng đầu đạn liều đúp của tên lửa MILAN 2T có khả năng xuyên khoảng 900mm thép RHA.[27]
  • Kun Wu 1 (Côn Ngô 1): Vào thập niên 1970, Viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia Trung Sơn của Đài Loan đã sao chép và sản xuất 9M14 Malyutka dưới tên gọi Kun Wu.[28] Đài Loan đã thu được các quả 9M14 Malyutka từ Việt Nam Cộng hòa. Do thiết kế đã lỗi thời và quân đội ít ưu tiên cho vũ khí chống tăng nên nó không được áp dụng rộng rãi.[29]

Sản xuất

Malyutka và các biến thể hiện đại của nó vẫn đang được sản xuất với nhiều phiên bản khác nhau tại các quốc gia sau:

  • Bắc Triều Tiên – phiên bản nội địa Bulsae-1[30]
  • Iran – phiên bản hiện đại hóa nội địa RAAD
  • Serbia – một vài phiên bản hiện đại hóa nội địa với các loại đầu đạn, tầm bắn và hệ thống dẫn đường khác nhau
  • Việt Nam – CTVN-18, sản xuất theo giấy phép từ phiên bản của Serbia với hệ thống dẫn đường SACLOS cải tiến
  • Trung Quốc – các biến thể HJ-73
  • Romania – Malyutka M2T
  • Ai Cập – phiên bản hiện đại hóa sản xuất theo giấy phép AHRAM với các đầu đạn mới và kính ngắm nhiệt

