Bước tới nội dung

Tên người Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tên người Việt Nam được các nhà nghiên cứu cho rằng bắt đầu có từ thế kỷ 2 TCN và càng ngày càng đa dạng hơn.[1]

Tên người Việt Nam (chủ yếu là người Kinh và các dân tộc có cấu trúc tên tương đương như người Mường) được đặt theo thứ tự "họ trước tên sau" của vùng văn hóa Đông Á. Theo khoản 1 Điều 26 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định: “Cá nhân có quyền có họ, tên (bao gồm cả chữ đệm, nếu có). Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó”.[2] Dựa theo quy định đó, tên người Việt Nam được cấu tạo bởi hai thành phần "Họ" + "Tên":

  • Họ - phần tên chung được truyền thừa tuyệt đối qua từng thế hệ.[lower-alpha 1] Thông thường là họ từ bố, nhưng cũng có người mang họ từ mẹ. Hầu hết họ của người Việt là họ đơn âm tiết như Nguyễn, Trần, ,... nhưng cũng có họ képTôn Thất, Hoàng Phủ, Âu Dương.
  • Tên (hay Tên riêng) - phần tên dành riêng cho từng cá nhân.[3] Tên riêng bao gồm "chữ đệm" + "tên chính", trong đó chữ đệm không bắt buộc phải có, còn tên chính có thể là từ đơn âm hoặc đa âm.

Cấu trúc tên của người Việt giống với cấu trúc tên người Trung Hoatên người Triều Tiên: họ chủ yếu là họ đơn âm, và tên riêng thường là một hoặc hai từ đơn âm. Tên của người Việt thường được chọn lựa khá kỹ về mặt ngữ âm và ngữ nghĩa, dùng để phân biệt người này với người khác. Không có một nguyên tắc chung nào trong việc đặt tên, nhưng đối với tâm lý của người Việt Nam, việc đặt tên rất quan trọng vì mỗi cái tên gắn chặt với mỗi con người suốt đời. Có thể căn cứ vào đặc điểm, giới tính, hoàn cảnh gia đình, dòng họ, quê hương, xã hội, ước vọng hoặc thậm chí nỗi uất hận của người đặt tên gửi gắm vào cái tên nào đó.

Tên người Việt Nam được đọc và viết theo thứ tự họ trước tên sau. Trước đây, như là một phần của kị húy, người Việt Nam dùng họ để gọi hay xưng hô lịch sự khi xã giao, chỉ gọi tên khi là người nhà hay thân thiết như bạn bè, giống như văn hóa gọi tên của Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản. Ví dụ: Bà Trưng, Bà Triệu, Cụ Phan, Hồ Chủ tịch / Bác Hồ, Ngô Tổng thống... Từ thời Pháp thuộc, xưng hô bị ảnh hưởng bởi văn hoá Pháp, người Việt chuyển sang xu hướng gọi tên đơn ở cuối thay vì gọi họ như trước. Tuy vậy khi cần xưng hô trang trọng hơn, người Việt thường dùng cả họ tên đầy đủ (đôi khi bỏ hoặc thay chữ đệm, đặc biệt là "Thị"), hoặc gọi hai âm tiết trong tên (nếu có đệm "Thị" thì thay bằng chữ đệm khác hoặc dùng họ), như là một cách tránh gọi "trống không" và "khô khan", khiến tên không bị thô hay kém trang trọng khi gọi tới. Ví dụ như:

  • Với giới chính trị gia thì gọi đầy đủ họ tên như "Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng" (thay vì "Tổng Bí thư Trọng"), "Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng" (thay vì "Chủ tịch nước Thưởng"), "Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân" (thay vì "Chủ tịch Quốc hội Ngân"),...
  • Với giới nổi tiếng thì gọi "cầu thủ (Lê) Công Vinh" (thay vì "cầu thủ Vinh"), "ca sĩ Hoàng Bách" (thay vì "ca sĩ Bách"), "ca sĩ Hồ Ngọc Hà" (thay vì "ca sĩ " hoặc "ca sĩ Hồ Thị Ngọc Hà"), "ca sĩ Phạm Phương Thảo" (thay vì "ca sĩ Thảo" hoặc "ca sĩ Phạm Thị Thảo"), người mẫu Phạm Hương (thay vì "người mẫu Hương" hoặc "người mẫu Phạm Thị Hương").

Người Việt hải ngoại do không bị ràng buộc về quy định đặt tên ở Việt Nam, sẽ đặt tên theo thứ tự phương Tây là tên trước họ sau như Thanh Bùi, và có thể đặt tên có tiếng nước ngoài như Johnny Trí Nguyễn, Patrik Lê Giang.[4][5] Những cái tên này ràng buộc theo luật đặt tên của nước sở tại, là nơi họ sinh ra và mang quốc tịch.

Do tiếng Việt trước thời Pháp thuộc thường được viết bằng chữ Hán với chữ Nôm, nên họ và tên người Việt (nếu tên người đó không phải là tên gốc tiếng phương Tây) cũng có thể viết theo chữ Hán với chữ Nôm, chủ yếu với mục đích để biểu nghĩa (tránh đồng âm khác nghĩa), do chữ Quốc ngữ (chữ Latinh) là chữ tượng thanh nên các từ đồng âm khác nghĩa thì viết giống nhau. Ví dụ như 忠英 ("Trung Anh", trung nghĩa và anh hùng) và 梅櫻 ("Mai Anh", cây mai và cây anh đào).

Cấu trúc và độ dài

Cấu trúc

Thông thường, họ tên người Kinh được nói và viết theo thứ tự "họ trước tên sau" nhưng cấu trúc không đồng nhất tuỳ từng người. Ví dụ như bên dưới:

Nam giới
Họ và tên đầy đủ Họ[lower-alpha 2] Tên riêng
Chữ đệm (nếu có) Tên chính
Ngô Quyền Ngô Quyền
Triệu Quang Phục Triệu Quang Phục
Đinh Bộ Lĩnh Đinh Bộ Lĩnh
Lê Hoàn Hoàn
Lý Công Uẩn Công Uẩn
Trần Thủ Độ Trần Thủ Độ
Trần Cảnh Trần Cảnh
Trần Quốc Tuấn Trần Quốc Tuấn
Trần Quốc Toản Trần Quốc Toản
Hồ Quý Ly Hồ Quý Ly
Hồ Nguyên Trừng Hồ Nguyên Trừng
Lê Lợi Lợi
Lê Tư Thành Tư Thành
Mạc Đăng Dung Mạc Đăng Dung
Mạc Đăng Doanh Mạc Đăng Doanh
Trịnh Kiểm Trịnh Kiểm
Nguyễn Hoàng Nguyễn Hoàng
Nguyễn Phúc Ánh Nguyễn Phúc Ánh
Nguyễn Phúc Vĩnh San Nguyễn Phúc Vĩnh San
Tôn Thất Thuyết Tôn Thất Thuyết
Tôn Thất Tùng Tôn Thất Tùng
Tôn Đức Thắng Tôn Đức Thắng
Phạm Tuân Phạm Tuân
Hoàng Phủ Ngọc Tường Hoàng Phủ Ngọc Tường
Phan Văn Tài Em Phan Văn Tài Em
Nguyễn Phong Hồng Duy Nguyễn Phong Hồng Duy
Nguyễn Văn Toàn Nguyễn Văn Toàn
Nguyễn Ngọc Trường Sơn Nguyễn Ngọc Trường Sơn
Trần Hữu Đông Triều Trần Hữu Đông Triều
Trần Lê Quốc Toàn Trần Quốc Toàn
Trương Văn Thái Quý Trương Văn Thái Quý
Bùi Hoàng Việt Anh Bùi Hoàng Việt Anh
Nữ giới
Họ và tên đầy đủ Họ[lower-alpha 2] Tên riêng
Chữ đệm (nếu có) Tên chính
Trưng Trắc Trưng Trắc
Lê Chân Chân
Triệu Thị Trinh Triệu Thị Trinh
Lý Thiên Hinh Thiên Hinh
Nguyễn Thị Ngọc Bảo Nguyễn Thị Ngọc Bảo
Hồ Xuân Hương Hồ Xuân Hương
Lâm Thị Mỹ Dạ Lâm Thị Mỹ Dạ
Tôn Nữ Thị Ninh Tôn Nữ Thị Ninh
Nguyễn Doãn Cẩm Vân Nguyễn Doãn Cẩm Vân
Nguyễn Thị Ánh Viên Nguyễn Thị Ánh Viên
Phương Mỹ Chi Phương Mỹ Chi

Ngoài ra người Việt còn nhiều loại tên khác, có loại đã vĩnh viễn đi vào lịch sử, có loại mới xuất hiện khi Việt Nam tiếp xúc với văn hóa tây phương, có loại dành riêng cho một giai cấp hoặc tầng lớp xã hội nhất định.

Độ dài

Độ dài của một họ tên đầy đủ cho người Việt không phải đếm dựa theo số lượng ký tự chữ Quốc ngữ, mà là dựa theo số lượng âm tiết và trước kia được đếm bằng số lượng chữ Hán Nôm, từ đó sinh ra những thuật ngữ "tên 2 chữ", "tên 3 chữ",... Ví dụ: Hồ Văn Ý với 6 ký tự và Nguyễn Minh Trí với 13 ký tự (không tính dấu cách), tuy số ký tự khác nhau, thực chất là dài bằng nhau khi cùng phát âm bằng 3 âm tiết. Nếu viết theo chữ Hán Nôm tương ứng thì đều là "tên 3 chữ": Hồ Văn Ý = 胡文意, Nguyễn Minh Trí = 阮明智.

Phần lớn họ tên đầy đủ của người Việt (im đậm họ) có độ dài tiêu chuẩn từ 2 đến 4 âm tiết, trong đó:

Luật pháp Việt Nam chưa có quy định giới hạn số lượng âm tiết hay số lượng ký tự chữ Quốc ngữ của tên, nên có những trường hợp bố mẹ vì suy nghĩ nhất thời, không được thấu đáo mà đặt tên con với những cái tên bất thường với truyền thống tên người Việt, khi nó quá dài với hơn 4 âm tiết, gây khó khăn cho việc gọi tên, ghi nhớ hay lưu tên vào giấy tờ, thủ tục hành chính như Mai Phạt Sáu Nghìn Rưởi, Lê Hoàng Hiếu Nghĩa Đệ Nhất Thương Tâm Nhân, Đào Thị Long Lanh Kim Ánh Dương,...[6]

Họ

Thống kê tên họ người Việt Nam (2022)

Họ là phần tên chung được ràng buộc lưu truyền tuyệt đối qua mọi thế hệ, từ bố (hoặc mẹ) truyền cho mọi người con, không phân biệt con trai hay con gái (trừ một số trường hợp cá biệt như trẻ mồ côi không rõ cha mẹ, hay nhận con nuôi và đổi họ, hoặc đổi họ do hoàn cảnh xã hội,[lower-alpha 1]...). Tuân theo thứ tự "họ trước tên sau" của vùng văn hóa Đông Á, họ của người Việt được đặt ở đầu tiên, trước tên riêng.[7] Họ người Việt hầu hết là đơn âm. Một số họ kép có ghi nhận là Tôn Thất, Hoàng Phủ, Âu Dương. Trong đó đặc biệt là họ Tôn Thất vốn là được tách ra từ hậu duệ hoàng tộc nhà Nguyễn, và có truyền thống là đặt cho nữ giới theo họ Tôn Nữ.

Nếu như họ người ở các nước khác còn gọi là "tên gia tộc", nghĩa là những người có chung họ thường sẽ thuộc một gia tộc có chung huyết thống, thì những người Việt nếu có chung họ cũng không thể khẳng định đều là từ một gia tộc hoặc chung huyết thống. Bởi vì trong lịch sử, nhiều người đã được vua chúa ban cho họ mới, hoặc phải đổi họ (hay vay mượn họ gia đình khác) để hoạt động chính trị hoặc tránh sự trừng phạt hay tàn sát bản thân hoặc gia đình. Do ảnh hưởng thay đổi chính trị dẫn đến việc cải, đổi họ tên, họ người Việt hiện tập trung 90% dân số trong 14 họ chính.[8]

Luật pháp Việt Nam quy định mỗi cá nhân chỉ được mang một họ từ bố hoặc mẹ, nên thời gian gần đây có một số cá nhân mà trong tên chứa cả họ bố và họ mẹ, thực chất không phải là chứa họ kép chính thống, mà là họ đơn âm đi cùng chữ đệm lấy từ họ của người thân còn lại. Tục lệ này không phải là truyền thống vốn có ban đầu của Việt Nam mà là từ phong tục đặt tên với hai họ của người phương Tây, đặc biệt là Bồ Đào Nha và Pháp, thông qua truyền giáo và tiếp nhận văn hoá phương Tây từ thời Pháp thuộc. Chưa có tài liệu nào ghi nhận được một người Việt trước thời Pháp thuộc mà trong họ tên thật lại mang tới hai họ.

  • Ví dụ như Trần Lê Quốc Toàn, họ của người này không phải họ là "Trần Lê", mà họ chính xác là Trần truyền thừa từ họ bố, và là họ của mẹ đóng vai trò là chữ đệm. Do đó, con của Trần Lê Quốc Toàn sẽ phải mang họ Trần (hoặc họ của vợ), nhưng nếu mang họ Trần thì không bắt buộc phải bắt đầu là Trần Lê, vì Trần Lê không phải là một họ chính thống.

Tuy vậy, cũng vì họ người Việt hầu hết là đơn âm, nên đã xảy ra trường hợp nhầm lẫn họ kép với một họ đơn âm khác do đồng âm chữ đầu, dẫn đến chữ thứ hai của họ kép bị hiểu sai là chữ đệm, như nhầm họ Tôn Thất (cùng họ Tôn Nữ) và họ Tôn, họ Hoàng Phủ và họ Hoàng, họ Âu Dương và họ Âu. Ví dụ, Tôn Thất Bách có một người con gái được đặt tên là là Tôn Nữ Hiếu Thảo (theo họ Tôn Nữ), nhưng lại có người con trai được đặt tên là Tôn Hiếu Anh (nhầm sang họ Tôn).

