Bước tới nội dung

Hà Tĩnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bản mẫu:Nhiều vấn đề Bản mẫu:Thông tin đơn vị hành chính Việt Nam Hà Tĩnh là một tỉnh ven biển phía bắc thuộc vùng Bắc Trung Bộ, miền Trung Việt Nam.

Theo dữ liệu Sáp nhập tỉnh, thành Việt Nam 2025, Hà Tĩnh có diện tích: 5.994 km², xếp thứ 27; dân số: 1.622.901 người, xếp thứ 27; GRDP 2024: 112.855.090 VNĐ, xếp thứ 27; thu ngân sách 2024: 17.972.968 VNĐ, xếp thứ 23; thu nhập bình quân: 51,60 triệu VNĐ/năm, xếp thứ 21.[1]

Lịch sử

Trước thời các vua Hùng dựng nước, Hà Tĩnh cùng với Nghệ An là nước Việt Thường. Đến thời Hùng Vương, theo Đại Việt sử ký toàn thư, Hà Tĩnh thuộc bộ Cửu Đức.

Thời nhà Hán (Bắc thuộc), đất Hà Tĩnh ngày nay thuộc huyện Hàm Hoan thuộc quận Cửu Chân Sau khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán xâm lược, vùng đất Hà Tĩnh thuộc Cửu Đức.

Thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê: gọi là Hoan Châu, vùng địa đầu phía nam của nước Đại Cồ Việt, tiếp giáp với nước Chiêm Thành và nước Ai Lao.

Thời -Trần, từ năm 1030, bắt đầu gọi là châu Nghệ An. Vào đầu thời kỳ này (đầu thời nhà Lý), đất Hà Tĩnh (phía Bắc đèo Ngang) vẫn là vùng đất biên cương của Đại Việt với Chiêm Thành.

  • Thời kỳ đất nước độc lập tự chủ: Nhà Ngô, Nhà Đinh, nhà Tiền Lê gọi là Hoan Châu
  • Thời nhà Lý: Đổi làm trại, gọi là Nghệ An Châu trại. Đây là lần đầu tiên xuất hiện danh xứ Nghệ An; năm Thiên Thành thứ 2 (năm 1030) đổi tên là Nghệ An châu. Lúc bấy giờ Diễn Châu là châu riêng, không thuộc Nghệ An Châu.
  • Thời nhà Trần: năm Nguyên Phong thứ 6 lại gọi là Trại Nghệ An.
  • Thời thuộc nhà Minh lại đổi làm 2 phủ Diễn Châu và Nghệ An.
  • Thời nhà Hậu Lê: Năm Quang Thuận thứ 7, 2 phủ Diễn Châu và Nghệ An sáp nhập lại, gọi Nghệ An thừa tuyên; năm Hồng Đức thứ 1, định bản đồ Nghệ An thừa tuyên có 9 phủ, 25 huyện, 2 châu. Năm Hồng Đức thứ 20 (1490) vua Lê Thánh Tông đổi tên thừa tuyên Nghệ An thành xứ Nghệ An. Phần đất thuộc tỉnh Hà Tĩnh là đất thuộc 2 phủ Đức Quang (tức phủ Đức Thọ sau này) và phủ Hà Hoa (sau còn gọi là phủ Hà Thanh). Phủ Hà Hoa gồm 2 huyện: Thạch Hà và Kỳ Hoa (tức Kỳ Anh và Hoa Xuyên sau này). Phủ Đức Quang gồm 6 huyện: Thiên Lộc (tức Can Lộc), La Sơn (tức Đức Thọ ngày nay), Hương Sơn, Nghi Xuân, Chân Phúc (tức Nghi Lộc Nghệ An), Thanh Chương (Nghệ An)[2]. Khoảng giữa năm Hồng Thuận (1510-1516) vua Lê Tương Dực đổi xứ Nghệ làm trấn Nghệ An.

Bị Gia Long cắt một phần cho Lào

Tập tin:Tonkin1893.jpg
Bản đồ vùng Trấn Ninh, Trấn Biên, Trấn ĐịnhTrấn Tĩnh khi còn thuộc về Đại Việt.