Bên vận hành

 
Bên vận hành
  Hiện tại
  Trước đây

Hiện tại

Tổ chức phi quốc gia

Trước đây

Ghi chú

  1. ^ a ă "Batailles de chars au Liban". Encyclopédie des armes : Les forces armées du monde (bằng tiếng Pháp). Quyển I. Atlas. 1986. tr. 16.
  2. ^ "Iraqi forces use AT-3 Sagger anti-tank guided missiles to destroy ISIS sniper nests north of Samarra". YouTube. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2015.
  3. ^ "Daily use of Russia's anti-tank missiles costs regime $1.2 mn daily". en.zamanalwsl.net.
  4. ^ "AT-3 SAGGER Anti-Tank Guided Missile Hongjian (Red Arrow)-73". Federation of American Scientists (FAS). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2016.
  5. ^ "AT-3 SAGGER Anti-Tank Guided Missile Hongjian (Red Arrow)-73". www.globalsecurity.org. Global Security. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2018.
  6. ^ "Btvt.narod.ru". Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2014.
  7. ^ "Missiles and Rockets of Hezbollah". Missile Threat (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2024.
  8. ^ McNab, Chris (2018). Sagger anti-tank missile vs M60 main battle tank : Yom Kippur War 1973. Oxford, UK: Osprey Publishing. tr. 7. ISBN 978-1-4728-2578-0. OCLC 1020793018.
  9. ^ Sewell, Stephen; Kinnear, James (2019). Soviet T-55 Main Battle Tank. Bloomsbury Publishing. tr. 122. ISBN 9781472838537.
  10. ^ Field Manual 100-2-3: The Soviet Army: Troops, Organization, and Equipment (PDF) (Báo cáo). Headquarters, Department of the Army. tháng 9 năm 1991. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2026.
  11. ^ a ă Dunstan
  12. ^ a ă Starry, Donn (1978). Mounted Combat In Vietnam Vietnam Studies. Department of the Army. ISBN 978-1780392462. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2012.Bản mẫu:PD-notice
  13. ^ a ă "Kỳ tích của trắc thủ tên lửa B72".
  14. ^ Melson, Charles (1991). U.S. Marines In Vietnam: The War That Would Not End, 1971–1973. History and Museums Division, Headquarters, U.S. Marine Corps. ISBN 978-1482384055.Bản mẫu:PD-notice
  15. ^ a ă Tucker, Spencer C. (2010). The Encyclopedia of Middle East Wars. Santa Barbara, California: ABC-CLIO. tr. 158. ISBN 978-1-85109-947-4.
  16. ^ a ă Rabinovich, Abraham (2004). The Yom Kippur War: The Epic Encounter That Transformed the Middle East. Random House. tr. 140.
  17. ^ Dmitriev, G. N., biên tập (1997). ПТУР Сухопутных войск [Anti-tank Guided Missiles of the Ground Forces] (bằng tiếng Nga). Kyiv: Arhiv-Press. tr. 10.
  18. ^ "Misratah - AL DAFNIA BATTLE 6". YouTube. ngày 25 tháng 5 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2014.Bản mẫu:Cbignore
  19. ^ "صاروخ سعدون - YouTube". YouTube. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2014.
  20. ^ "YouTube". YouTube. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015.
  21. ^ "The RAAD: An Iranian Anti-Tank Missile in Service of the Islamic Jihad". ISRAELDEFENSE. ngày 22 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2024.
  22. ^ "Al-Quds Brigades Telegram". Telegram. ngày 7 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2024.
  23. ^ "MTI develops longer-range Malyutka 2T - Jane's 360". www.janes.com. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2018.
  24. ^ "МАLYUTKA - 2 ANTI-TANK GUIDED MISSILE FAMILY - SDPR - Yugoimport". www.yugoimport.com. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2017.
  25. ^ "Partner 2023: Serbia's Military Technical Institute presents Malyutka Povr 2T5 Anti-Armored Guided Missile". Army Recognition (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2024.
  26. ^ "China has delivered HJ-73D anti-tank missile systems and assault rifles to South Sudan". Army Recognition. ngày 15 tháng 7 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2026.
  27. ^ "ELMEC Products". ELMEC. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2026.
  28. ^ "Malyutka". Military Today. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2019.[liên kết hỏng]Bản mẫu:Cbignore
  29. ^ "Taiwan's Modest Defense Industries Program" (PDF). Central Intelligence Agency. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2019.
  30. ^ Mitzer, Stijn; Oliemans, Joost (2020). The Armed Forces of North Korea: On the Path of Songun. Helion & Company. tr. 27. ISBN 978-1-910777-14-5.
  31. ^ a ă Schroeder, Matt; King, Benjamin (2012). McDonald, Glenn; LeBrun, Emile; Berman, Eric G.; Krause, Keith (biên tập). "Chapter 10. Surveying the Battlefield: Illicit Arms In Afghanistan, Iraq, and Somalia". Small Arms Survey 2012: Moving Targets (bằng tiếng Anh) (12). Cambridge University Press: 313–348. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2024.