Tên riêng

Tên riêng của người Việt (thường được đề cập đơn giản là "Tên"), tức phần tên dành riêng cho từng cá nhân[3] và không bao gồm họ, được đặt theo cấu trúc "chữ đệm" + "tên chính". Chữ đệm là tuỳ ý, có thể có hoặc không. Tên chính có thể là từ đơn âm hoặc đa âm.

Hầu hết tên riêng của người Việt có độ dài từ 1 đến 3 âm tiết (chủ yếu là 2 âm tiết), kết hợp với họ (thường là 1 âm tiết) tạo nên một họ tên đầy đủ từ 2 đến 4 âm tiết (chủ yếu là 3 âm tiết, xem lại tại mục Độ dài ở trên).

Chữ đệm

Chữ đệm (còn gọi là "tên đệm, "chữ lót" hoặc "tên lót") là phần của tên riêng nhưng không bắt buộc phải có, nếu có thì đứng trước tên chính.

Đặc điểm

Chữ đệm thường mang một vài vai trò cơ bản như phân biệt giới tính, thể hiện họ mẹ (khi con theo họ bố) hay phân nhánh họ (như "Phúc" trong Nguyễn Phúc, tuy nhiên chữ đệm không lưu truyền tuyệt đối như họ, đời sau có thể bỏ chữ "Phúc" đi), hoặc chỉ đơn giản là đệm cho tên riêng được gọi nghe hay hơn và đỡ "khô khan" hơn. Vì chữ đệm không bắt buộc phải có, do vậy không phải người Việt nào cũng có chữ đệm như Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Phạm Tuân, Tôn Thất Tùng, Trần Đăng Khoa[lower-alpha 3].

Trước đây, chữ đệm phổ biến nhất của người ViệtVăn (文), Hữu (有) dùng cho nam giớiThị (氏) dùng cho nữ giới. Ví dụ như Thị Kính, Thị Mầu trong Quan Âm Thị Kính, Thị Nở trong Chí Phèo, hay Hoàng Thị Ngọ trong Ngày xưa Hoàng Thị đều là nữ. Nhưng ngày nay, những chữ đệm này lại không được người Việt ưa thích vì chúng được cho rằng không hay bằng những chữ đệm khác, đặc biệt là "Thị":

  • Chữ "Thị" (氏) vốn là của từ thị tộc (氏族) mang nghĩa là "người/vật của dòng họ" (như Hồng Bàng thị, Đại Lý Đoàn thị, Lý thị Triều Tiên, Phan thị,...). Do vậy xét tới liên kết nghĩa với tên chính thì chữ "Thị" không có tác dụng bổ nghĩa cho tên chính. Thời phong kiến, người con gái thường không gọi đầy đủ họ cùng tên riêng mà gọi bằng họ + "Thị" (như Tô Thị), do vậy có rất nhiều nữ giới thuộc thời kỳ đó không thể được lưu lại rõ ràng danh tính trong các tài liệu lịch sử do bị khuyết tên riêng bởi cách gọi này.
  • Chữ "Thị" (氏) cũng đồng âm với một chữ "Thị" (侍, khác chữ Hán) có nghĩa là "hầu hạ", như trong thị vệ (侍衛), hay thị nữ (侍女) có nghĩa là "hầu gái", khiến nữ giới mang cảm giác bị đánh giá thấp kém.
  • Quan điểm của người Việt với chữ đệm "Thị" cũng khác hẳn với hầu hết các chữ đệm khác trong việc gọi tên nữ giới, khi cho rằng gọi chỉ kèm "Thị" mà không kèm thêm họ sẽ bị coi là không tôn trọng với đối phương, còn với chữ đệm khác là điều bình thường. Ví dụ như "Nguyễn Ngọc Hoa" thì có thể gọi thành "Ngọc Hoa", nhưng "Nguyễn Thị Hoa" lại không thể gọi thành "Thị Hoa" một cách thoải mái được.

Do đó một số lượng không nhỏ phụ nữ Việt Nam hiện nay sở hữu chữ đệm "Thị" có hành động tẩy chay như bỏ hẳn chữ "Thị" hoặc thay bằng chữ khác khi viết hay xưng đầy đủ họ tên. Ví dụ tẩy chay chữ "Thị" ngoài đời có:

  • Hồ Thị Ngọc Hà bỏ đi chữ "Thị" và hoạt động nghệ thuật dưới tên "Hồ Ngọc Hà".[9]
  • Tăng Thị Thanh Hà bỏ đi chữ "Thị" và hoạt động nghệ thuật dưới tên "Tăng Thanh Hà".
  • Phạm Thị Thảo thay chữ "Thị" bằng chữ "Phương" và hoạt động nghệ thuật dưới tên "Phạm Phương Thảo".
  • Phạm Thị Hương bỏ đi chữ "Thị" và hoạt động nghề mẫu dưới tên "Phạm Hương".[10]
  • Trên poster phim Kiều do Mai Thu Huyền sản xuất, công bố nữ diễn viên Trình Thị Mỹ Duyên trong vai chính, tên của cô được viết là "Trình Mỹ Duyên" và bỏ đi chữ "Thị".[11]

Nhiều người cũng có tư tưởng xác định phần tên giữa không được coi là chữ đệm, và tên chính sẽ là một tên ghép có hai âm tiết trở lên.

Hình thức và mối liên kết nghĩa

Xét về hình thức: chữ đệm nếu có thường là đơn âm như Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Ngọc Trường Sơn

Xét về mặt liên kết ngữ nghĩa:

  • Chữ đệm độc lập ngữ nghĩa: là loại chữ đệm không phối hợp được với tên họ hay tên chính để làm thành từ ghép. Ví dụ với Nguyễn Đình ChiểuVăn Sơn thì từ "Đình" hay "Văn" không thể phối hợp với tên họ hoặc tên chính để làm thành từ kép có một ý nghĩa khác.
  • Chữ đệm phối hợp với tên chính: hầu hết tên chính người Việt Nam là âm Hán-Việt. Trong văn chương, các từ này được coi là hay hơn các từ Nôm nên khi đặt tên người ta cố gắng lựa chữ đệm nào có thể đi chung với tên chính để có ý nghĩa rộng hơn, tốt đẹp hơn như Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Trọng Thành Công...
  • Chữ đệm phối hợp với họ: rất ít tên người Việt có chữ đệm phối hợp được với tên họ để làm thành từ kép có ý nghĩa như Hoàng Kim Vui, Văn Trung...

Vai trò của chữ đệm

Chữ đệm không bắt buộc phải có, nên chức năng của nó đôi khi cũng không rõ ràng. Một số chữ đệm có chức năng cơ bản như:

  • Phân biệt giới tính: nữ giới với chữ đệm "Thị"; nam giới với chữ đệm "Văn", "Hữu",...
  • Phân biệt nhánh trong một dòng họ lớn: Nguyễn Phúc, Ngô Thì,... Về bản chất đây chỉ là rẽ nhánh bằng chữ đệm, không phải là các họ kép chính thống từ đầu như Tôn Thất hay Hoàng Phủ. Vì chữ đệm không mang tính lưu truyền tuyệt đối qua các thế hệ giống như họ, nên nó có thể sẽ bị bỏ đi vào một thế hệ nào đó.
  • Thẩm mỹ: một số chữ đệm chỉ có chức năng thẩm mỹ để cho tên riêng được gọi nghe hay hơn và bớt "khô khan", như dùng từ Hán-Việt có ý nghĩa tốt như các từ chỉ vật quý, mùa đẹp, màu đẹp, từ chỉ phẩm hạnh, tài năng: Xuân, Thu, Cẩm, Châu, Hồng, Hoàng, Đức, Hạnh, Đình, Đại...
  • Tri ân song thân:
    • Chữ đệm lấy từ họ của mẹ (hoặc bố): hầu hết người Việt đều mang họ bố, nên có một số lượng được đặt chữ đệm từ họ mẹ như một sự tri ân như Trần Quốc Toàn (có mẹ là Thị Quỳnh Nga), hoặc ngược lại khi mang họ mẹ và chữ đệm theo họ bố như Cao Pendant Quang Vinh (mẹ là Cao Ngọc Châu, người Việt Nam, còn Pendant là họ của người bố gốc Pháp).[12]
    • Chữ đệm lấy từ họ gốc khi thay đổi họ tên: người đi làm con nuôi một nhà họ nào đó thì lấy họ nhà ấy, và chuyển họ gốc của bản thân sang làm chữ đệm.
    • Lấy chữ đệm của bố hoặc mẹ làm chữ đệm cho con: Huy Cận (bố) > Huy Hà Vũ (con),...
    • Lấy tên chính hay toàn bộ tên riêng của bố hoặc mẹ làm chữ đệm cho con: Nguyễn Cao Kỳ (bố) > Nguyễn Cao Kỳ Duyên (con),...

Tên chính

Tên chính là phần cuối của tên riêng, dùng để xác định chính xác một cá nhân và nó mang một ý nghĩa mà người khai sinh gửi gắm tới cá nhân đó. Tên chính thường có 1 âm tiết như Ngô Quyền, Chu Văn An, Tôn Nữ Thị Ninh, hoặc 2 âm tiết như Nguyễn Phúc Vĩnh San, Trương Mỹ Hoa, Nguyễn Thị Kim Ngân...

Lưu ý tên chính khác với tên thường gọi ở cuối. Người Việt có tập quán gọi tên đơn âm cuối cùng, nhưng nhiều trường hợp chỉ riêng tên đơn âm cuối là chưa đủ mà nó cần phải kết hợp với một phần tên đứng trước (mà thường bị hiểu nhầm là chữ đệm) mới tạo nên tên chính mang ý nghĩa đích thực. Ví dụ:

  • Nguyễn Ngọc Trường Sơn, tên người này phân tích đúng sẽ là họ: "Nguyễn"; chữ đệm: "Ngọc"; tên chính: "Trường Sơn" (nghĩa là "núi dài"). Do tập quán thường gọi chữ cuối cùng là "Sơn", nên thường có sự hiểu nhầm rằng chữ đệm là "Ngọc Trường" (không có ý nghĩa gì) và tên chính là "Sơn".
  • Trương Mỹ Hoa, tên người này phân tích đúng sẽ là họ: "Trương"; tên chính: "Mỹ Hoa" (nghĩa là "bông hoa đẹp"), và không có chữ đệm. Do tập quán thường gọi chữ cuối cùng là "Hoa", nên thường có sự hiểu nhầm rằng "Mỹ" là một chữ đệm.

Đặc điểm

Tên chính của người Việt thường có những đặc điểm sau:

  • Có lựa chọn và có lý do:
    • Người Việt Nam quan niệm tên chính là một bộ phận gắn chặt với người mang tên đó. Tục ngữ có câu: "Xem mặt đặt tên", bởi vậy khi đặt tên người ta thường chọn lựa kỹ và căn cứ đặc điểm, giới tính, hoàn cảnh gia đình, dòng họ, quê hương xã hội, ước vọng bố mẹ... mà chọn, không đặt tùy tiện. Ngoài ra còn có những cái tên theo ngày kỷ niệm, theo sự kiện như "Quốc Khánh" (cho trẻ sinh ngày 2/9), "Thống Nhất" (cho trẻ sinh ngày 30/4),...
    • Tuy nhiên, nhiều bố mẹ đặt tên con tuỳ tiện vì cảm xúc nhất thời, lý do rất vô nghĩa mà không suy nghĩ cho tương lai của con như:
      • Chọn tên để ghi dấu biến cố xảy ra: lấy số tiền bị phạt do sinh đẻ vượt kế hoạch để đặt tên cho con như "Mai Phạt Sáu Nghìn Rưởi" hoặc "Mai Phạt Ba Ngàn Rưởi".[13]
      • Chọn tên con chỉ để xả giận cho bản thân bố mẹ khi gặp chuyện bức xúc trong cuộc sống: Dương Thị Ly Tan, Lê Thị Vô Lý, Võ Thị Xin Thôi, Hoàng Thị Hoãn, Nguyễn Thị Nghĩa Trang, Trần Uất Hận, Trần Trường Hận, Vũ Văn Hận Đời...[14]
      • Đặt tên "độc lạ", "nghe rất hoành tráng", nhưng thực tế quá dài, gây khó nhớ và khó lưu trữ trên giấy tờ: Lê Hoàng Hiếu Nghĩa Đệ Nhất Thương Tâm Nhân, Đào Thị Long Lanh Kim Ánh Dương,...
      • Lấy tên người yêu cũ hoặc kẻ thù để đặt tên.[15]
      • Lấy tên dịch bệnh, virus để đặt tên con: Nguyễn Cô Vy ("Cô Vy" là đọc tắt kiểu Việt hóa cho "Coronavirus" và tên dịch bệnh COVID-19).[16]
      • Đặt tên con chỉ vì sở thích của bản thân: Đỗ Rê Mon (vì ông bố thích đọc Doraemon),[17] Phan Hết Gas hết Số (vì ông bố thích đua xe),...[18]
  • Số lượng phong phú: So với họ và chữ đệm, tên chính phong phú hơn về số lượng. Do có tính lựa chọn, những cái tên mang nghĩa tích cực thường được chọn nhiều hơn những cái tên mang nghĩa tiêu cực đối với cả hai giới tính. Ví dụ, những cái tên như: Mạnh, Dũng, Tuấn, Phương, Dung, Hạnh... thì luôn phổ biến hơn những tên là Lừa, Bịp, Dốt, Sầu, Đau...
  • Âm Hán-Việt giữ vai trò chủ đạo: hầu hết người Việt sử dụng các từ vựng theo âm Hán-Việt cho tên, thay vì dùng từ vựng theo âm thuần Việt. Ví dụ như Mỹ Hoa (thay vì "Hoa Đẹp"), Kim Ngân (thay vì "Vàng Bạc"), Kim Chi (thanh vì "Cành Vàng"), Hải Yến (thay vì "Én Biển"), Trường Sơn (thay vì "Núi Dài"), Quang Hải (thay vì "Biển Sáng"),...
  • Có sự xác định giới tính: Về nguyên tắc, tên chính của nam nữ không có gì để phân biệt. Tuy nhiên căn cứ vào ý nghĩa của tên chính ấy, phối hợp tên chính với chữ đệm và dựa vào thói quen có thể phán đoán tương đối một tên là nam hay nữ.
    • Tên nữ thường là tên loài hoa: Mai, Lan, Cúc, Hoa, Hương...; tên loài chim đẹp có tiếng hót hay: Yến, Oanh...; tên đá quý: Bích, Ngọc, Trân...; tên loại vải quý: Nhung, Gấm, Là, Lụa...; từ ngữ chỉ đức tính: Hạnh, Thảo, Hiền, Dung...; hay từ ngữ có âm thanh nhẹ nhàng, có ý nghĩa hoa mỹ: Vân, Thúy, Diễm, Lệ, Nguyệt, Nga, Trang, Huyền, Ngân...
    • Tên nam thường được chọn trong các tiếng biểu lộ được sự mạnh mẽ về thể xác lẫn tinh thần. Tên nam thường là tiếng chỉ sức mạnh: Cương, Cường, Hùng, Tráng, Dũng...; tiếng chỉ trí tuệ: Thông, Minh, Trí, Tuệ, Quang, Sáng...; tiếng chỉ đức hạnh: Nhân, Trung, Tín, Lễ, Nghĩa, Công, Hiệp, Phúc... hay tiếng chỉ tiền tài danh vọng: Phú, Quý, Kim, Tài, Danh, Đạt... hay chỉ địa vật như Sơn, Giang, Lâm, Hải, Dương...; hoặc một số từ có âm hưởng mạnh mẽ như Long, Quốc...
    • Ngoài ra còn có tên trung tính (cả nam và nữ đều dùng được) được người Việt Nam sử dụng khá phổ biến như Anh, An, Bình, Hà, Khánh, Linh, Lương, Nguyên, Tâm, Thanh, Tú. Trong các trường hợp này có thể phân biệt giới tính của tên thông qua chữ đệm, ví dụ như Quốc Khánh là tên nam còn Ngân Khánh là tên nữ.
  • Kị huý: tuy đã có sự giảm bớt so với thời phong kiến qua việc người không thân thiết cũng gọi nhau bằng tên cuối thay vì họ, việc kị huý của người Việt vẫn còn áp dụng ở nhiều gia tộc, khi đặt tên không được trùng với tên thần thánh, vua chúa, những người thuộc thế hệ trước của gia đình, gia tộc.[19] Ngoài ra dù Bộ Tư pháp chưa có văn bản nào chính thức quy định việc cấm đặt tên theo các chính khách, danh nhân..., nhưng điều này gần như trở thành luật "bất thành văn" trong việc đặt tên. Ví dụ, nếu đặt tên là Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp... thì thường sẽ khó được chấp nhận trong xã hội Việt Nam.