Thời nhà Hậu Lênhà Tây Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh có diện tích lớn gấp đôi hiện nay. Nhưng năm 1802, ngay sau khi lên ngôi, vua Gia Long nhà Nguyễn đã đem đất Trấn Ninh, Trấn Biên, Trấn ĐịnhTrấn Tĩnh cắt cho nước Vạn Tượng (nay là Lào) để đền đáp việc nước này giúp Gia Long đánh nhà Tây Sơn. Sự việc này được chép ngắn gọn trong Đại Nam nhất thống chí:[3]

Như vậy sau hơn 300 năm được Đại Việt tuyên bố chủ quyền dưới thời nhà Hậu Lênhà Tây Sơn, các vùng Trấn Biên, Trấn Ninh, Trấn Định, Trấn Tĩnh (rộng khoảng 50.000 km2) đã bị cắt cho Vạn Tượng. Tính đến nay thì đây là vùng lãnh thổ lớn nhất mà Việt Nam bị mất, và đặc biệt hơn nữa là vùng này bị mất không phải do bị xâm chiếm mà là do vua Việt Nam tự ý cắt cho nước ngoài.

Đến năm 1828, Vạn Tượng bị Xiêm La đánh phá, các vùng này được Minh Mạng tái sáp nhập vào Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh. Đến thời Pháp thuộc thì một số vùng ở đây lại bị Pháp cắt sang cho nước Lào. Những vụ cắt đất này đã khiến cho vùng Bắc Trung Bộ nước Việt Nam bị co lại rất hẹp, gây khó khăn cho quốc phòng, cũng như mất quyền kiểm soát một lưu vực lớn của sông Mê Kông chảy qua cao nguyên Lào, khiến cho Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay gặp nhiều bất lợi.

Tập tin:Flag of Nguyen dynasty's administrative unit - Ha Tinh.png
Cờ tỉnh Hà Tĩnh thời nhà Nguyễn

Năm 1831, vua Minh Mạng chia trấn Nghệ An thành 2 tỉnh: Nghệ An (phía Bắc sông Lam); Hà Tĩnh (phía Nam sông Lam). Tỉnh Hà Tĩnh được thành lập với 2 phủ Đức Thọ và Hà Hoa của trấn Nghệ An trước đó. Năm Minh Mạng 17 (1838) lập thêm huyện Hoa Xuyên thuộc phủ Hà Hoa (Hoa Xuyên tức là Cẩm Xuyên sau này). Năm Minh Mạng 21 (1840), 2 huyện (trước của vương quốc Viêng Chăn bị diệt vong bởi Xiêm La và đất châu Trịnh Cao) là: Cam Cát (tức Khamkheuth tỉnh Borikhamxay) và Cam Môn (tức vùng các huyện Hương Khê, Vũ Quang và phía Đông Bắc tỉnh Khammuane ngày nay), từng nhập vào phủ Trấn Định (tức Ngọc Ma) thuộc xứ Nghệ của Đại Nam, đến lúc đó Minh Mạng cho nhập vào phủ Đức Thọ của tỉnh Hà Tĩnh. Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), đổi phủ Hà Hoa thành phủ Hà Thanh (do kỵ húy), đồng thời Thiệu Trị lấy cả 3 phủ Trấn Định, Trấn Tĩnh, Lạc Biên (trước thuộc Nghệ An) nhập vào tỉnh Hà Tĩnh.[4]

Năm Tự Đức thứ 6 (năm 1853) đổi tỉnh Hà Tĩnh làm đạo, hợp vào Nghệ An thành An Tĩnh. Năm Tự Đức thứ 29 (năm 1876) lại đặt tỉnh Hà Tĩnh như cũ.

Thời Pháp thuộc, tỉnh Hà Tĩnh thuộc xứ Trung Kỳ nằm trong Liên bang Đông Dương của Pháp. Các phủ huyện là đất (các tỉnh Khammuane, Borikhamxay) thuộc Lào ngày nay (tức là đất các phủ Trấn Định, Trấn Tĩnh, Lạc Biên) bị cắt về xứ Lào thuộc Pháp, và từ đó không thuộc Việt Nam nữa.

Sau năm 1945, tỉnh Hà Tĩnh thuộc vùng Trung Bộ Việt Nam. Sau năm 1954, Hà Tĩnh thuộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sau năm 1975, giai đoạn 1976-1991, 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh nhập làm một tỉnh và được gọi là tỉnh Nghệ Tĩnh.

Thời hiện đại

Tập tin:Province de Ha-Tinh (1909).jpg
Bản đồ tỉnh Hà Tĩnh năm 1909.

Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh lại tách ra thành Nghệ An và Hà Tĩnh như ngày nay. Khi tách ra, tỉnh Hà Tĩnh có 9 đơn vị hành chính gồm thị xã Hà Tĩnh và 8 huyện: Cẩm Xuyên, Can Lộc, Đức Thọ, Hương Khê, Hương Sơn, Kỳ Anh, Nghi Xuân, Thạch Hà.

Ngày 2 tháng 3 năm 1992, thành lập thị xã Hồng Lĩnh thuộc tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tách thị trấn Hồng Lĩnh; 2 xã Đức Thuận và Trung Lương; 1 phần xã Đức Thịnh thuộc huyện Đức Thọ cùng với 2 xã Đậu Liêu và Thuận Lộc thuộc huyện Can Lộc.[5]

Ngày 4 tháng 8 năm 2000, thành lập huyện Vũ Quang trên cơ sở tách 6 xã: Đức Lĩnh, Đức Giang, Đức Liên, Ân Phú, Đức Hương, Đức Bồng thuộc huyện Đức Thọ, 5 xã: Hương Thọ, Hương Minh, Hương Đại, Hương Điền, Hương Quang, Hương Trạch, thuộc huyện Hương Khê và xã Sơn Thọ thuộc huyện Hương Sơn.[6]

Ngày 7 tháng 2 năm 2007, thành lập huyện Lộc Hà trên cơ sở tách 7 xã: Ích Hậu, Hồng Lộc, Phù Lưu, Bình Lộc, Tân Lộc, An Lộc, Thịnh Lộc thuộc huyện Can Lộc và 6 xã: Thạch Kim, Thạch Bằng, Thạch Châu, Mai Phụ, Hộ Độ, Thạch Mỹ thuộc huyện Thạch Hà.

Ngày 28 tháng 5 năm 2007, chuyển thị xã Hà Tĩnh thành thành phố Hà Tĩnh.[7]

Ngày 10 tháng 4 năm 2015, thành lập thị xã Kỳ Anh trên cơ sở tách thị trấn Kỳ Anh và 11 xã thuộc huyện Kỳ Anh.

Ngày 1 tháng 1 năm 2025, giải thể huyện Lộc Hà, địa bàn sáp nhập vào thành phố Hà Tĩnh và huyện Thạch Hà.[8]

Từ đó, tỉnh Hà Tĩnh có 1 thành phố Hà Tĩnh (tỉnh lỵ); 2 thị xã: Hồng Lĩnh, Kỳ Anh và 9 huyện: Cẩm Xuyên, Can Lộc, Đức Thọ, Hương Khê, Hương Sơn, Kỳ Anh, Nghi Xuân, Thạch Hà, Vũ Quang.

Ngày 1 tháng 7 năm 2025, Việt Nam chính thức chấm dứt hoạt động của các đơn vị hành chính cấp huyện. Theo đó, địa bàn tỉnh Hà Tĩnh được tổ chức lại thành 69 xã, phường.

Tỉnh Hà Tĩnh có 9 phường và 60 xã, tỉnh lỵ đặt tại phường Thành Sen.

Địa lý

Vị trí

Hà Tĩnh trải dài từ 17°54’ đến 18°37’ vĩ Bắc và từ 106°30’ đến 105°07’ kinh Đông. Nằm cách thủ đô Hà Nội 345 km về phía nam có vị trí địa lý:

Các điểm cực của tỉnh Hà Tĩnh:

  • Điểm cực bắc tại: xã Đan Hải.
  • Điểm cực đông tại: tổ dân phố Minh Đức, phường Hoành Sơn.
  • Điểm cực tây tại: xã Sơn Kim 1.
  • Điểm cực nam tại: xã Kỳ Lạc.

Địa hình

Phía đông dãy Trường Sơn với địa hình "hẹp, dốc" và nghiêng từ tây sang đông, độ dốc trung bình 1,2%, có nơi lên đến 1,8%.[9] Lãnh thổ chạy theo hướng tây bắc - đông nam và bị chia cắt bởi các sông suối của dãy Trường Sơn với những dạng địa hình chuyển tiếp, xen kẻ lẫn nhau. Sườn Đông của dãy Trường Sơn nằm ở phía tây, có độ cao trung bình 1500 mét, đỉnh Rào Cọ 2.235 mét, phía dưới là vùng đồi giống bát úp, tiếp nữa là dải đồng bằng chạy ra biển có độ cao trung bình 5 mét và sau cùng là dãy cát ven biển bị những cửa lạch chia cắt. Tỉnh Hà Tĩnh bị chia làm 4 loại địa hình gồm:[9]