  32. ^ a ă â b c d đ e ê International Institute for Strategic Studies (2024). "Chapter Six: Middle East and North Africa". The Military Balance (bằng tiếng Anh). 124 (1): 328–395. doi:10.1080/04597222.2024.2298594. ISSN 0459-7222. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2024.
  33. ^ a ă â b c d đ e International Institute for Strategic Studies (2024). "Chapter Eight: Sub-Saharan Africa". The Military Balance (bằng tiếng Anh). 124 (1): 458–531. doi:10.1080/04597222.2024.2298597. ISSN 0459-7222. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2024.
  34. ^ a ă â b International Institute for Strategic Studies (2024). "Chapter Four: Russia and Eurasia". The Military Balance (bằng tiếng Anh). 124 (1): 158–217. doi:10.1080/04597222.2024.2298592. ISSN 0459-7222. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2024.
  35. ^ a ă â b c d International Institute for Strategic Studies (2024). "Chapter Three: Europe". The Military Balance (bằng tiếng Anh). 124 (1): 54–157. doi:10.1080/04597222.2024.2298591. ISSN 0459-7222. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2024.
  36. ^ a ă â b International Institute for Strategic Studies (2024). "Chapter Five: Asia". The Military Balance (bằng tiếng Anh). 124 (1): 218–327. doi:10.1080/04597222.2024.2298593. ISSN 0459-7222. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2024.
  37. ^ "FAS report on AT-3 SAGGER Anti-Tank Guided Missile". Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2016.
  38. ^ a ă â International Institute for Strategic Studies (2024). "Chapter Seven: Latin America and the Caribbean". The Military Balance (bằng tiếng Anh). 124 (1): 396–457. doi:10.1080/04597222.2024.2298595. ISSN 0459-7222. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2024.
  39. ^ Salvador López de la Torre (ngày 20 tháng 11 năm 1984). "El fracaso militar del Polisario: Smul Niran, una catástrofe de la guerrilla". ABC (bằng tiếng Tây Ban Nha): 32–33. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2018.
  40. ^ "Armed Actor Research Notes: Armed Groups' Holding of Guided Light Weapons. Number 31, June 2013" (PDF). Small Arms Survey. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2018.
  41. ^ Fulan Nasrullah (ngày 9 tháng 8 năm 2014). "9th And 10th August Nigeria SITREP (Boko Haram)". Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2018.
  42. ^ Harel, Amos (ngày 21 tháng 2 năm 2007). "IDF worried Hamas may have advanced anti-tank missiles". Haaretz (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2024.
  43. ^ a ă â b c d "Guided light weapons reportedly held by non-state armed groups 1998-2013" (PDF). Small Arms Survey. tháng 3 năm 2013. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2018.
  44. ^ a ă International Institute for Strategic Studies, The Military Balance, 2017
  45. ^ Bản mẫu:Cite tweet
  46. ^ Said Khatib (ngày 28 tháng 7 năm 2016). "Palestinian militants from the Al-Quds Brigades, the armed wing of..." AFP/Getty Images.
  47. ^ "Iraq: Turning a blind eye: The arming of the Popular Mobilization Units" (PDF). Amnesty International. ngày 5 tháng 1 năm 2017. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2018.
  48. ^ a ă Janovský, Jakub (ngày 4 tháng 5 năm 2018). "Seven Years of War — Documenting Syrian Rebel Use of Anti-Tank Guided Missiles". Bellingcat. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2024.
  49. ^ Ioannis, Michaletos (ngày 10 tháng 8 năm 2008). "Security and Defense in Albania". rieas.gr. Research Institute for European and American Studies. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2024.
  50. ^ Jones & Ness 2010, tr. 903.
  51. ^ a ă â b c "Arms transfer database". Stockholm International Peace Research Institute. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2024.
  52. ^ a ă â Jones & Ness 2010, tr. 906.
  53. ^ a ă Hogg 1987, tr. 978.
  54. ^ a ă Jones & Ness 2010, tr. 908.
  55. ^ a ă â b Jones & Ness 2010, tr. 909.
  56. ^ "Urosevac Kosovo Yugoslavia Kfor Polish Ukrainian Soldiers Redaktionelles Stockfoto – Stockbild | Shutterstock".
  57. ^ Jones & Ness 2010, tr. 910.
  58. ^ a ă â Jones & Ness 2010, tr. 911.
  59. ^ Howard, Lt. Col. William L. (January–March 1986). Aubin, Capt. Stephen P. (biên tập). "Technical Intelligence: The Critical Gap". Military Intelligence (bằng tiếng Anh). 12 (1). U.S. Army Intelligence Center & School: 6. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2024.
  60. ^ International Institute for Strategic Studies (2015). "Chapter Five: Russia and Eurasia". The Military Balance. 115 (1): 190. doi:10.1080/04597222.2015.996357. S2CID 219626710.
  61. ^ a ă Jones & Ness 2010, tr. 915.
  62. ^ a ă Hogg 1987, tr. 984.
  63. ^ Chant, Christopher (ngày 3 tháng 6 năm 2014). A Compendium of Armaments and Military Hardware (Routledge Revivals) (bằng tiếng Anh). Routledge. tr. 1117–1118. ISBN 978-1-134-64675-3.
  64. ^ Jones & Ness 2010, tr. 917.

Tham khảo

Liên kết ngoài