Tục lệ đặt tên

Ở Việt Nam, thời hạn đặt tên cho con - tính từ ngày sinh - thay đổi theo từng vùng. Người Kinh, theo phong tục xưa thì không đặt tên ngay khi đứa trẻ mới chào đời mà chỉ gọi nôm na như thằng cu, cái nhỏ, thằng Tèo, cái Tộp... (những tên này hiện nay ít được sử dụng. Nếu có thì sẽ xảy ra khi một người lớn tuổi gọi một đứa trẻ hoặc trẻ vị thành niên khi không biết tên của người đó), hoặc một cái tên gì đó xấu xí trong vòng 100 ngày để ma quỷ khỏi bắt nó đi.[20][21]Huế nói riêng, đúng 100 ngày sau mới làm lễ tạ ơn "mười hai bà mụ" bấy giờ mới đặt tên húy.[22][23] Tên húy là tên chính thức của mỗi người, thường do bố mẹ đặt. Tên chính còn được gọi là tên húy, tên thật, hay tên khai sinh.

Một số địa phương khác, trong dịp tế tổ, các gia đình có con cháu mới sinh sắm sửa cơi trầu, chai rượu, hương hoa, lễ vật đến nhà thờ họ yết cáo tiên tổ và vào sổ họ cho các con trai trước lễ yết cáo, ngày đó mới có tên húy chính thức, được họ hàng công nhận. Trong khi vào sổ họ phải đối chiếu gia phả để xem có trùng tên các vị tiên tổ hoặc ông bà chú bác trong nội thân hay không. Nếu có tức là phạm húy thì phải đổi tên. Ở nông thôn, các vị có uy vọng trong làng, trong họ thường được dân chúng biếu trầu rượu và nhờ đặt tên cho con. Người đặt tên được gia đình đó nhớ ơn suốt đời.[24]

Theo nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ Việt Nam về đăng ký và quản lý hộ tịch, trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con; bố, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu bố mẹ không thể đi khai sinh thì ông bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ.[25]

Những cách chọn tên chính phổ biến

  • Chọn tên có liên hệ với họ tên bố, mẹ hoặc anh, chị: Nghị hay Đồng (tên bố là Hội); Điểm hay Đài (khi tên chị là Trang)...
  • Chọn tên liên hệ đến ngành nghề, sản phẩm[cần dẫn nguồn]: Sĩ, Nông, Công, Thương; Cột, Kèo, Rui, Mèn...
  • Lấy số thứ tự: Một, Hai, Ba... hay Nhất (Đại), Nhị, Tam...
  • Lấy tên động vật thực vật: Loan, Phụng, Sơn Ca...; Hồng, Lan, Huệ...
  • Tên mang ý nghĩa tốt đẹp: Phúc, Lộc, Thọ, Đoan, Trang, Tuyết, Trinh, Hiền, Thương, Hùng, Dũng, Bảo, Trân, Trọng, Châu...
  • Tên biểu lộ bố con cùng huyết thống ví dụ tên các chúa Trịnh: Kiểm, Tùng, Tráng, Tạc, Căn, Cương, Giang, Doanh, Sâm, Cán, Khải đều thuộc bộ Mộc còn tên các chúa Nguyễn: Kim, Hoàng, Nguyên, Lan, Tần, Trăn, Chu, Trú đều thuộc bộ Thủy...
  • Theo địa danh nơi sinh: Ngụy Như Kontum
  • Theo thời gian sinh như Xuân, Hạ, Thu, Đông; hoặc , Sửu, Dần... hoặc; Giáp, Ất, Bính...
  • Lấy tiếng nước ngoài như: Phạm Bá Rose, Vũ Thị Noel, Đặng Thị Milla... Tuy nhiên, tên dạng này sẽ không được luật pháp Việt Nam công nhận do không đúng cấu trúc chính tả và từ vựng tiếng Việt.
  • Nhận tên theo một bài thơ để phân biệt thế hệ: như vua Minh Mạng đã làm một bài thơ và quy định cho con cháu phải đặt tên theo bài thơ đó:
Miên, Hồng, Ưng, Bửu, Vĩnh
Bảo, Quý, Định, Long, Trường
Hiền, Năng, Kham, Kế, Thuật
Thế, Thụy, Quốc, Gia, Xương.

Theo bài thơ trên, tên các hoàng tử thuộc dòng đế, mỗi thế hệ sẽ dùng một bộ chữ.

Lúc mới sinh, các trẻ sơ sinh thường được gọi bằng tên quai nôi hay tên cúng cơm như: Tèo, Tộp, Út, Thôi, Nữa, Gắng, Ráng... và cũng có thể là Tom, Henry, Ghita, Mary... Chỉ tên chính được ghi trong giấy khai sinh khi đăng ký và trong mọi hồ sơ về sau này.

Quy định về họ tên trong luật pháp Việt Nam

Bộ luật Dân sự Việt Nam ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2015 là bộ luật mới nhất quy định về họ tên trong luật pháp Việt Nam,[2] với 3 điều luật được quy định trong phần thứ nhất (Những quy định chung), chương III (Cá nhân), mục 2 (Quyền nhân thân):

  • Điều 26: Quyền có họ, tên.
  • Điều 27: Quyền thay đổi họ.
  • Điều 28: Quyền thay đổi tên.

Quyền có họ, tên

  1. Cá nhân có quyền có họ, tên (bao gồm cả chữ đệm, nếu có). Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó.
  2. Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha, mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán. Trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ.
    • Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của người đó.
    • Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người có yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em, nếu trẻ em đang được nuôi dưỡng tạm thời tại cơ sở nuôi dưỡng.
    • Cha đẻ, mẹ đẻ được quy định tại Bộ luật này là cha, mẹ được xác định dựa trên sự kiện sinh đẻ; người nhờ mang thai hộ với người được sinh ra từ việc mang thai hộ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
  3. Việc đặt tên bị hạn chế trong trường hợp xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.
    • Tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ.
  4. Cá nhân xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự theo họ, tên của mình.
  5. Việc sử dụng bí danh, bút danh không được gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Quyền thay đổi họ

  1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ trong trường hợp sau đây:
    • Thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại.
    • Thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi.
    • Khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ cho người đó theo họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ.
    • Thay đổi họ cho con theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc của con khi xác định cha, mẹ cho con.
    • Thay đổi họ của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình.
    • Thay đổi họ theo họ của vợ, họ của chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại họ trước khi thay đổi.
    • Thay đổi họ của con khi cha, mẹ thay đổi họ.
    • Trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.
  2. Việc thay đổi họ cho người từ đủ 9 tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó.
  3. Việc thay đổi họ của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo họ cũ.

Quyền thay đổi tên

  1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi tên trong trường hợp sau đây:
    • Theo yêu cầu của người có tên mà việc sử dụng tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó.
    • Theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi tên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại tên mà cha đẻ, mẹ đẻ đã đặt.
    • Theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con.
    • Thay đổi tên của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình.
    • Thay đổi tên của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại tên trước khi thay đổi.
    • Thay đổi tên của người đã xác định lại giới tính, người đã chuyển đổi giới tính.
    • Trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.
  2. Việc thay đổi tên cho người từ đủ 9 tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó.
  3. Việc thay đổi tên của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo tên cũ.

Thủ tục

Những cái tên gây nhầm lẫn, phiền toái, phản cảm, ảnh hưởng xấu đến cuộc sống tinh thần... làm cho người mang tên khó hòa nhập với cuộc sống, có thể xin đổi lại, theo điều 28 của Bộ Luật Dân sự 2015, dù việc này có thể gặp rắc rối khi thay đổi cho đồng bộ các giấy tờ liên quan như sổ hộ khẩu, học bạ, chứng minh nhân dân, giấy tờ nhà đất, xe cộ...

Thẩm quyền đăng ký việc thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh; xác định lại dân tộc đó được đăng ký trong bản chính giấy khai sinh là ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc nơi đã đăng ký khai sinh của người có đơn yêu cầu.

Người xin thay đổi, cải chính hộ tịch phải nộp đơn (theo mẫu quy định) và xuất trình các giấy tờ sau đây: bản chính giấy khai sinh, sổ hộ khẩu gia đình (hoặc giấy đăng ký tạm trú có thời hạn hoặc giấy xác nhận cư trú của cơ quan công an) của người có đơn yêu cầu, chứng minh nhân dân.

Thời hạn giải quyết là 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Những trường hợp phải thay đổi tên xảy ra trong lịch sử

Trong lịch sử Việt Nam, một lượng người Việt đã thay đổi tên do một trong các nguyên nhân sau:

  • Phạm húy vua: Phan Văn San do trùng tên húy vua Duy Tân (Nguyễn Phúc Vĩnh San) nên phải đổi thành Phan Bội Châu.
  • Được vua đổi tên: vua có lệ ban tên (tứ danh) cho các quan được vua chiếu cố. Nguyễn Hễ (tiến sĩ cập đệ nhất danh khoa Giáp Tuất 1514) được vua Lê Tương Dực đổi tên là Nguyễn Đức Lượng; Nguyễn Văn Chương được vua Tự Đức đổi là Nguyễn Tri Phương.
  • Một số người do thi hỏng nên đổi tên. Nguyễn Thắng thi hội hai lần không đỗ nên đổi thành Nguyễn Khuyến, Trần Duy Uyên thi hương hỏng nên đổi là Trần Tế Xương, rồi Trần Cao Xương và, cuối cùng, quay lại Trần Tế Xương.
  • Tên xấu đổi thành tên đẹp.
  • Trốn tránh không để chính quyền biết được nhân thân như:
    • Trốn lính: Một số người ở miền Nam Việt Nam trước 1975 đổi tên, đổi ngày tháng năm sinh để trốn lính.
    • Đổi tên để hoạt động cách mạng.
    • Trốn lệnh truy nã, trốn nợ, trốn vợ chồng, muốn rũ bỏ một quãng đời trước đó (thường kèm theo di chuyển nơi ở).

Việc đăng ký tên được thực hiện tại mỗi làng xã qua lệ mỗi năm khai số hộ, đàn ông 18 tuổi gọi là hoàng nam, từ 20 tuổi trở lên gọi là đại nam để phục vụ việc thu thuế thân. Nếu là phụ nữ, phải cải trang thành nam thì mới có tên để đăng ký dự thi, trường hợp tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ[26] là một ví dụ. Bố bà vì tiếc tài con gái, cho cải trang thành nam [27] để đi học và đổi thành tên Nguyễn Du.[28]

Từ khoa thi năm 1829 học trò ứng thi phải khai đủ tên họ, lý lịch ông bố ba đời trên mặt quyển, lời khai phải được lý trưởng chứng nhận. Những người có ông bố ba đời làm nghề xướng ca, hay can án trộm cắp, hoặc làm giặc đều không được đi thi, cho nên nhiều người muốn đi thi đành phải thay tên đổi họ. Thời nhà Lê có khi lý trưởng còn phải ra tận trường thi để nhận diện thí sinh, tránh những vụ nhờ người đi thi hộ. Nhiều người ở xa đến kỳ thi không kịp về nguyên quán để thi cũng phải khai gian nên năm 1832 lại có đạo dụ cấm không được đổi tên họ quê quán để đi thi.