  • Vùng núi nằm ở phía Đông của dãy Trường Sơn, địa hình dốc bị chia cắt, tạo thành những thung lũng chạy dọc theo các triền sông của hệ thống sông Ngàn Phố, Ngàn SâuRào Trổ.
  • Vùng trung du và bán sơn địa là vùng chuyển từ vùng núi xuống vùng đồng bằng, chạy dọc phía tây nam đường Hồ Chí Minh, địa hình có dạng xen lẫn giữa các đồi trung bình và thấp với đất ruộng.
  • Vùng đồng bằng chạy dọc 2 bên Quốc lộ 1 theo chân núi Trà Sơn và dải ven biển với địa hình "tương đối bằng phẳng" do quá trình bồi tụ phù sa của các sông, phù sa biển trên các vỏ phong hóa Feralit hay trầm tích biển.
  • Vùng ven biển nằm ở phía Đông đường Quốc lộ 1, địa hình vùng này bị tạo bởi những đụn cát, ở những vùng trũng bị lấp đầy bởi những trầm tích, đầm phá hay phù sa. Vùng này xuất hiện các dãy đồi núi sót chạy dọc ven biển và những bãi ngập mặn bị tạo ra từ những cửa sông.[9]

Khí hậu

Hà Tĩnh nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng ẩm. Nó chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam, vì những cơn gió từ miền Bắc đổ vào và thời tiết ấm áp hơn của miền Nam. Nhiệt độ trung bình 24 °C-24,8 °C. Hàng năm, Hà Tĩnh có 2 mùa mưa và hè:[10]

  • Mùa hè: Từ tháng 4 đến tháng 10, đây là mùa nắng, khô hạn kèm theo những đợt gió phơn Tây Nam (Gió Lào) khô nóng, nhiệt độ có thể lên tới hơn 40 °C, khoảng cuối tháng 7 đến tháng 10 có những đợt bão kèm theo mưa gây ngập úng những nơi, lượng mưa lớn nhất 600 mm/ngày đêm.
  • Mùa đông: Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa này chủ yếu có gió mùa Đông Bắc kéo theo mưa phùn, nhiệt độ có thể xuống tới 5 °C.[10]

Bản mẫu:Weather box

Tài nguyên thiên nhiên

Hà Tĩnh hiện có 276.003 ha rừng, gồm 199.847 ha rừng tự nhiên và 76.156 ha rừng trồng, với độ che phủ của rừng đạt 45 %. Rừng tự nhiên là kiểu rừng nhiệt đới, vùng núi có thể gặp các loại rừng lá kim á nhiệt đới. Rừng trồng phần lớn là thông nhựa. Hà Tĩnh có thảm thực vật rừng với hơn 86 họ và 500 loài cây gỗ, gồm những loại gỗ "quý" như lim xanh, sến, táu, đinh, gụ, pơmu... và những loài thú như hổ, báo, hươu đen, dê sừng thẳng, trĩ, gà lôi và các loài bò sát khác.[11]

Hà Tĩnh có bờ biển dài 137 km với những cửa sông với khoảng 267 loài cá, thuộc 90 họ, 20 loài tôm, nhuyễn thể như , mực,...[12] Về khoáng sản, tỉnh có trữ lượng khoáng sản nằm rải rác ở hầu khắp các huyện gồm than đá, sắt, thiếc, phosphorit, than bùn, cao lanh, cát thủy tinh, thạch anh.[13]

Hà Tĩnh có nhiều sông nhỏ chảy qua, con sông lớn nhất là sông Lasông Lam, ngoài ra có sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu, sông Ngàn Trươi, Rào Cái. Tổng chiều dài các con sông khoảng 400 km, tổng sức chứa 13 tỷ m³. Còn hồ Kẻ Gỗ, hồ Sông Rác, hồ Cửa Thờ Trại Tiểu, đập Đồng Quốc Cổ Đạm... ước khoảng 600 triệu m³.[14]

Hành chính

Tỉnh Hà Tĩnh được chia ra thành 69 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó bao gồm 60 xã và 9 phường.[15]

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Hà Tĩnh[16]
Tên Diện tích
(km²)
Dân số
(người)
Phường (9)
Bắc Hồng Lĩnh 35,31 28.729
Hà Huy Tập 32,62 28.742
Hải Ninh 39,37 20.399
Hoành Sơn 70,48 21.004
Nam Hồng Lĩnh 36,47 22.309
Sông Trí 69,90 37.314
Thành Sen 28,23 90.983
Trần Phú 29,50 38.404
Vũng Áng 82,98 21.339
Xã (60)
Can Lộc 65,70 41.153
Cẩm Bình 33,14 25.305
Cẩm Duệ 193,57 23.870
Cẩm Hưng 103,80 21.964
Cẩm Lạc 115,86 19.399
Cẩm Trung 32,72 19.466
Cẩm Xuyên 82,98 33.977
Tên Diện tích
(km²)
Dân số
(người)
Cổ Đạm 62,67 34.635
Đan Hải 37,77 28.212
Đông Kinh 27,57 20.986
Đồng Lộc 70,55 27.783
Đồng Tiến 33,57 18.614
Đức Đồng 47,29 11.531
Đức Minh 23,58 18.718
Đức Quang 30,31 17.515
Đức Thịnh 53,39 41.401
Đức Thọ 48,93 40.064
Gia Hanh 45,39 28.473
Hà Linh 140,43 12.622
Hồng Lộc 33,78 17.042
Hương Bình 215,56 17.530
Hương Đô 140,83 14.287
Hương Khê 165,89 29.994
Hương Phố 135,68 18.633
Hương Sơn 32,62 31.486
Tên Diện tích
(km²)
Dân số
(người)
Hương Xuân 263,14 17.422
Kim Hoa 88,28 19.114
Kỳ Anh 64,74 32.689
Kỳ Hoa 73,28 16.045
Kỳ Khang 48,85 23.771
Kỳ Lạc 169,13 12.865
Kỳ Thượng 218,82 15.822
Kỳ Văn 135,75 17.700
Kỳ Xuân 72,94 23.574
Lộc Hà 35,63 40.979
Mai Hoa 45,85 11.065
Mai Phụ 31,93 29.828
Nghi Xuân 77,65 37.524
Phúc Trạch 201,42 18.135
Sơn Giang 86,32 18.962
Sơn Hồng 209,04 8.409
Sơn Kim 1 223,21 5.782
Sơn Kim 2 208,46 5.123
Tên Diện tích
(km²)
Dân số
(người)
Sơn Tây 129,21 14.755
Sơn Tiến 80,97 20.935
Thạch Hà 31,18 31.220
Thạch Khê 46,32 17.528
Thạch Lạc 27,60 17.682
Thạch Xuân 72,53 16.015
Thiên Cầm 40,55 32.998
Thượng Đức 58,32 10.015
Tiên Điền 31,60 24.833
Toàn Lưu 60,65 18.784
Trường Lưu 49,92 23.569
Tùng Lộc 37,49 20.944
Tứ Mỹ 38,68 20.069
Việt Xuyên 32,10 16.986
Vũ Quang 533,50 14.991
Xuân Lộc 33,08 25.448
Yên Hòa 38,27 17.597

Dân cư

Bản mẫu:Historical populations

Dân số trung bình năm 2025 ước tính 1.335.144 người.

Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2022, tỉnh Hà Tĩnh có diện tích tự nhiên 5.994,45 km², với quy mô dân số là 1.655.135.[17]

Tính đến năm 2024, tỉnh Hà Tĩnh có diện tích tự nhiên 5.994,45 km²,[18] dân số trung bình là 1.329.830 người,[18] trong đó dân số nam ước tính đạt khoảng 661.220 người chiếm (49,7%),[18] dân số nữ ước tính đạt khoảng 668.610 người chiếm (50,3%),[18] dân số thành thị ước tính đạt khoảng 300.380 người chiếm (22,6%),[18] dân số nông thôn ước tính đạt khoảng 1.029.450 người chiếm (77,4%),[18] với mật độ dân số là 221 người/km².[18]

Tính đến ngày 26/12/2024, Hà Tĩnh có quy mô dân số là 1.622.901 người. Trong đó, dân số thường trú là 1.600.239 người, tạm trú là 22.662 người.

Đến ngày 1/3/2025, quy mô dân số tỉnh Hà Tĩnh tăng lên là 1.632.784 người. Trong đó, dân số thường trú là 1.602.478 người, dân số tạm trú là 30.306 người.[19] Tỷ lệ đô thị hóa tính đến năm 2026 đạt 31,45%.