Lệ quy năm 1831 định rằng họ tên, quê quán phải được duyệt xét cho tường tận, đích xác rồi quan Trấn mới đóng ấn triện vào, sau đó Học quan mới chuyển quyển thi vào trường.[27]

Các loại tên khác

Xưng hô tên của người Việt

Cách xưng hô cho tên của người Việt thay đổi theo các tầng lớp trong xã hội, ngoài ra thay đổi theo tuổi tác, giới tính... Ngày nay, người Việt hay dùng tên đơn âm ở cuối để xưng hô, gọi, giao tiếp. Việc chỉ dùng họ là rất ít, trừ những người đặc biệt có tầm ảnh hưởng rất lớn tới chính trị, kinh tế và xã hội Việt Nam như Hồ Chí Minh - "Bác Hồ".

Trong môi trường cần sự chuyên nghiệp và trang trọng như một chương trình hay sự kiện, hoặc đề cập tới người có danh tiếng, để tránh cho tên bị gọi một cách "trống không" hay "khô khan", người Việt dùng đầy đủ họ và tên, hoặc dùng hai âm tiết trong tên để xưng hô, và tuỳ từng trường hợp chữ "Thị" có thể bị lược bỏ. Ví dụ:

Tên đầy đủ Cách xưng tên thường thấy Cách xưng tên không thường thấy
Nguyễn Thị Hương Nguyễn Thị Hương
Nguyễn Hương
Thị Hương
Nguyễn Lan Hương Nguyễn Lan Hương
Lan Hương
Nguyễn Hương
Nguyễn Thị Lan Hương Nguyễn Thị Lan Hương
Lan Hương
Nguyễn Hương
Thị Lan Hương

Đối với vua chúa

Đối với vua

  • Gọi bằng họ và miếu hiệu: Lý Thái Tổ, Lê Thánh Tông (có trường hợp đặc biệt như vua Lê Đại Hành, trong đó "Đại Hành" không phải là miếu hiệu mà là từ thường dùng để xưng hoàng đế mới băng hà, song vì vua kế vị là Lê Long Đĩnh không đặt thụy hiệu, miếu hiệu nên "Đại Hành" trở thành hiệu của vua Lê Hoàn luôn).
  • Gọi bằng họ kèm niên hiệu: Trần Trùng Quang, Lê Chiêu Thống,...
  • Gọi bằng niên hiệu: Quang Trung, Gia Long, Tự Đức hoặc thêm từ "vua" vào trước trở thành: vua Quang Trung, vua Gia Long, vua Tự Đức...
  • Gọi bằng thụy hiệu: Lý Chiêu Hoàng, Trần Giản Định,...
  • Gọi bằng tên chính thức (cách gọi phổ biến): Hồ Quý Ly, Mạc Đăng Dung,...

Đối với chúa

  • Gọi bằng tên tước và tên chính: Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, Định Vương Nguyễn Phúc Thuần, có trường hợp chỉ cần gọi tước như "Hiền Vương" (Nguyễn Phúc Tần).
  • Dùng từ "chúa" và tên thường gọi: Chúa Sãi, Chúa Hiền...
  • Gọi bằng tên chính thức: Nguyễn Hoàng, Trịnh Sâm...
  • Gọi bằng họ kèm chữ "Vương": Nguyễn Vương (chỉ Nguyễn Phúc Ánh trong giai đoạn trước khi lên ngôi).

Đối với nho sĩ, quan lại

Nho sĩ

Quan lại

  • Dùng chức vụ và tên chính: Nghị Quế, Hương Điểm, Xã Tài, Đề Thám,..
  • Dùng phẩm hàm và tên chính: Thiên hộ Dương, Bá Nọn...
  • Chỉ gọi chức vụ: Binh, Cai, Đội, Lý (lý trưởng), Bạ (chưởng bạ), Tham (tham tá)...
  • Chỉ gọi phẩm hàm: Ôn Như Hầu, Thiếu (thái tử thiếu bảo), Hường (hồng lô tự khanh), Cửu (cửu phẩm), Bát (bát phẩm)...

Đối với lãnh tụ, trí thức

Đối với lãnh tụ

  • Dùng từ xưng hô và họ: Cụ Phan (Phan Bội Châu); Cụ Huỳnh (Huỳnh Thúc Kháng)..., trong một vài trường hợp, từ xưng hô lại trở thành danh từ riêng như từ "Bác": Bác Hồ; Bác Tôn...
  • Dùng họ và phẩm hàm: Trần Hưng Đạo
  • Dùng họ kết hợp chức vụ: Hồ Chủ tịch, Ngô Tổng thống (Ngô Đình Diệm)...
  • Cách phổ biến hơn là dùng danh từ chỉ chức vụ hoặc quân hàm và họ tên đầy đủ: Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp...

Đối với trí thức

  • Dùng học hàm, học vị và tên chính: Giáo sư Cẩn, Tiến sĩ Dương, Kỹ sư Hòa, Bác sĩ Long...
  • Dùng học hàm, học vị và họ tên: Phó giáo sư Nguyễn Nguyên Trứ, Giáo sư Tiến sĩ Trần Kim Thạch...
  • Có khi dùng họ và từ "quân" để gọi: Lê quân, Phạm quân... (cách gọi này ngày nay hiếm gặp).
  • Một số phụ nữ được gọi theo tên chồng: Bà Ngô Bá Thành, Bà Nguyễn Phước Đại...

Đối với văn nghệ sĩ

  • Dùng tự, hiệu hoặc bút danh và họ tên đầy đủ: Ưu Thiên Bùi Kỷ, Thuần Phong Ngô Văn Phát...
  • Đơn giản chỉ dùng bút danh, nghệ danh: Đông Hồ, Út Trà Ôn...
  • Dùng từ chỉ ngành nghề và bút danh, nghệ danh: Nhà thơ Tố Hữu, nghệ sĩ Kim Cương, ca sĩ Hồng Vân...
  • Dùng họ và tự, hiệu: Nguyễn Tố Như, Lê Thọ Xuân...
  • Dùng biệt hiệu, biệt danh, nghệ danh: Ưng Hoàng Phúc, Bảo Thy, Sơn Tùng M-TP, Soobin Hoàng Sơn, Quang Anh Rhyder,...

Đối với tu sĩ

Phật giáo

Công giáo

  • Dùng từ chỉ chức vụ và họ tên thật: Linh mục Võ Thành Trinh, Hồng y Trịnh Văn Căn...
  • Dùng từ chỉ chức vụ, tên thánh và họ tên thật: Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình...
  • Đơn giản dùng từ chỉ chức vụ và tên chính: Cha Trinh, Giám mục Bình...
  • Đơn giản dùng từ chỉ chức vụ và tên thánh: Cha Phan-xi-cô,Cha Giu-se...

Cao Đài giáo

  • Dùng từ để chỉ chức vụ, Thánh danh: Đầu sư Thái Bộ Thanh, Đầu sư Thượng Sáng Thanh, Đầu sư Ngọc Nhượn Thanh, Nữ Đầu sư Hương Thanh, Nữ Đầu sư Hương Hiếu...

Tin lành

  • Dùng từ chỉ chức vụ và tên các vĩ nhân (Cựu Ước): Mục sư Isaac,Truyền Đạo Daniel...
  • Dùng từ chỉ chức vụ và tên thật: Mục sư Phạm Đình Nhẫn
  • Đơn giản dùng từ chỉ chức vụ và tên: Mục sư Nhẫn

Xưng hô trong dân thường

Gọi theo họ tên

  • Dùng tên chính: Ngọc, Lan, Mai, Hoa... áp dụng khi người lớn tuổi gọi người nhỏ tuổi hơn (như bố mẹ gọi con, cô chú gọi cháu, thầy cô giáo gọi học sinh...) hoặc giữa những người có quan hệ gần gũi thân thiết với nhau.
  • Dùng tên chính sau một từ xưng hô: anh Hoa, chị Mai, cô Thắm, cụ Tâm (người có vai vế thấp gọi người có vai vế cao hơn hoặc người nhỏ tuổi gọi người lớn tuổi hơn buộc phải gọi theo hình thức này) hay thằng Minh, con Liễu... (người lớn tuổi gọi người nhỏ tuổi hơn).
  • Dùng tên chính và thêm những từ ni những nhân vật lịch sử: Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân...

Gọi theo ngôi thứ

  • Dùng từ xưng hô và thứ bậc (trong gia đình của người mang tên): anh Cả, thằng Hai, chị Ba, con Bảy, dượng Mười... như Cả Đỏ (Nguyễn Lương Bằng), Bảy Cường (Phạm Hùng), Sáu Dân (Võ Văn Kiệt). Đặc biệt, người miền Nam (chỉ người miền Nam) gọi con trưởng là "Hai", gọi con thứ nhì là "Ba"...
  • Dùng thứ bậc và tên chính: Ba Khiết, Tư Hồng...
  • Dùng từ xưng hô, thứ bậc và tên chính: anh Tư Rô, bác Cả Hồng...

Gọi kèm tên vợ hoặc chồng

  • Út Tịch là tên của bà Nguyễn Thị Út, có chồng tên là Tịch.
  • Vợ chồng xưng hô: anh-em, mình-tôi, ông xã-bà xã, mẹ nó-bố nó...
Gọi theo tên chồng

Đối với một số vùng nông thôn ở miền Bắc, người ta thường gọi vợ một người nào đó theo tên của chồng. Chẳng hạn chồng là A vợ là B nhưng người ta gọi B là "bà A". Cách gọi này thông dụng đến nỗi có khi những ai con cháu của bà B cũng không biết được tên thật của bà B.

Tuy nhiên, phụ nữ Việt Nam khi kết hôn vẫn giữ và dùng tên họ riêng theo khai sinh mà không đổi theo tên họ nhà người chồng.

Gọi theo tên con

  • miền Nam Việt Nam người ta thường gọi gắn tên con đầu lòng theo kiểu: "danh từ xưng hô + từ chỉ thứ bậc + tên chính con đầu lòng": chị Hai Tùng, anh Ba Hiển...[cần dẫn nguồn]
  • Ở nhiều vùng thuộc tỉnh Thanh Hoá, những người đã lên chức ông bà (hoặc đã già) cũng được gọi gắn tên con đầu lòng nhưng không kèm từ chỉ thứ bậc. Ví dụ ông Dương, bà Dương là tên thường gọi của bố và mẹ anh Dương. Nhưng khi đã qua đời thì không được gọi theo tên con nữa mà gọi theo tên khai sinh, còn gọi là "tên cúng cơm".
  • Ở nông thôn miền Bắc Việt Nam bố, mẹ thường gọi nhau theo tên hoặc tên tục của con: bố thằng A, mẹ cái B, bố cái Đĩ, bu con Cún... Cách gọi này không áp dụng đối con cái hoặc với người ngoài gia đình.

Thuật ngữ công tác

Ở Việt Nam, thuật ngữ xưng hô gọi nhau bằng đồng chí cũng khá phổ biến do ảnh hưởng từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là miền Bắc và Bắc Trung Bộ. Người ta thường gọi nhau khi làm việc bằng từ Đồng chí + Tên gọi, ví dụ như: đồng chí Nam, đồng chí An, đồng chí công an... mặc dù người được gọi là đồng chí không nhất thiết phải là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Xưng hô khuyết danh

Trong giao tiếp hằng ngày, nếu không cần thiết, người Việt thường xưng hô khuyết danh với nhau (chỉ gồm đại từ nhân xưng, không tên gọi). Trong nhiều ngôn ngữ khác, tiếng Anh chẳng hạn, đại từ nhân xưng không minh định vị trí và địa vị của từng cá nhân, nhưng áp dụng trong mọi trường hợp; nhưng Tiếng Việt là một trong những ngôn ngữ có lượng đại từ nhân xưng vô cùng nhiều, làm cho cách xưng hô này trở nên phức tạp. Tuy nhiên, điều này lại đóng góp tích cực vào việc duy trì đạo đức, trật tự của gia đình và xã hội, là đặc trưng riêng cho ngôn ngữ. Ví dụ, người mẹ nói chuyện với con gái mình thì tự xưng là u (cách dùng cũ ở một phần miền Bắc), mẹ (ở miền Bắc, Bắc Trung Bộ, một phần nhỏ Nam Trung Bộ), má (ở miền Nam), hay một từ tương tự nào đó và gọi con gái mình bằng con... Người nói và người nghe đều xác định được vị trí đích thực của mình không thể nhầm lẫn được.

Trạng thái Ngôi thứ nhất Ngôi thứ hai Ngôi thứ ba
Số ít Số nhiều Số ít Số nhiều Số ít Số nhiều
Trung hòa tôi chúng tôi bạn các bạn người đó họ, những người đó
Có cảm tình con, cháu, em... chúng con, chúng cháu, chúng em... mẹ, bà, anh... các chị, các anh... ông ấy, cô ấy, anh ấy... các anh ấy, các bác ấy...
Không cảm tình tao bọn tao, chúng tao... mày, mi... chúng bay, chúng mày, bọn mày, bọn mi... hắn, nó, y... bọn nó, bọn hắn, lũ...

Tên người dân tộc thiểu số

Tên người Việt trong tiếng Anh

Viết tên không dấu

Do người nước ngoài thường không thông thạo với việc viết và nhập liệu các dấu phụ của tiếng Việt, cũng như để tránh các lỗi mã hóa có thể làm hỏng phông chữ và gây sai lệch khi hiển thị, tên người Việt Nam trong tiếng Anh thường được viết không dấu, ví dụ như Hồ Chí Minh viết thành "Ho Chi Minh".[29] Tuy nhiên điều này có thể dẫn đến sự sai lệch trong cách phát âm mà ngay cả người Việt cũng không thể xác định chính xác tên gốc khi chuyển ngược trở lại tiếng Việt có dấu. Ví dụ, khi bỏ dấu phụ thì họ Đoàn và họ Doãn đều trở thành "Doan", tên Hùng và tên Hưng đều trở thành "Hung",...