Theo thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, trên địa bàn toàn tỉnh có 31 dân tộc cùng 1 người nước ngoài sinh sống. Trong đó dân tộc Kinh là đông nhất với 1.224.869 người, xếp ở vị trí thứ 2 là người Mường với 549 người, người Thái đứng ở vị trí thứ 3 với 500 người, thứ 4 là người Lào với 433 người.[20] Tỉnh có 1 số dân tộc khác gồm: Tày, Khmer, Hoa, Nùng, H'Mông, Dao, Gia Rai, Ê Đê, Ba Na, Sán Chay, Chăm, Cơ Ho, Xơ Đăng, Sán Dìu, Hrê, Raglay, Mnông, Thổ, Khơ Mú, Tà Ôi, Mạ, Giẻ - Triêng, La Chí, Chứt, Lô Lô, Cơ Lao, Cống.[20]

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, Hà Tĩnh có 8 Tôn giáo khác nhau chiếm 150.383 người. Trong đó, nhiều nhất là Công giáo có 149.273 người, thứ 2 là Phật giáo có 1.069 người và các tôn giáo khác là Phật giáo Hòa Hảo 7 người, Hồi giáo Việt Nam 6 người, Minh Lý Đạo 4 người, Tin Lành 18 người, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa 1 người, Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương 5 người.[20]

Riêng đạo Công giáo, Hà Tĩnh là 1 trong 15 tỉnh, thành phố có số lượng tín đồ đạo Công giáo đông nhất toàn quốc, có 6 giáo hạt, 58 giáo xứ, 231 họ đạo, 3 tu viện thuộc dòng Mến Thánh giá Vinh, ngoài ra còn 1 số cơ sở, nhóm nữ tu Dòng Mến Thánh giá, Dòng Bác ái. Năm 2019, toàn tỉnh có 56 linh mục và hơn 150 nữ tu ở các cơ sở dòng, nhóm nữ tu, có 149.273 giáo dân, chiếm 11,5% dân số, có 131/262 xã, phường, thị trấn có đông giáo dân và có 461 khu dân cư vùng giáo, trong đó 114 vùng giáo toàn vùng.[21]

Kinh tế

Kinh tế Hà Tĩnh chủ yếu nông, lâm, ngư nghiệp và thủ công nghiệp. Phần lớn diện tích đất canh tác là trồng lúa, còn lại chủ yếu là cây công nghiệp thương phẩm và hoa màu. Ngành trồng cây ăn quả đang được đầu tư, ngoài ra còn có trồng cây công nghiệp lâu năm chiếm tỉ trọng thấp. Diện tích rừng (đặc biệt là rừng tự nhiên) có diện tích lớn đang là động lực phát triển mạnh ngành lâm nghiệp. Các sản phẩm lâm nghiệp có giá trị là các loại gỗ, lâm sản quý, dược liệu,... Ngành nuôi trồng thủy, hải sản đang được đầu tư phát triển nâng cao giá trị. Tỉnh còn có các cảng nước sâu và cửa biển giúp phát triển mạnh ngư nghiệp.

Nền công nghiệp chiếm tỉ trọng không lớn nhưng đang phát triển mạnh. Công nghiệp tập trung ở các ngành chế biến nông, lâm, thủy, hải sản, khai thác khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, luyện kim, điện lực, cơ khí. Các ngành công nghiệp chế biến thường phân bố rải rác, quy mô không lớn. Các con sông ở Hà Tĩnh hiện đang phát triển và vận hành các nhà máy thủy điện nhỏ và vừa.

Ngành dịch vụ chưa phát triển mạnh. Ngành này của tỉnh tập trung chủ yếu vào phát triển du lịch nhờ các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, đặc biệt là du lịch biển.

Văn hóa

Xứ Nghệ là tên chung của vùng Hoan Châu cũ (bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh) từ thời nhà Hậu Lê. Hai tỉnh này cùng chung một vùng văn hóa gọi là văn hóa Lam Hồng, có chung biểu tượng là núi Hồng - sông Lam. Hai tỉnh này có cùng phương ngữ- tiếng Nghệ, cùng kho tàng văn hóa dân gian, cùng ca câu hò ví dặm, cùng uống chung dòng nước sông Lam.

Hà Tĩnh là một vùng đất nằm trên dải đất miền Trung, phía nam sông Lam, thiên nhiên không mấy ưu đãi, nhưng lại được coi là nơi "địa linh nhân kiệt". Nhiều làng quê ở Hà Tĩnh nổi tiếng văn chương, khoa bảng.