  • Trong luật về tên và số (names and numbers) trên áo thi đấu của FIFA[30] có quy định rằng tên cầu thủ trên áo đấu của các đội tuyển quốc gia chỉ được in bằng các chữ Latinh, nhưng không yêu cầu nhất định phải là các chữ trong bảng chữ cái tiếng Anh, khi các dấu phụ cũng được phép in lên. Vì vậy tên cầu thủ trên áo đấu Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam cũng có thể sử dụng chữ Quốc ngữ với đầy đủ dấu phụ vì nó vẫn phù hợp với quy định của FIFA. Tuy nhiên VFF thường sử dụng tên không dấu trên áo đấu của đội tuyển Việt Nam. Ví dụ: Nguyễn Hoàng Đức thường được để tên trên áo đấu đội tuyển Việt Nam là "N. Hoang Duc", mặc dù "N. Hoàng Đức" cũng là cách để tên hợp lệ theo luật của FIFA.

Đảo ngược họ tên và vấn đề với chữ đệm

Trong các văn bản tiếng Anh và nhiều ngôn ngữ phương Tây khác thường thể hiện họ và tên theo thứ tự "tên trước họ sau", tên người Việt Nam chỉ cần đảo phần họ ra sau cùng và giữ nguyên tên riêng (chữ đệm → tên chính). Ví dụ: họ và tên là "Nguyễn Minh Oanh", với mã MRZ (Machine-Readable Zone) ở mặt sau thẻ căn cước công dân Việt Nam và ở trang thông tin cá nhân của hộ chiếu được định dạng theo cú pháp là NGUYEN<<MINH<OANH, hai dấu << phân định họ (surname) là "Nguyễn" và tên riêng (given name) là "Minh Oanh", còn một dấu < là thay dấu cách giữa các phần của tên riêng,[lower-alpha 4] do vậy họ và tên theo thứ tự "tên trước họ sau" của phương Tây dành cho tên người Việt là "Minh Oanh Nguyen" (chữ đệm → tên chính → họ). Điều này đảm bảo cho tên riêng (Minh Oanh) và họ (Nguyễn) luôn ở định dạng đúng trong các giấy tờ và văn bản dùng ngôn ngữ phương Tây.

Tuy nhiên có nhiều trường hợp người Việt tự đảo ngược họ tên mà không theo quy tắc trên. Nguyên nhân chủ yếu là do biết rằng người phương Tây có tập quán thường sử dụng "first name", nên nhiều người Việt mặc nhiên đối chiếu với tập quán thường gọi bằng âm tiết cuối của tên riêng và "rập khuôn" bằng cách chỉ đưa tên cuối này ra đầu làm "first name", mà lại không xác định đúng vị trí cũng như vai trò của họ và đặc biệt là chữ đệm, dẫn đến những cách đảo ngược sai theo một trong hai trường hợp sau:

Những trường hợp này có thể dẫn đến nhiều rắc rối không đáng có cho người Việt do sai họ (Nguyễn) hay sai tên riêng (Minh Oanh) trong việc xác định danh tính chính xác khi xử lý thủ tục pháp lý ở cơ quan nước ngoài.

Nhầm lẫn chữ đệm là phần của họ

Do tập quán thường gọi chữ cuối cùng trong tên của người Việt, nên nhiều người có sự hiểu nhầm rằng tên riêng thì chỉ có mỗi chữ cuối, còn chữ đệm ở giữa là thuộc phần họ. Tuy nhiên không giống như họ, chữ đệm không mang tính lưu truyền tuyệt đối qua các thế hệ, khi mà chữ đệm của bố (hoặc của mẹ nếu theo họ mẹ) và của con có thể khác nhau. Do đó chữ đệm là thành phần của tên riêng, việc áp chữ đệm thuộc phần họ là không chính xác, và cũng là điều không nên.

Ví dụ: Hoàng Tăng Bí có 4 người con là Hoàng Minh Bàn, Hoàng Minh Giám, Hoàng Luyện Thiết, Hoàng Dụng Huyên. Không ai thừa hưởng chữ đệm "Tăng". Khi ghi lại họ tên các thành viên của gia đình này vào trong một biểu mẫu hay hồ sơ với hai trường nhập liệu là "Given Name – Surname" (hay chỉ có hai trường "First Name – Last Name" và không có trường "Middle Name") được tách riêng, với hai kiểu ghi tên bên dưới, nếu phải đảo ngược thành "tên trước họ sau" thì tương ứng như sau:

Ghi tách họ với tên riêng của "Hoàng Tăng Bí" và các con
Mục ghi Bản mẫu:Text Bản mẫu:Text Bản mẫu:Text
Cách ghi đúng Hoàng Tăng Bí Tang Bi Hoang
Minh Bàn Minh Ban Hoang
Minh Giám Minh Giam Hoang
Luyện Thiết Luyen Thiet Hoang
Dụng Huyên Dung Huyen Hoang
Cách ghi sai Hoàng Tăng Bi Hoang Tang
Hoàng Minh Bàn Ban Hoang Minh
Hoàng Minh Giám Giam Hoang Minh
Hoàng Luyện Thiết Thiet Hoang Luyen
Hoàng Dụng Huyên Huyen Hoang Dung

Hầu hết các biểu mẫu hay hồ sơ điền họ tên theo hai trường thường để tiêu đề là "Given Name – Surname". Nhưng cũng có biểu mẫu hay hồ sơ lại để tiêu đề là "First Name – Last Name", có thể gợi ý sai cho người Việt hiểu nhầm rằng chỉ được ghi tên cuối "Bí" vào trường "First Name" thay vì nên ghi toàn bộ tên riêng là "Tăng Bí", và dẫn đến việc điền phần còn lại "Hoàng Tăng" vào trường "Last Name" thay vì điền họ chính xác là "Hoàng".

Lợi ích của việc xác định chính xác các phần tách riêng này thể hiện ở một số điều:

  • Trong tiềm thức của văn hoá phương Tây, với phong tục viết và đọc tên theo thứ tự "tên trước họ sau" và gọi họ trong phép xã giao, người phương Tây có quan niệm "last name" (tên ở cuối cùng) phải là họ. Do vậy, khi nhìn "Bi Hoang Tang", người phương Tây sẽ hiểu nhầm họ là "Tang" thay vì "Hoang", dẫn đến việc gọi "Mr. Tang" (gọi nhầm sang chữ đệm của Hoàng Tăng Bí), thay vì nhìn thấy "Tang Bi Hoang" và gọi "Mr. Hoang" (gọi đúng họ Hoàng).
  • Ở mặt sau thẻ căn cước và ở trang thông tin cá nhân của hộ chiếu có chứa mã MRZ dành cho việc đọc dữ liệu cá nhân sang máy tính một cách nhanh chóng theo tiêu chuẩn ICAO. Trong mã này, họ tên "Hoàng Tăng Bí" được định dạng theo cú pháp là HOANG<<TANG<BI, hai dấu << xác định rằng họ là "Hoàng" và tên riêng là "Tăng Bí". Việc ghi phân tách họ là "Hoàng Tăng" và tên riêng là "Bí" trên giấy tờ có thể gây mâu thuẫn thông tin với các hệ thống máy tính khi nó sai lệch với họ "Hoàng" hoặc với tên riêng "Tăng Bí", khiến thông tin cá nhân sẽ không được xác thực một cách chính xác. Đây là điều mà rất ít được chú ý.
  • Một số quốc gia có thủ tục hành chính cần truy cứu lý lịch, trong đó yêu cầu họ của bố (hoặc mẹ) và họ của con, hay họ của anh chị em ruột phải giống nhau hoàn toàn 100%. Do đó, nếu ghi cả chữ đệm vào với mục "họ", trong trường hợp chữ đệm của hai bên không giống nhau, thì sẽ có nguy cơ xảy ra trường hợp phía cơ quan xử lý thủ tục của nước sở tại cho rằng không có quan hệ huyết thống hay quan hệ họ hàng do sự khác biệt về "họ" được ghi nhận giữa hai bên. Ở đây, cơ quan sẽ dựa vào việc bố có họ "Hoàng Tăng" mà các con lại có họ "Hoàng Minh", "Hoàng Luyện" hay "Hoàng Dụng", từ đó sẽ cho rằng không có quan hệ bố con hay anh chị em. Điều này khiến các cá nhân phải tự tìm cách khác để bổ sung bằng chứng chứng minh quan hệ, gây lãng phí thời gian, công sức và tiền bạc.
  • Với trường hợp người Việt Nam khi nhập tịch quốc gia khác, cơ quan nước sở tại sẽ yêu cầu khai báo rõ phần họ. Về sau khi người gốc Việt này sinh con và muốn khai sinh họ của con theo họ gốc Việt, thì họ của con sẽ phải đúng hoàn toàn với họ mà người gốc Việt này đã khai báo ở thời điểm nhập tịch trước đó. Do đó nếu người gốc Việt này nhầm lẫn chữ đệm là một phần của họ, đặc biệt là nam giới, sau này khi muốn khai sinh con theo họ bố, dù là trai hay gái thì trong họ của con cũng sẽ phải có cả chữ đệm của bố, theo luật của nước sở tại (cơ quan chỉ quan tâm "họ" của bố được ghi chính xác là gì, không cần biết nó có cấu trúc như nào). Người bố ban đầu khai báo khi nhập tịch với họ là "Hoàng Tăng" thì sau này người con cũng phải khai sinh với họ là "Hoàng Tăng" (Hoàng Tăng Bàn, Hoàng Tăng Giám, Hoàng Tăng Thiết, Hoàng Tăng Huyên), giống với họ bố 100%. Vì vậy xác định đúng họ là "Hoàng" và tên riêng là "Tăng Bí" của người bố giúp cho việc khai sinh tên con chỉ cần chung họ "Hoàng" (Hoàng Minh Bàn, Hoàng Minh Giám, Hoàng Luyện Thiết, Hoàng Dụng Huyên), vẫn đúng luật nước sở tại mà không bị ràng buộc phải có thêm chữ "Tăng" vào trong họ của con.
    • Ví dụ thực tế: Emil Lê GiangPatrik Lê Giang là hai anh em sinh ra tại Slovakia, có bố là người gốc Việt tên Lê Giang Nam và mẹ là người Slovakia. Do ông Nam khi nhập tịch đã khai báo họ là "Lê Giang" và tên riêng là "Nam" (thay vì chính xác họ là "" và tên riêng là "Giang Nam"), nên tên khai sinh của cả Patrik và Emil đều phải có họ là "Lê Giang" giống với bố theo luật của Slovakia, thay vì họ là "Lê". Tuy nhiên khi nhìn tên đầy đủ "Patrik Lê Giang", mọi người sẽ thường có sự hiểu nhầm họ của Patrik là "Giang" do chữ đệm này đang ở vị trí cuối cùng.

Để thể hiện rõ ràng hơn về họ và tên riêng của công dân Việt Nam, từ năm 2023, Cục Quản lý xuất nhập cảnh đã thay đổi kiểu trình bày họ và tên trong hộ chiếu Việt Nam theo cách tách "họ" (surname) với "chữ đệm và tên" (given names, tức tên riêng) thành hai dòng riêng biệt, thay vì để chung một dòng "họ và tên" (full name) như cũ, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công dân Việt Nam khi làm thủ tục xuất nhập cảnh, cư trú ở nước ngoài.[32] Việc này giúp các cơ quan chức năng nước ngoài phân định được đâu là họ (Hoàng), đâu là tên riêng (Tăng Bí) của công dân, hoặc tránh nhầm lẫn trong việc giao dịch cũng như cấp giấy tờ cho công dân Việt Nam.[33]

Trường hợp là người có họ kép vốn sẵn như "Âu Dương Lâm" (họ Âu Dương), "Tôn Thất Lâm" (họ Tôn Thất)... thì có thể ghi chính xác là "Họ: Âu Dương | Tôn Thất" và "Tên: Lâm". Khi bị đảo họ, cách đảo đúng sẽ là "Lam Ton That", "Lam Au Duong". Phần họ có thể thêm gạch ngang thành "Lam Ton-That", "Lam Au-Duong" để chỉ rõ họ kép, ví dụ như Hoan Ton-That (Tôn Thất Hoàn). Tuy nhiên vì không còn phổ biến viết gạch nối (-) cho từ ghép hay từ phức trong tiếng Việt như thời kỳ Pháp thuộc, nên ngay từ việc xác định họ thì thường xảy ra việc nhầm họ kép Tôn Thất sang họ đơn âm Tôn và đảo ngược tên thành "That Lam Ton", còn đảo ngược thành "Lam Ton That" tuy là đảo đúng cho họ kép Tôn Thất nhưng không có dấu gạch nối nên dễ bị người phương Tây hiểu nhầm họ là "Thất".

Nhầm lẫn "chữ đệm" của người Việt tương tự "middle name" của người phương Tây

Trong tiếng Anh, cách gọi "first name, middle name, last name" (tên đầu, tên giữa, tên cuối) vốn dành cho vị trí các phần tên trong cấu trúc họ và tên của người Anh nói riêng và người phương Tây nói chung theo thứ tự "tên trước họ sau", do vậy cách gọi này không thể hiện chính xác với cấu trúc tên người Việt theo thứ tự "họ trước tên sau". Cụ thể hơn là về tên riêng (given name): trong cấu trúc tên riêng người phương Tây, "given name" = "first name" + "middle name", với "middle name" luôn đứng sau "first name"; còn trong cấu trúc tên riêng người Việt, "tên riêng" = "chữ đệm" + "tên chính", và "chữ đệm" luôn đứng trước "tên chính".

Cùng với tục thường gọi tên đơn âm cuối dẫn đến đánh đồng tên đơn âm cuối hoặc tên chính trương đương "first name", nhiều người Việt còn có sự "rập khuôn" rằng "chữ đệm" của người Việt cũng sẽ tương đương "middle name" của người phương Tây do vị trí ở giữa tên đầy đủ. Tuy nhiên, văn hoá Việt Nam không phải là văn hoá phương Tây, nên "chữ đệm" trong tên người Việt và "middle name" trong tên người phương Tây cũng có sự khác biệt lớn ở vị trí, vai trò và cách sử dụng:

  • Trong tên người Việt, "chữ đệm" không bao giờ sử dụng độc lập mà phải dùng kèm với tên chính khi gọi tên, kể cả khi dùng để phân biệt nhiều người có cùng tên chính. Vì vậy, nó phải luôn đứng trước tên chính, và được gọi là "chữ đệm" hay "tên đệm", không phải gọi là "chữ giữa" hay "tên giữa" giống như cách gọi "middle name" của phương Tây.
  • Trong tên phương Tây, tuy "first name" là tên thường được dùng, "middle name" lại đóng vai trò như một cái tên khác có thể sử dụng độc lập mà không cần kèm theo "first name". Do đó trong một số trường hợp, "middle name" có thể dùng thay cho "first name" làm tên thường dùng, cũng như có thể đảo vị trí và vai trò với "first name" trong tên pháp lý nếu cá nhân muốn.

Ví dụ:

  • Nguyễn Xuân BắcNguyễn Đình Bắc (hai cầu thủ bóng đá) trùng họ với tên chính và khác chữ đệm. Để phân biệt khi không gọi đầy đủ tên, người Việt gọi là "Xuân Bắc" và "Đình Bắc", không gọi chỉ bằng mỗi chữ đệm là "Xuân" và "Đình", và cũng không gọi ngược là "Bắc Xuân" và "Bắc Đình". Ngược lại, Harry Maguire có tên khai sinh là "Jacob Harry Maguire", và thường được gọi là "Harry" thay vì "Jacob". Sau khi đủ 18 tuổi theo luật Anh, anh sửa tên pháp lý thành "Harry Jacob Maguire".[34] Tương tự, Cristiano Ronaldo có tên đầy đủ là "Cristiano Ronaldo dos Santos Aveiro", và thường được gọi là "Ronaldo".
  • Ở Việt Nam, Nguyễn Quang Thọ có thể được gọi bằng "Quang Thọ" (tên riêng), "Thọ" (tên chính), hoặc "Nguyễn Thọ" (họ với tên chính), không bao giờ được gọi bằng "Quang" (chữ đệm) hay "Nguyễn Quang" (họ với chữ đệm). Còn ở Anh, James Paul McCartney nếu không đề cập bằng họ "McCartney", ông có thể được gọi bằng "first name" là "James" hoặc bằng "middle name" là "Paul". Mặc dù theo thông tục thì người Anh hay gọi chi tiết hơn là "James McCartney", thực tế ông được biết tới nhiều hơn dưới tên "Paul McCartney", còn "James McCartney" sau này thường được dùng để gọi một người con của ông là James Louis McCartney. Paul McCartney không sửa tên pháp lý của bản thân thành Paul James McCartney.

Cùng với đó là việc ghi tên người Việt trong giấy tờ thủ tục tiếng Anh. Ngoài những giấy tờ theo hai mục là Given Name, Surname (hay First Name, First Name và không có Middle Name) đã đề cập trước đó, tiếng Anh cũng có những giấy tờ mà phần ghi tên được chia làm ba mục tách riêng là First Name (bắt buộc), Middle Name (không bắt buộc), Last Name (bắt buộc). Dưới đây là những cách ghi tên các mục mà người Việt thường sử dụng tương ứng:

Ghi tách họ với tên riêng 3 chữ "Nguyễn Minh Oanh" (mã MRZ: NGUYEN<<MINH<OANH)
Cách Bản mẫu:Text Bản mẫu:Text Bản mẫu:Text Bản mẫu:Text Bản mẫu:Text Lexical name order[lower-alpha 5]
1 Nguyễn Minh Oanh Oanh Minh Nguyen Oanh Nguyen Nguyen, Oanh Minh
2 Nguyễn (bỏ trống) Minh Oanh Minh Oanh Nguyen Minh Oanh Nguyen Nguyen, Minh Oanh
Cách Surname Given Name Đảo ngược theo "tên trước họ sau" Lexical name order
3 Nguyễn Minh Oanh Minh Oanh Nguyen Nguyen, Minh Oanh
Ghi tách họ với tên riêng 4 chữ "Nguyễn Thị Minh Oanh" (mã MRZ: NGUYEN<<THI<MINH<OANH)
Cách Bản mẫu:Text Bản mẫu:Text Bản mẫu:Text Bản mẫu:Text Bản mẫu:Text Lexical name order
1a Nguyễn Thị Minh Oanh Oanh Thi Minh Nguyen Oanh Nguyen Nguyen, Oanh Thi Minh
1b Nguyễn Thị Minh Oanh Minh Oanh Thi Nguyen Minh Oanh Nguyen Nguyen, Minh Oanh Thi
2 Nguyễn (bỏ trống) Thị Minh Oanh Thi Minh Oanh Nguyen Thi Minh Oanh Nguyen Nguyen, Thi Minh Oanh
Cách Surname Given Name Đảo ngược theo "tên trước họ sau" Lexical name order
3 Nguyễn Thị Minh Oanh Thi Minh Oanh Nguyen Nguyen, Thi Minh Oanh

Với việc rập khuôn "chữ đệm" trong họ tên người Việt là "middle name" như tên người phương Tây, cùng với tục người Việt thường gọi tên đơn âm cuối dẫn đến rập khuôn "first name" phải là tên đơn âm cuối, nhiều người Việt hay ghi tương ứng theo cách 1. Cách ghi này dẫn đến kiểu đảo họ tên đối xứng qua phần tên giữa, từ "Nguyễn Minh Oanh" thành "Oanh Minh Nguyen". Tuy nhiên, kiểu đảo tên này sẽ khiến cơ quan phương Tây ghi nhận rằng khi chia tách họ (surname) "Nguyen" đi, tên riêng (given name) sẽ là "Oanh Minh" thay vì chính xác là "Minh Oanh", và họ tên đảo ngược của cách 1 sẽ khác với cách 3 (khi ghi tên giấy tờ chỉ có hai mục Given NameSurname). Điều này có thể gây rắc rối cho người Việt trong một số trường hợp như:

  • Các giấy tờ tại nước ngoài cần sự chính xác đồng nhất với nhau và giống với giấy tờ tại Việt Nam như hộ chiếu, nhưng lúc này tên riêng ở tiếng Anh là "Oanh Minh" lại không giống với tên riêng ở tiếng Việt là "Minh Oanh", và họ tên đảo ngược ở các giấy tờ tiếng Anh cũng bị khác nhau khi có cái áp dụng cách 1 ghi là "Oanh Minh Nguyen" và cái khác áp dụng cách 3 ghi là "Minh Oanh Nguyen". Ngoài ra, một số giấy tờ áp dụng cách 1 có thể sẽ để tên riêng bị lược bỏ phần đã ghi vào Middle Name, dẫn đến họ tên bị hiển thị thiếu như "Oanh Nguyen", làm giảm độ nhận diện. Ví dụ với Nguyễn Xuân BắcNguyễn Đình Bắc ở đầu, nếu bị lược chữ đệm thì cả hai đều bị hiển thị là "Bac Nguyen" khi đảo tên theo cách 1.
  • Họ và tên "Nguyễn Minh Oanh" trên mã MRZ ở hộ chiếu Việt Nam và ở mặt sau thẻ căn cước công dân Việt Nam được định dạng theo cú pháp là NGUYEN<<MINH<OANH, hai dấu << xác định rằng "surname = NGUYEN" và "given names = MINH OANH" trong máy đọc. Nếu cá nhân điền tên theo cách 1 khi mua vé máy bay, vì cấu trúc tên kiểu phương Tây là "middle name" đứng sau "first name", sẽ khiến cho tên riêng (given names) trên vé bị ghi ngược thành "Oanh Minh" và đang không trùng khớp với tên riêng trong máy đọc hộ chiếu cũng như căn cước là "Minh Oanh". Điều này có thể khiến cá nhân phải bỏ ra chi phí để sửa lại tên riêng, nếu không sẽ có nguy cơ bị từ chối lên máy bay hoặc bị từ chối nhập cảnh.
  • Một số cơ quan phương Tây còn sử dụng cách sắp xếp họ tên theo Lexical name order[lower-alpha 5] với định dạng "Surname, Given name" (ví dụ như bảng xếp hạng kỳ thủ cờ vua của FIDE),[35] dẫn đến việc ở trong nhiều tài liệu khác nhau, tên đảo ngược theo cách 1 là "Oanh Minh Nguyen" sẽ chuyển thành dạng là "Nguyen, Oanh Minh" (bị ngược tên riêng), còn theo cách 3 là "Minh Oanh Nguyen" sẽ chuyển thành dạng khác là "Nguyen, Minh Oanh" (giống với thứ tự họ tên gốc ở tiếng Việt).

Ngoài ra, việc đánh đồng "chữ đệm" của tiếng Việt với "middle name" trong các quy ước đặt tên phương Tây sẽ làm đảo lộn cấu trúc tên riêng của người Việt (khiến chữ đệm không còn đứng trước tên chính), hệ quả là một tên riêng vốn có ý nghĩa tốt có thể bị thay đổi hoặc mất đi ý nghĩa ban đầu khi các thành phần của tên bị sắp xếp lộn xộn, thậm chí trong một số trường hợp còn gây liên tưởng tới ý nghĩa xấu.

  • Năm 2020, một nữ sinh đại học người Mỹ gốc Việt có tên kiểu Việt là Nguyễn Bùi Diễm Phúc, sử dụng tên đảo ngược theo cách 1 thành "Phuc Bui Diem Nguyen" (thay vì "Bui Diem Phuc Nguyen" theo cách 3). Một vị giáo sư đại học của nữ sinh đã yêu cầu cô dùng một cái tên Anh hoá vì cho rằng việc đọc tên "Phuc Bui Diem Nguyen" liên tưởng tới một từ mang nghĩa xấu trong tiếng Anh, tuy nhiên cô đã phản ứng và cho rằng giáo sư "thể hiện sự phân biệt đối xử", kỳ thị mình bằng tên này. Vị giáo sư đã lên tiếng giải thích rằng "tôi hiểu em mất lòng, nhưng em cần hiểu tên của em là một từ có cách phát âm xúc phạm trong ngôn ngữ của tôi" nhưng không được nữ sinh chấp nhận. Hệ quả là vị giáo sư bị đình chỉ công tác.[36]

Trong thủ tục hành chính phương Tây, First Name là bắt buộc, còn Middle Name là không bắt buộc. Tuy nhiên First Name không bắt buộc chỉ được chứa một từ đơn, khi nó có thể chứa tên ghép bằng nhiều từ đơn (tiếng Anh gọi dạng tên này là "compound name" hay "composite name"). Vì vậy, một số người Việt khác khi ghi tên chia tách ba mục thì ghi theo cách 2, bằng cách linh hoạt tận dụng việc Middle Name có thể bỏ trống và chuyển hết tên riêng (chữ đệm cùng tên chính) vào First Name. Cách ghi này đảm bảo việc đồng nhất với cách 3 khi:

  • Giữ cho tên riêng "Minh Oanh" không bị ngược thành "Oanh Minh" trên các giấy tờ và dữ liệu.
  • Họ tên từ "Nguyễn Minh Oanh" sẽ theo một cách đảo ngược chung là "Minh Oanh Nguyen".
  • Lexical name order luôn theo dạng chung là "Nguyen, Minh Oanh".

Hiểu đơn giản cho cách 2, không cần quan tâm ghi gì vào Middle Name, chỉ cần chuyển họ (Nguyen) ra sau cùng là Last Name và phần còn lại (toàn bộ tên riêng Minh Oanh) ghi hết nguyên vẹn vào First Name là đủ.

Mặc dù cách hiển thị "Minh Oanh Nguyen" có thể khiến cá nhân người Việt bị gọi tắt là Minh (hay Minh Nguyen) nhiều hơn Oanh (hay Oanh Nguyen), do người phương Tây khi nhìn vào thường vô thức tự lấy định dạng "First Middle Last" của cấu trúc tên truyền thống phương Tây áp vào "Minh Oanh Nguyen", gây hiểu nhầm rằng vì ở giữa Minh với Oanh là dấu cách nên đang coi Minh là "first name" và Oanh là "middle name" (và người phương Tây lại có thói quen đôi khi lược đi "middle name" khi gọi họ tên), cá nhân hoàn toàn có thể yêu cầu xác định lại kiểu gọi tiêu chuẩn cho bản thân bằng một số cách như:

  • Yêu cầu gọi chủ yếu là Oanh, giải thích rằng Oanh mới là "true forename" (tên chính thường dùng) hoặc "preferred name" (tên ưu tiên, tương tự trường hợp của Harry Maguire, Ronaldo hay Paul McCartney ở trên).
  • Yêu cầu gọi là Minh Oanh, giải thích rằng cá nhân sở hữu "first name" là một "composite name" (tên ghép) Minh Oanh theo kiểu Việt và không có "middle name" thực sự đúng nghĩa theo cú pháp tên người Anh hay Mỹ (tương tự trường hợp của Christiano Ronaldo ở trên).
  • Yêu cầu không được lược bỏ bất cứ phần nào của tên riêng, vì nó có thể làm giảm độ nhận diện cho người Việt.
  • Sử dụng dấu gạch nối (hyphen) để nối các từ đơn trong tên riêng thành Minh-Oanh Nguyen. Trong tiếng Anh, dấu gạch nối có tác dụng nối hai hoặc nhiều từ đơn thành một từ ghép, giúp người phương Tây nhận biết được một "composite name".[lower-alpha 6]

Điều quan trọng hơn cả là việc ghi họ tên theo cách 2 đảm bảo tên pháp lý trên mọi giấy tờ của cá nhân người Việt được đồng nhất với cách 3, và xác định cách viết chính xác của họ (Nguyễn) và tên riêng (Minh Oanh) ở cả gốc tiếng Việt và bên phía tiếng Anh, so với kiểu ghi họ tên theo cách 1.

Hiển thị tên người Việt trên truyền thông

Lê Quang Liêm tại Giải cờ vua thanh niên thế giới (2008). Tên của anh trên tấm biển bị cách điệu sai thành "LE QUANG Liem", khiến người xem dễ bị hiểu lầm rằng họ của anh là "Lê Quang" thay vì chính xác là "". Trong hồ sơ của FIDE, tên của anh ở định dạng Lexical name order là "Le, Quang Liem",[37] do vậy tên của anh trên tấm biển nên được để tương ứng là "LE Quang Liem".