Núi Hồng Lĩnh, sông Ngàn Phố, sông Ngàn Sâusông La, sông Lam là nguồn cảm hứng cho các thế hệ thi nhân, nhạc sĩ. Núi Hồng Lĩnh là một trong số các địa danh được khắc vào Bách khoa thư cửu đỉnh hiện đang đặt tại cố đô Huế.

Phía đông Hồng Lĩnhlàng Tiên Điền của đại thi hào Nguyễn Du, tác giả của Truyện Kiều. Phía tây nam núi Hồng lĩnh là làng "Bát cảnh Trường Lưu" của dòng họ Nguyễn Huy. Hai làng văn hiến ở hai sườn đông và tây núi Hồng Lĩnh ấy đã tạo nên một Hồng Sơn văn phái với những tác phẩm tiêu biểu như Hoa tiên (của Nguyễn Huy Tự), Mai Đình mộng ký (của Nguyễn Huy Hổ), Truyện Kiều.

Làng Thu Hoạch, Trường Lưu, Tiên Điền, Uy Viễn, Đông Thái, Yên Hội, Gôi Mỹ, Thần Đầu, Trung Lễ, Bùi Xá, Ích Hậu, Trung Lương, Ân Phú... nổi danh về truyền thống học tập, khoa bảng và văn chương.

Hà Tĩnh còn có nhiều làng văn nghệ nổi tiếng trong vùng như: làng hát ca trù Cổ Đạm, chèo Kiều Xuân Liên, hát ví phường vải Trương Lưu, hò ví dặm Đan Du, Phong Phú... Nhiều làng nền nếp, phong lưu có nhiều lễ hội, hương ước, phong tục như: Kim Chùy, Hội Thống, Đan Trường, Kim Đôi, Phù Lưu Thượng... Các làng truyền thống với những giọng hò nổi tiếng quanh núi Hồng Lĩnh, ven dòng sông Lam, sông La, sông Ngàn Sâu, sông Ngàn Phố đã để lại nhiều thơ văn và trước tác.

Ẩm thực

Các đặc sản, ẩm thực địa phương ở Hà Tĩnh như: hải sản, bánh cu đơ, nhút mít Hương Sơn, vỏ bánh ram, bánh mướt ram, bưởi Phúc Trạch, bánh đa Việt Xuyên, hồng Yên Du, mật ong rừng Vũ Quang, chè, hến sông La, mật mía Thọ Điền, nấm tràm Kỳ Anh, bánh bèo, măng, bánh ong Hương Sơn, mực nhảy Vũng Áng, cá trích nướng, nước mắm, bánh đa kê Nghi Xuân, nham chuối, bún bò Đò Trai, bánh đa chợ Cầu, dê núi Hương Sơn, bánh đa nem Thạch Hưng, bún Phương Giai, cháo canh, hồng Đông Lộ, rượu nếp Can Lộc, cam bù Hương Sơn, moi Hà Tĩnh, lạc, bánh lá Phù Lưu, quýt Kỳ Thượng, bánh ngào, cam Khe Mây, ruốc rươi cáy Nghi Xuân, trám đen Hương Sơn, bánh đúc đỏ chợ Gôi, nhung hươu Hương Sơn, bún tươi Đại Lự, bánh gai Đức Thọ, bánh vo Cẩm Xuyên.

Giao thông

Hà Tĩnh có đường Quốc lộ 1 đi qua với chiều dài 127,3 km (xếp thứ 3 trong các tỉnh có Quốc lộ 1 đi qua), 107 km đường cao tốc Bắc – Nam phía Đông, 87 km đường Hồ Chí Minh và tuyến đường sắt Bắc Nam chạy dọc theo hướng Bắc Nam với chiều dài 70 km. Tỉnh có đường Quốc lộ 8A chạy sang Lào qua cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo với chiều dài 85 km, Quốc lộ 12C dài 55 km đi từ cảng Vũng Áng qua Quảng Bình đến cửa khẩu Cha Lo sang Lào và Đông Bắc Thái Lan.[24]

Di tích

Di tích quốc gia đặc biệt

Hà Tĩnh có 2 di tích được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt:

Ngoài ra, Di tích Ngã ba Đồng Lộc ở huyện Can Lộc và Chỉ huy Sở Tiền phương Tổng cục Hậu cần, Bộ Tư lệnh 559, 500 ở huyện Hương Khê là hai điểm thuộc di tích quốc gia đặc biệt Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh.