Cách điệu phần họ để phân biệt với tên riêng

Nhiều chương trình và sự kiện thể thao bằng tiếng Anh hiện nay đã dùng các phương pháp cách điệu để nhấn mạnh phần họ nhằm phân biệt với tên riêng, bằng cách in đậm hoặc viết hoa toàn bộ họ, hoặc dùng thủ pháp tách dòng riêng như ở trong hộ chiếu. Những phương thức cách điệu phân biệt họ và tên riêng chủ yếu như sau:

Cách điệu phân biệt họ và tên riêng của người Việt trong truyền thông tiếng Anh
Phương thức Tên trước họ sau Họ trước tên sau Lexical name order[lower-alpha 5]
Họ và tên 3 chữ "Nguyễn Minh Oanh" (mã MRZ: NGUYEN<<MINH<OANH)
Cách điệu đúng
(chỉ riêng phần họ)
Minh Oanh NGUYEN Minh Oanh
NGUYEN
NGUYEN Minh Oanh Bản mẫu:Text Bản mẫu:Text
Cách điệu sai
(nhầm sang chữ đệm)
Oanh NGUYEN MINH Oanh
NGUYEN MINH
NGUYEN MINH Oanh NGUYEN MINH
Oanh
Bản mẫu:Text
Họ và tên 4 chữ "Nguyễn Thị Minh Oanh" (mã MRZ: NGUYEN<<THI<MINH<OANH)
Cách điệu đúng
(chỉ riêng phần họ)
Thi Minh Oanh NGUYEN Thi Minh Oanh
NGUYEN
NGUYEN Thi Minh Oanh Bản mẫu:Text Bản mẫu:Text
Cách điệu sai
(nhầm sang chữ đệm)
Oanh NGUYEN THI MINH Oanh
NGUYEN THI MINH
NGUYEN THI MINH Oanh NGUYEN THI MINH
Oanh
Bản mẫu:Text

Với họ tên 3 chữ "Nguyễn Minh Oanh" (mã MRZ: NGUYEN<<MINH<OANH), họ (surname / family name) là "Nguyễn" và tên riêng (given name / first name) là "Minh Oanh", định dạng lexical name order sẽ là "Nguyen, Minh Oanh", và phương thức cách điệu chính xác là "Minh Oanh NGUYEN" ("tên trước họ sau" theo thứ tự tên phương Tây) hay "NGUYEN Minh Oanh" ("họ trước tên sau" theo thứ tự tên phương Đông). Tương tự, với họ tên 4 chữ "Nguyễn Thị Minh Oanh" (mã MRZ: NGUYEN<<THI<MINH<OANH), họ là "Nguyễn" và tên riêng là "Thị Minh Oanh", định dạng lexical name order sẽ là "Nguyen, Thi Minh Oanh", và phương thức cách điệu chính xác là "Thi Minh Oanh NGUYEN" hay "NGUYEN Thi Minh Oanh".

Tuy nhiên, có nhiều trường hợp do thói quen gọi tên cuối mà người Việt tự nhầm lẫn chữ đệm là phần của họ, dẫn đến nhấn mạnh nhầm thêm cả chữ đệm và gây hiểu sai về họ chính xác của nhân vật cho người xem. Chẳng hạn, "Nguyễn Minh Oanh" cũng như "Nguyễn Thị Minh Oanh" vì thường được gọi là "Oanh" ở Việt Nam, nên khi ra nước ngoài đã xác định nhầm rằng "given name" là "Oanh" và ngộ nhận "surname" là phần còn lại như "Nguyen Minh" và "Nguyen Thi Minh". Ngoài ra, một số nơi còn để tiêu đề là "first name" thay vì "given name" cho trường nhập tên riêng cũng khiến người Việt dễ hiểu nhầm rằng chỉ được ghi tên cuối "Oanh" vào phần này thay vì nên ghi toàn bộ tên riêng như "Minh Oanh" và "Thi Minh Oanh". Điều này dẫn đến những định dạng lexical name order bị ghi nhận sai là "Nguyen Minh, Oanh" và "Nguyen Thi Minh, Oanh", cũng như các cách nhấn mạnh sai như "Oanh NGUYEN MINH" hay "NGUYEN MINH Oanh", và "Oanh NGUYEN THI MINH" hay "NGUYEN THI MINH Oanh", có thể khiến cho người xem (nhất là người phương Tây) khi nhìn vào lại hiểu nhầm rằng họ của các nhân vật là "Nguyễn Minh" và "Nguyễn Thị Minh", trong khi họ thực sự của cả hai chỉ là "Nguyễn".

  • Tại Thế vận hội, họ và tên của vận động viên bơi lội Nguyễn Thị Ánh Viên (Nguyen, Thi Anh Vien) đã bị hiển thị sai trên truyền hình dưới dạng "Vien NGUYEN THI ANH"[38]Rio 2016 và "Anh Vien NGUYEN THI ANH"[39]Tokyo 2020. Họ và tên của cô nên được hiển thị chính xác là "Thi Anh Vien NGUYEN" hoặc "NGUYEN Thi Anh Vien", bởi vì họ của cô chỉ là "Nguyễn". Cô có một người em trai tên là Nguyễn Quang Thuấn (Nguyen, Quang Thuan), cũng là một vận động viên bơi lội, sẽ nên được cách điệu chính xác là "Quang Thuan NGUYEN" hoặc "NGUYEN Quang Thuan", không nên cách điệu sai thành "Thuan NGUYEN QUANG" hoặc "NGUYEN QUANG Thuan". Theo quy luật thông thường, không thể có chuyện hai chị em ruột lại khác họ với nhau.

Vì vậy, tại các chương trình hoặc sự kiện quốc tế có người Việt Nam tham gia, để tránh trường hợp nhấn mạnh phần họ nhưng lại nhấn mạnh nhầm sang cả chữ đệm, nên xác định họ của nhân vật trước thay vì suy đoán ngược từ tên cuối. Ví dụ:

  • Với "Nguyễn Minh Oanh", trước hết cần xác định chính xác phần họ là "Nguyen", không phải "Nguyen Minh", rồi ghi nhận vào trường "surname" (hoặc "family name"). Sau ghi đã ghi nhận phần họ là "Nguyen" thì phần còn lại chính là tên riêng "Minh Oanh", sẽ được ghi nhận vào trường "given name" (hoặc "first name") => cách điệu đúng: "NGUYEN Minh Oanh" và "Minh Oanh NGUYEN".
  • Với "Nguyễn Thị Minh Oanh", trước hết cần xác định chính xác phần họ là "Nguyen", không phải "Nguyen Thi Minh" hay "Nguyen Thi", rồi ghi nhận vào trường "surname". Sau ghi đã ghi nhận phần họ là "Nguyen" thì phần còn lại chính là tên riêng "Thi Minh Oanh", sẽ được ghi nhận vào trường "given name" => cách điệu đúng: "NGUYEN Thi Minh Oanh" và "Thi Minh Oanh NGUYEN".

Việc xác định hai phần họ và tên riêng có thể căn cứ vào định dạng của tên nhân vật trên mã MRZ ở trang cá nhân trong hộ chiếu hoặc mặt sau của thẻ căn cước, mà trong đó quan trọng là vị trí của hai dấu << được dùng để phân tách họ và tên riêng. Ví dụ:

  • Với "Nguyễn Minh Oanh", tên trên mã MRZ là NGUYEN<<MINH<OANH, cho thấy "surname" là "Nguyen" và "given name" là "Minh Oanh" => cách điệu đúng: "NGUYEN Minh Oanh" và "Minh Oanh NGUYEN".
  • Với "Nguyễn Thị Minh Oanh", tên trên mã MRZ là NGUYEN<<THI<MINH<OANH, cho thấy "surname" là "Nguyen" và "given name" là "Thi Minh Oanh" => cách điệu đúng: "NGUYEN Thi Minh Oanh" và "Thi Minh Oanh NGUYEN".

Ngoài ra với những người có hộ chiếu Việt Nam được cấp từ năm 2023, họ và tên riêng đã được tách thành hai dòng riêng trên trang thông tin cá nhân, nên cũng có thể dựa vào đó để xác định chính xác phần họ để nhấn mạnh.

  • Do hầu hết họ của người Việt đều là từ đơn âm tiết (như Nguyễn, Trần, Lê, Phạm,...) và luôn là chữ đứng đầu tiên trong một họ tên đầy đủ theo thứ tự "họ trước tên sau", nên nếu không có hộ chiếu hay thẻ căn cước, thì vẫn có thể dựa vào đặc điểm này để xác định được họ đơn âm tiết của người Việt và ghi vào trường "surname" khi nhập liệu.

Cách điệu phần tên riêng

Trong truyền thông tiếng Anh, cách điệu phần họ thường là để phân biệt họ với tên riêng, tức mục đích thiên về phân biệt chức năng hay vai trò của các phần trong tên nhân vật. Còn trong truyền thông tiếng Việt, chủ yếu cách điệu tên riêng thay vì họ, với mục đích thiên về tính thẩm mỹ là nhiều hơn. Cách điệu phần tên riêng người Việt thường xuất hiện trong các chương trình, sự kiện hay phương tiện truyền thông tại Việt Nam. Những phương thức cách điệu tên riêng chủ yếu như sau:

Cách điệu tên riêng người Việt
Phương thức Viết hoa hay in đậm tên riêng Tách dòng
Họ và tên "Nguyễn Minh Oanh"
Chỉ cách điệu chữ cuối Nguyễn Minh OANH Nguyễn Minh
OANH
Cách điệu hai chữ cuối
(trang trọng)
Nguyễn MINH OANH Nguyễn
MINH OANH
Họ và tên "Nguyễn Thị Minh Oanh"
Chỉ cách điệu chữ cuối Nguyễn Thị Minh OANH Nguyễn Thị Minh
OANH
Cách điệu hai chữ cuối
(trang trọng)
Nguyễn Thị MINH OANH Nguyễn Thị
MINH OANH

Với thói quen thường gọi tên cuối cùng, phương thức cách điệu theo kiểu chỉ nhấn mạnh hay làm nổi bật chữ cuối như "Nguyễn Minh OANH" và "Nguyễn Thị Minh OANH" nhìn chung khá sơ sài và khiến tên riêng trở nên "cộc lốc". Vì vậy, trong các bối cảnh mang tính trang trọng hoặc chuyên nghiệp như trong một chương trình hay sự kiện, hoặc khi cần hiển thị họ và tên của nhân vật nổi bật hay có danh tiếng (ví dụ một vận động viên thể thao), phương thức cách điệu đồng thời hai chữ cuối của tên như "Nguyễn MINH OANH" và "Nguyễn Thị MINH OANH" được sử dụng nhiều hơn. Phương thức này ngoài việc nhấn mạnh thị giác cho việc gọi bằng hai chữ cuối, còn tạo cảm giác cho tên riêng mang sắc thái trang trọng hơn so với việc chỉ cách điệu chữ cuối cùng, và ở dạng tách dòng, lượng ký tự ở dòng dưới (tên riêng) sẽ nhiều hơn và dài hơn một chút, tạo cảm giác mỹ quan đẹp hơn cho toàn bộ họ và tên.

  • Nhiều tên riêng là từ ghép có mang một ý nghĩa thơ văn nhất định, nên việc chỉ cách điệu chữ cuối lại vô tình làm tách rời từ ghép, khiến tên riêng trở nên mất ý nghĩa. Ví dụ, cách điệu như "Lê HẢI LONG" nhấn mạnh thị giác cho thấy được tên "Hải Long" (rồng biển), còn "Lê Hải LONG" thì chỉ nhấn mạnh mỗi "Long" và tách rời đi khỏi chữ "Hải", làm giảm ý nghĩa cho tên "Hải Long".
  • Đối với những người phụ nữ mà họ tên 3 chữ và có đệm "Thị" như "Nguyễn Thị Oanh", vì chữ đệm "Thị" thời nay bị hầu hết phụ nữ Việt Nam tẩy chay và không muốn gọi là "Thị Oanh", nên phương thức chỉ cách điệu chữ cuối như "Nguyễn Thị OANH" thường được dùng nhiều hơn so với phương thức cách điệu hai chữ cuối là "Nguyễn THỊ OANH".

Thứ tự "họ trước tên sau" và "tên trước họ sau"

Thứ tự truyền thống "họ trước tên sau" của Vùng văn hoá Đông Á như "Nguyen Minh Oanh" thường được sử dụng chủ yếu trên truyền thông tiếng Anh từ Việt Nam, còn trên truyền thông từ nước ngoài thì thứ tự "tên trước họ sau" của phương Tây như "Minh Oanh Nguyen" thường được áp dụng.

Mặc dù vậy, có nhiều sự kiện thể thao hay giải trí quốc tế cho phép bảo toàn thứ tự "họ trước tên sau" khi có yêu cầu từ quốc gia tương ứng nhưng phía Việt Nam lại chưa biết tận dụng. Ví dụ điển hình là tại các sự kiện Thế vận hội và Á vận hội, trong khi họ tên của các vận động viên Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản được hiển thị theo kiểu truyền thống như "NGUYEN Minh Oanh" trên truyền hình, họ tên của các vận động viên Việt Nam vẫn bị hiển thị theo thứ tự ngược là "Minh Oanh NGUYEN". Điều này là do Việt Nam vẫn chưa được đưa vào danh sách các quốc gia được áp dụng quy tắc Use and rules of each participant name > TV Name "Switching" của tài liệu Language Guidelines & Participant Names[40] trong Olympic Data Feed,[41] một hệ thống tiêu chuẩn về định dạng và lưu truyền dữ liệu được Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) thiết lập. Quy tắc TV Name "Switching" cho phép các quốc gia trong một danh sách ngoại lệ được hiển thị họ tên vận động viên theo thứ tự "họ trước tên sau" (NGUYEN Minh Oanh) trên đồ hoạ truyền hình, còn các quốc gia khác không thuộc danh sách thì phải tuân theo thứ tự "tên trước họ sau" (Minh Oanh NGUYEN) của tiếng Anh. Danh sách này đã bao gồm hầu hết các quốc gia và lãnh thổ thuộc Vùng văn hóa Đông Á là Trung Quốc, Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan, Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên và Nhật Bản (trước đây Nhật Bản cũng từng bị hiển thị theo thứ tự ngược, cho đến khi được đưa vào danh sách từ năm 2020), và đồng thời áp dụng cho cả Á vận hội. Hiện tại Uỷ ban Olympic Việt Nam chưa nhận ra vấn đề này nên vẫn chưa đưa ra yêu cầu nào tới IOC cho việc đưa Việt Nam vào danh sách trong TV Name "Switching" để được hiển thị theo kiểu truyền thống "họ trước tên sau". Ngược lại, trong các giải đấu cầu lông thuộc hệ thống của Liên đoàn Cầu lông Thế giới (BWF), tên của vận động viên Việt Nam lại được hiển thị theo thứ tự truyền thống, trong khi tên của vận động viên Nhật Bản thì không.

  • Ví dụ thực tế: cùng theo thứ tự truyền thống "họ trước tên sau", nhưng tên của vận động viên cầu lông Việt Nam Nguyễn Tiến Minh bị hiển thị ngược là "Tien Minh NGUYEN" tại các kỳ Thế vận hội[42] và được hiển thị xuôi là "NGUYEN Tien Minh" tại các giải đấu của BWF,[43][44] còn tên của vận động viên cầu lông Trung Quốc Lin Dan luôn được hiển thị xuôi là "LIN Dan" tại mọi kỳ Thế vận hội lẫn các giải đấu của BWF.

Đọc thêm

  • Đời sống văn hóa gia tộc, tác giả Lê Nguyễn Lưu, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2006.
  • Họ và tên người Việt Nam, tác giả PGS.TS Lê Trung Hoa, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, xuất bản năm 2005
  • Từ điển chức quan Việt Nam, tác giả Đỗ Văn Ninh, Nhà xuất bản Thanh niên, xuất bản năm 2006
  • Tên người Chăm Nam Bộ, tác giả Đinh Thị Hòa [3] Lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2010 tại Wayback Machine

Chú thích

Ghi chú

  1. ^ a ă Tuy nhiên cũng có những người Việt, do hoàn cảnh sống mà sử dụng họ khác, không còn sử dụng họ gốc. Tiêu biểu như Hồ Chí Minh - họ "Hồ", tên khai sinh là "Nguyễn Sinh Cung" - họ "Nguyễn". Trường hợp khác là Vương Thừa Vũ, có tên thật là "Nguyễn Văn Đồi", nhưng những người con của ông sau này đều mang họ Vương thay vì họ Nguyễn.
  2. ^ a ă Thường là họ từ bố, nhưng luật pháp Việt Nam cũng không cấm đặt từ họ của mẹ. Việc người con mang họ bố hay mẹ do bố mẹ quyết định.
  3. ^ Về mặt ngữ nghĩa, "Đăng Khoa" (登科) là một từ ghép có ý nghĩa chỉ việc đỗ đạt trong các kỳ thi cử thời phong kiến. Nếu tách chữ "Đăng" đi thành tên đệm và để chữ "Khoa" đứng riêng làm tên chính, chữ "Khoa" sẽ trở nên mơ hồ và không mang một ý nghĩa cụ thể nào ("khoa học", "khoa ngành", "khoa trương",...). Vì vậy "Đăng Khoa" có thể coi là một tên chính dạng từ ghép.
  4. ^ Nhiều người Việt hay tự suy diễn rằng một dấu < trong mã MRZ của NGUYEN<<MINH<OANH là phân định trong tên "Minh Oanh" sẽ có "First name = Minh" và "Middle name = Oanh", do liên tưởng tới cú pháp "First Middle Last" của tên người Anh theo thứ tự "tên trước họ sau", như John William Smith được biểu diễn là SMITH<<JOHN<WILLIAM. Tuy nhiên, tài liệu tiêu chuẩn hoá mã MRZ là Document 9303[31] của ICAO không hề quy định rằng một dấu < trong các phần của tên riêng (Given name) có chức năng phân định "First name" và "Middle name", mà chỉ là phân định từng từ đơn trong tên riêng, tức là biểu diễn thay cho dấu cách.
  5. ^ a ă â "Lexical name order" là cách sắp xếp tên trong tiếng Anh theo thứ tự như từ điển, dựa trên việc so sánh ký tự từ trái sang phải theo bảng chữ cái. Đây là quy tắc sắp xếp dùng trong nhiều hệ thống dữ liệu quốc tế (thư viện, dữ liệu học thuật, vé máy bay, dữ liệu trong hộ chiếu, bảng tên thi đấu thể thao,...), mà tên đầy đủ được chuẩn hóa thành dạng "Surname, Given Name" (dùng dấu phẩy ngăn họ và tên riêng, ưu tiên xếp họ trước), phân định đâu là họ và đâu là tên riêng, không bị phụ thuộc việc tên gốc là "họ trước tên sau" hay "tên trước họ sau". Nó còn được dùng trong Visual Inspection Zone (VIZ, Bản mẫu:Lit) ở nhiều giấy tờ cá nhân cho mục "Full name" để phân biệt họ và tên riêng thay vì dùng cách tách hai dòng riêng hay nhấn mạnh phần họ. Với "Given Name", sẽ giữ thứ tự các phần tên ghi lại theo trường "First name→Middle name" của tên riêng kiểu Anh. Ví dụ:
    • Tên một người Anh là John William Smith, với các phần tên ghi theo kiểu 3 trường "First/Middle/Last" là "John/William/Smith" thì sẽ được xếp thành "Smith, John William" và suy ngược lại "Given name: John William".
    • Tên một người Việt là Trần Văn Tuấn, với các phần tên ghi theo kiểu 3 trường "First/Middle/Last" là "Tuấn/Văn/Trần" thì sẽ được xếp thành "Tran, Tuan Van" và suy ngược lại "Given name: Tuấn Văn", còn nếu ghi theo "Văn Tuấn/.../Trần" (bỏ trống Middle name và ghi toàn bộ tên riêng vào First name) thì sẽ được xếp thành "Tran, Van Tuan" và suy ngược lại "Given name: Văn Tuấn".
  6. ^ Trong giai đoạn tiếng Việt bắt đầu dùng chữ Quốc ngữ, dấu gạch nối đã từng được sử dụng phổ biến để nối các âm tiết của từ ghép, bao gồm cả tên riêng người Việt. Tuy nhiên hiện nay ít được sử dụng.

Tham Khảo

  1. ^ Họ và tên người Việt Nam, PGS.TS Lê Trung Hoa, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2005
  2. ^ a ă "Luật số 91/2015/QH13 của Quốc hội: Bộ Luật Dân sự". vanban.chinhphu.vn. ngày 24 tháng 11 năm 2015.
  3. ^ a ă Hoàng Phê (chủ biên) (2003). Từ điển tiếng Việt (Từ điển Hoàng Phê).
  4. ^ Đặt tên nước ngoài cho con mang quốc tịch Việt Nam Lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2014 tại Wayback Machine Luật sư Nguyễn Văn Tuấn - Luật Hoàng Minh, báo Đất Việt cập nhật lúc 10:59, 18/08/2009
  5. ^ Tại sao người Việt dùng tên nước ngoài Long Vu, VnExpress 14/4/2010, 11:24 GMT+7
  6. ^ "Những cái tên dài, độc, lạ của người Việt Nam". Báo điện tử Pháp Luật thành phố Hồ Chí Minh. ngày 13 tháng 5 năm 2015.
  7. ^ Hoàng Phê (chủ biên) (2003). Từ điển tiếng Việt (Từ điển Hoàng Phê).
  8. ^ baohaiphong.vn (ngày 17 tháng 11 năm 2023). ""Trăm họ" của người Việt Nam là những họ nào?". baohaiphong.vn.
  9. ^ "Chuyện showbiz: Kim Lý gọi tên thật của Hồ Ngọc Hà, ngọt ngào chúc mừng sinh nhật vợ". vov.vn. ngày 26 tháng 11 năm 2022.
  10. ^ "Phạm Thị Hương: 'Tôi tự tin mình có tư cách tốt'". VnExpress. ngày 4 tháng 10 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2025.
  11. ^ "Vừa lộ diện, "Kiều" của Mai Thu Huyền lại gây tranh cãi". Dân Trí. ngày 23 tháng 10 năm 2020.
  12. ^ "Thú vị đằng sau cái tên Cao Pendant Quang Vinh". Báo điện tử An ninh Thủ đô. ngày 28 tháng 3 năm 2025.
  13. ^ Bi hài quanh cái tên "Mai Phạt Sáu Nghìn Rưởi" Hữu Trà, Thanh Niên (báo) 23:45:00, 09/07/2006
  14. ^ "Bi kịch từ những cái tên". Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2007.
  15. ^ thanhnien.vn (ngày 9 tháng 7 năm 2020). "Ý nghĩa tên cha mẹ đặt cho con: Lấy tên người yêu cũ, kẻ thù". Báo Thanh Niên.
  16. ^ "Mẹ bỉm sữa té ngửa khi chồng đặt tên con là 'Nguyễn Cô Vy'". Tuổi trẻ Cười. ngày 3 tháng 3 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2022.
  17. ^ "Vợ phản đối đặt tên con là "Đỗ Rê Mon", chồng trẻ ranh liền bỏ nhà đi bụi, vợ gọi thế nào cũng không chịu về". Webgiaitri.vn. ngày 14 tháng 7 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2022.
  18. ^ "'Mai Phạt Sáu Nghìn Rưởi', 'Phan Hết Gas Hết Số', rồi gì nữa?". Tuổi Trẻ Online. ngày 13 tháng 9 năm 2019.
  19. ^ Vì phải tránh nhiều như vậy, nên vợ chồng mới cưới thường có tục bế con đầu lòng đến trước mặt ông bà xin đặt tên cho con. Tục lệ này vừa để tỏ lòng tôn kính bố mẹ, vừa tránh được những tên của họ hàng mà vợ chồng mới lấy nhau chưa biết
  20. ^ Nếu đứa trẻ đó chẳng may xấu số, gia phả sẽ ghi "hữu vị vô danh" tức có người, biết trai gái nhưng chưa có tên
  21. ^ Tên người Việt Nam Lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2008 tại Wayback Machine, Nguyễn Khôi 29/03/2007: "Có ý kiến cho rằng "tên xấu xí" vì sợ quỷ tha ma bắt"
  22. ^ Đời sống văn hóa gia tộc, Lê Nguyễn Lưu, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2006
  23. ^ Nếu đứa trẻ đặt tên húy rồi mà chết non thì gia phả ghi "hữu danh vô vị"
  24. ^ Một trăm điều nên biết về phong tục Việt Nam - Tại sao khi mới đẻ chưa đặt tên chính?, Tân Việt, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2001
  25. ^ Thủ tục đăng ký khai sinh trong nước[liên kết hỏng]
  26. ^ Một số tài liệu khác Nữ tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam[liên kết hỏng], Trần Hồng 09:17 | 15/03/2006 (Tạp chí Trí tuệ, 3-2006), [1] Lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007 tại Wayback Machine... nói rằng bà đậu tiến sĩ. Nguyễn Thị Chân Quỳnh giải thích: "Các sách đều chép bà đỗ thủ khoa, một vài chỗ nói bà đỗ Trạng nguyên, không rõ đó là sự thực hay thấy nói đỗ thủ khoa vội cho ngay là phải đỗ Trạng ? Nhà Nguyễn có lệ không lấy ai đỗ Trạng nguyên, song nhà Mạc hầu như khoa nào cũng lấy người đỗ Trạng, nên tôi cũng để bà đỗ Trạng cho thích hợp với truyền thống nhà Mạc"[2]
  27. ^ a ă Nguyen Thi Chan Quynh
  28. ^ "Hội liên hiệp Phụ nữ - Việt Nam". Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2007.
  29. ^ Viet Nam Goverment Portal. "President Ho Chi Minh's Biography (1890-1969)". vietnam.gov.vn (bằng tiếng Anh).
  30. ^ FIFA-Equipment-Regulations_2025_EN.pdf
  31. ^ https://www.icao.int/sites/default/files/publications/DocSeries/9303_p4_cons_en.pdf
  32. ^ "Triển khai cấp hộ chiếu bổ sung thông tin "nơi sinh" từ ngày 01/01/2023". bocongan.gov.vn. ngày 1 tháng 1 năm 2023.
  33. ^ "Từ 1/1/2023, hộ chiếu tách "họ", "chữ đệm và tên" thành 2 dòng". Báo điện tử Dân Trí. ngày 31 tháng 12 năm 2022.
  34. ^ Mukherjee, Soham (ngày 7 tháng 11 năm 2025). "'My mum didn't like it!' – Man Utd star Harry Maguire reveals how childhood nickname led to legally changing his birth name". Goal.
  35. ^ "FIDE World Top Chess players". International Chess Federation (FIDE) (bằng tiếng Anh).
  36. ^ VnExpress (ngày 22 tháng 6 năm 2020). "Giáo sư Mỹ bị đình chỉ vì kỳ thị tên của nữ sinh gốc Việt". vnexpress.net. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2025.
  37. ^ "Le, Quang Liem FIDE Chess Profile". International Chess Federation (FIDE).
  38. ^ "Ánh Viên về chót ở lượt bơi loại 400m tự do Olympic 2016". vnexpress.net. ngày 8 tháng 8 năm 2016.
  39. ^ "Ánh Viên về cuối vòng loại 800 m tự do". vnexpress.net. ngày 29 tháng 7 năm 2021.
  40. ^ Olympic Winter Games - Milano Cortina 2026 - Language Guidelines & Participant Names
  41. ^ "Olympic Data Feed". odf.olympictech.org.
  42. ^ "Thất bại trước Lin Dan, Tiến Minh chia tay Olympic 2016". vnexpress.net. ngày 14 tháng 8 năm 2016.
  43. ^ BWF TV (ngày 10 tháng 8 năm 2013). L.Dan v Nguyen T.M. |MS-SF| BWF World Champ. 2013 – qua YouTube.
  44. ^ BWF TV (ngày 19 tháng 8 năm 2019). R64 | MS | LIN Dan (CHN) [11] vs. NGUYEN Tien Minh (VIE) | BWF 2019 – qua YouTube.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Tên cá nhân trong các nền văn hóa khác nhau