Hà Tĩnh còn có nhiều di tích quốc gia khác

Di tích quốc gia tiêu biểu:

  • Đền thờ họ Nguyễn Hợp xã Cổ Đạm được công nhận Di tích lịch sử văn hóa quốc gia.
  • Kinh Đô Ngàn Hống theo truyền thuyết Hùng Vương đã chọn núi Ngàn Hống Hà Tĩnh để xây kinh đô Ngàn Hống và được công nhận Di tích lịch sử quốc gia.
  • Thành Sơn Phòng do Hàm Nghi đế cho xây dựng căn cứ cách mạng chống Pháp ở Hà Tĩnh và là nơi làm việc của Hoàng đế Hàm Nghi ở Hà Tĩnh được công nhận Di tích lịch sử quốc gia.
  • Đền Thờ Mai Hắc Đế ở Hà Tĩnh được công nhận Di tích lịch sử quốc gia.
  • Đền Thờ Nguyễn Xí ở Hà Tĩnh được công nhận Di tích lịch sử quốc gia.
  • Đền Thờ tổng bí thư Trần Phú được công nhận Di tích quốc gia.
  • Đề thờ Tổng bí thư Hà Huy Tập được công nhận Di tích lịch sử quốc gia.
  • Đền thờ Viện trưởng Hạt nhân Nguyễn Đình Tứ được công nhận Di tích lịch sử...vv

Thư viện ảnh

Tham khảo

  1. ^ "Danh sách dự kiến tên gọi của 34 tỉnh, thành phố và trung tâm chính trị - hành chính". vtv.vn. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.
  2. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, tập 1, dư đia chí, trang 63, 75.
  3. ^ Đại Nam nhất thống chí. NXB Thuận Hóa 2006. Trang 155, 162
  4. ^ Cuốn Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu, trang 232-233.
  5. ^ Quyết định 67-HĐBT năm 1992 về việc thành lập thị xã Hồng Lĩnh[liên kết hỏng]
  6. ^ Nghị định 27/2000/NĐ-CP về việc thành lập huyện Vũ Quang
  7. ^ "Nghị định 89/2007/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Hà Tĩnh". Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2013.
  8. ^ "Nghị quyết số 1283/NQ-UBTVQH15 của UBTVQH về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã của tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2023 – 2025". Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2024.
  9. ^ a ă â "Đặc điểm địa hình của tỉnh Hà Tĩnh". Cổng Thông tin điện tử Hà Tĩnh. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2016.
  10. ^ a ă "Đặc điểm khí hậu tỉnh Hà Tĩnh". Cổng Thông tin điện tử Hà Tĩnh. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2016.
  11. ^ "Tài nguyên rừng và động, thực vật". Cổng Thông tin điện tử Hà Tĩnh. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2016.
  12. ^ "Tài nguyên Biển tỉnh Hà Tĩnh". Cổng Thông tin điện tử Hà Tĩnh. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2016.
  13. ^ "Tài nguyên khoáng sản của tỉnh Hà Tĩnh". Cổng Thông tin điện tử Hà Tĩnh. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2016.
  14. ^ "Tài nguyên nước". Cổng Thông tin điện tử Hà Tĩnh. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2016.
  15. ^ "Toàn văn Nghị quyết số 1665/NQ-UBTVQH15 sắp xếp các ĐVHC cấp xã của tỉnh Hà Tĩnh năm 2025". Báo Điện tử Chính Phủ. ngày 16 tháng 6 năm 2025.
  16. ^ Căn cứ vào đề án số 391/ĐA-CP của Chính phủ ngày 09 tháng 5 năm 2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Hà Tĩnh năm 2025
  17. ^ "Đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2023 – 2025 của tỉnh Hà Tĩnh". 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2024.
  18. ^ a ă â b c d đ Diện tích, dân số và mật độ dân số phân theo địa phương, Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê - Bộ Tài chính
  19. ^ Thiện Lương (ngày 13 tháng 3 năm 2025). "Hà Tĩnh báo cáo Bộ Nội vụ về quy mô dân số". Báo VietNamNet. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2025.
  20. ^ a ă â Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam.
  21. ^ "Người Công giáo Hà Tĩnh luôn đồng hành cùng quê hương, đất nước".
  22. ^ "Hà Tĩnh tiến ngoạn mục vào top đầu kinh tế cả nước". Báo Pháp luật Việt Nam điện tử. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2016.
  23. ^ Hà Tĩnh Lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2009 tại Wayback Machine
  24. ^ "Giao thông tỉnh Hà Tĩnh". Cổng Thông tin điện tử Hà Tĩnh. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2016.

Liên kết ngoài